Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Rủi ro ngắn hạn

Rủi ro ngắn hạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

mức 2-3 được xem là tốt. Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn

đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh tốn hiện hành

q cao cũng khơng ln là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp

bị cột chặt vào “ tài sản lưu động” quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản

của doanh nghiệp là không cao.





Chỉ số thanh toán nhanh ( quick ratio): Chỉ số thanh toán nhanh đo lường mức

thanh khoản cao hơn. Chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để

tính tốn. Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác được bỏ ra vì khi cần tiền để trả

nợ, tính thanh khoản của chúng rất thấp.







Chỉ sớ tiền mặt (Chỉ số thanh toán tức thời): Chỉ số tiền mặt cho biết bao nhiêu tiền

mặt và chứng khoán khả mại của doanh nghiệp để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn.

Nói cách khác nó cho biết, cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền mặt và

chứng khoán khả mại đảm bảo chi trả



Các chỉ số trên của tập đồn Hòa Phát được trình bày cụ thể như sau:



Nhận xét:

Nhìn chung thì cả 3 chỉ số thể hiện khả năng thanh khoản của cơng ty Hòa Phát đều khá

khả quan khi chỉ số thanh toán hiện hành nằm ở mức lý tưởng từ 1 – 2, tỷ số thanh toán nhanh và

thanh toán hiện thời đều lớn hơn 0 và thuộc khoảng 0,1 - 1. Điều này cho thấy rằng doanh



nghiệp ln ở trong tình trạng đủ khả năng để thanh toán các khoán nợ ngắn hạn mà khơng gặp

khó khăn thanh khoản.

Tuy nhiên năm 2018 lại là năm có 3 chỉ số này đạt giá trị thấp nhất so với những năm còn

lại. Nguyên nhân chính là do vào năm này, khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp tăng lên khá

nhiều, khoảng 4116 tỷ đồng (tức 22,2%) so với năm 2017.

Về mặt thanh khoản, mặc dù Đại Thiên Lộc và Hoa Sen vẫn đảm bảo khả năng chi trả

những khoản nợ của mình với tỷ số thanh toán hiện hành thuộc khoảng trên dưới 1, tỷ số thanh

toán nhanh thuộc khoảng 0,1 – 0,4 và tỷ số thanh toán hiện thời nằm trong khoảng 0,02 – 0,05.

Tuy nhiên nếu so sánh với Hòa Phát thì ta vẫn thấy được sự vượt trội hơn hẳn của cơng ty so với

hai doanh nghiệp cùng ngành. Chính vì vậy mà các nhà đầu tư có thể tự tin về mức độ rủi ro thấp

khi đầu tư vào HPG.



Tuy nhiên, việc duy trì một mức thanh khoản quá cao cũng chưa hẳn đã là điều tốt. Bởi vì

lúc đó chính là lúc mà doanh nghiệp đang khơng tận dụng được số vốn của mình, khiến cho vốn

nhàn rỡi và ứ đọng q nhiều. Chính vì vậy mà cơng ty Hòa Phát cũng cần có sự cân nhắc cũng

như quản lý lại những khoản tiền, tài sản ngắn hạn để sử dụng vốn một cách hiệu quả hơn.

b) Khả năng tạo tiền

Khả năng tạo tiền của doanh nghiệp được thể qua chỉ tiêu Hệ số dòng tiền trên nợ ngắn

hạn. Chỉ tiêu này giúp phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở trạng thái động.

Hệ số dòng tiền trên nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Hòa Phát trong giai đoạn 2014 – 2018

cụ thể:



Nhận xét:

Ta có thể thấy rằng các khoản nợ ngắn hạn bình quân của doanh nghiệp ln được đảm

bảo bằng khống 0,3 – 0,6 đồng tiền thuần đến từ hoạt động kinh doanh. Điều này cho biết tự bản

thân Hòa Phát vẫn đủ khả năng để thanh tốn các khoản nợ của mình mà khơng cần nhờ đến

những nguồn tài trợ khác của doanh nghiệp. Chính điều này làm cho việc đầu tư ngắn hạn vào

HPG là khá ít rủi ro.

Năm 2016 chính là năm có sự tăng trưởng đột biến của hệ số dòng tiền trên nợ ngắn hạn

trong toàn bộ giai đoạn từ 2014 – 2018. Nguyên nhân dễ hiểu là do lượng tiền thuần từ hoạt động

kinh doanh của công ty tăng khoảng 2276 tỷ đồng (tức 50,1%) so với 2015. Mặc dù khoản tiền

thuần thu từ hoạt động kinh doanh vào năm 2018 mới là lớn nhất, đạt 7642 tỷ đồng, tuy nhiên

khoản nợ ngắn hạn bình quân cũng là cao nhất khoảng 20578 tỷ đồng nên đã làm giảm đi đáng kể

hệ số này.



Nếu đặt lên bàn cân so sánh, khả năng tự mình thanh tốn các khoản nợ của doanh nghiệp

Hòa Phát cũng là khá cao đối với DTL và HSG khi mà cả 2 công ty cùng ngành này đều có

những năm đạt giá trị âm cho hệ số dòng tiền trên nợ ngắn hạn.

c) Chu kì vận động của vớn

Chu kì vận động của vốn là nhanh hay chậm cũng là một chỉ tiêu giúp phần nào đánh giá

mức độ rủi ro ngắn hạn của một doanh nghiệp.

