Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đọc kết quả CMHQ

Đọc kết quả CMHQ

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



thụ động giữa võng mạc và hắc mạc. Ở trạng thái bình thường, BMSTVM ngăn ngừa sự rò rỉ

hoặc vận chuyển fluorescein vào hoặc ra khoảng gian mạch hắc mạc.

Lớp BMSTVM cũng hoạt động như là rào cản thị giác bởi vì có sự hiện diện của các

hạt melanin nhuộm sắc tố. Mật độ của các hạt sắc tố này cũng thay đổi tùy vào vị trí võng

mạc: các hạt tập trung nhiều nhất tại khu vực lỗ trung tâm hoàng điểm và thưa dần ở các khu

vực ngoại biên của nhãn cầu. Điều này là do số lượng tế bào biểu mô nhuộm sắc tố trên một

đơn vị diện tích tại khu vực lỗ trung tâm hồng điểm hơn so với các vùng xung quanh.

Ngoài ra ở vùng sau nhãn cầu, các tế bào của BMSTVM có dạng que, do đó chứa nhiều lớp

hạt melanin tụ tập với nhau. Còn phần trước nhãn cầu, các tế bào dẹt dần và có dạng khối do

đó cũng mất nhiều hạt sắc tố. Ở mắt bình thường, tại khu vực lỗ trung tâm hồng điểm

thường ít phát huỳnh quang hơn so với các vùng còn lại.

5.1.3. Võng mạc



Võng mạc, nếu khơng có hệ mạch máu của nó, có thể được xem như là một mô trong

suốt bao gồm nhiều lớp tế bào đan chặt vào nhau và khơng có khoảng gian bào. Võng mạc

được tưới máu bởi động mạch trung tâm võng mạc và các mạch mi võng mạc ( chỉ có 32%

số mắt ở người là có động mạch mi võng mạc[3]). Mạng mao mạch võng mạc khơng có lỗ vì

vậy fluorescein khơng thể thốt ra từ mạch máu võng mạc vào các mô xung quanh. Về mặt

chức năng, hệ mạch võng mạc là một hệ đóng, trái ngược với hắc mạc trong đó fluorescein

tự do di chuyển giữa các khoang nội mạch và ngoại mạch. Thông thường fluorescein sẽ đi

vào hệ mạch võng mạc sau hệ mạch của hắc mạc, nhưng fluorescein có thể đi vào động

mạch mi võng mạc cùng lúc với hệ mạch của hắc mạc.

5.2. Hình ảnh CMHQ bình thường

Thuốc nhuộm sau