Đối với cơng ty Hòa Phát:



Nhận xét:

Độ dài chu kì vận động vốn của Hòa Phát thuộc khoảng trên dưới 2 tháng đến 3 tháng.

Nếu như trong 3 năm từ 2015 – 2017, chỉ tiêu này của doanh nghiệp là khá xấp xỉ nhau

thì đến năm 2018, Hòa Phát chỉ mất khoảng 60 ngày để bắt đầu lại vòng quay vốn của mình.

Ngun nhân chính là do bên cạnh việc cắt giảm được thời gian lưu kho bình quân khoảng gần 1

tuần so với năm 2017, doanh nghiệp còn chiếm dụng được vốn của các nhà cung ứng nguyên vật

liệu khi tăng kì trả tiền bình quân lên khoảng 20 ngày so với năm ngoái.



Nếu như so với Đại Thiên Lộc – một doanh nghiệp mất khoảng hơn 5 tháng để bắt đầu lại

một chu kỳ vận động vốn thì Hòa Phát vẫn có ưu thế hơn về mức độ rủi ro thấp. Tuy nhiên nếu so

với HSG thì mặc dù xấp xỉ nhau về chu kì vận động vốn, nhưng Hòa Phát lại có vẻ kém hơn HSG



ở khoản thời gian lưu kho bình quân và kì thu tiền bình qn. Chính vì vậy doanh nghiệp nên

xem xét lại các đơn đặt hàng của mình để có một mức thời gian lưu kho phù hợp, cũng như đưa

ra các chính sách ưu đãi chiết khấu cho những khách hàng ln nhanh chóng trong việc trả tiền

để cắt giảm bớt thời gian thu tiền bình quân.

2. Rủi ro dài hạn

a) Khả năng thanh tốn gớc vay nợ dài hạn

Khả năng này được thể hiện qua các tỷ số cấu trúc vốn của doanh nghiệp, gồm:



Nhận xét:





Tỷ số nợ trên tổng nguồn vốn:



Tỷ số này của doanh nghiệp Hòa Phát là khá đồng đều qua các năm khi luôn giữ ổn đinh

ở mức 0,4. So với hai công ty cùng ngành là DTL đạt 0,6 và HSG đạt 0,6 – 0,7, thì chỉ số này của

doanh nghiệp Hòa Phát lại tỏ vẻ khiêm tốn hơn.

Mặc dù điều này có nghĩa rằng đầu tư vào HPG sẽ ít rủi ro vì giá trị các khoản nợ chiếm

một phần nhỏ hơn trong tổng nguồn vốn của công ty so với 2 doanh nghiệp còn lại, tuy nhiên nó



cũng thể hiện rằng HPG có thể đang không biết vay nợ từ nguồn nào hoặc chưa tính đến việc sử

dụng nợ như lá chắn thuế.





Tỷ số vốn cổ phần trên tổng nguồn vốn:



Tỷ số này cho biết tổng nguồn vốn được tài trợ bao nhiêu phần trăm bởi các cổ đông.

Trong giai đoạn từ 2014 – 2018, tỷ số này của Hòa Phát đa số là ở mức 0,5. Tuy nhiên vào năm

2017, con số này là 0,61 cao hơn so với những năm còn lại. Nguyên nhân chính là do chỉ tiêu vốn

chủ sở hữu vào năm này đã đạt mức tăng trưởng đáng kể là 12548 tỷ đồng (tức 63,2%) so với

2016.

Đối với chỉ tiêu này thì 2 doanh nghiệp DTL và HSG thấp hơn rất nhiều so với Hòa Phát,

chỉ đạt lần lượt từ 0,3 – 0,4 và 0,2 – 0,3.





Tỷ số tổng nợ trên vốn cổ phần:



Chỉ số này của HPG lại có nhiều biến động qua từng năm. Năm 2016 ghi nhận giá trị thấp

nhất là 0,64 và năm 2019 ghi nhân giá trị cao nhất là 0,93.

Tỷ số tổng nợ trên vốn cổ phần của HPG có giá trị khá thấp so với 2 doanh nghiệp là DTL

và HSG. Điều này cũng cho thấy rằng việc đầu tư vào doanh nghiệp HPG sẽ có độ rủi ro thấp

hơn khi HPG ít phụ thuộc hơn vào hình thức huy động vốn bằng cách vay nợ. Tuy nhiên chính vì

vậy mà HPG sẽ ít có khả năng tận dụng được lợi thế của lá chắn thuế hơn so với 2 doanh nghiệp

còn lại





Tỷ số nợ ngắn hạn so với tổng nợ:



Nếu như từ năm 2014 – 2017, con số này luôn đạt giá trị xấp xỉ 0,9 thì năm 2018 lại chỉ

được ghi nhận với giá trị 0,6. Nguyên nhân chính là do sự tăng đột biến của khoản tổng nợ phải

trả là 16975 tỷ đồng (tức 82,3%) so với năm trước.

Trong khi DTL ln duy trì một mức nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng nợ là

0,91 thì HSG thì ln giữ nó ở mức 0,74 – 0,83, khá thấp so với HPG.





Tỷ số nợ phải trả trên tài sản đảm bảo:



Chỉ số này cho biết khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp và đối với Hòa Phát thì nó

ln nằm trong khoảng trên dưới 0,4 đồng đều qua các năm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Rủi ro ngắn hạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×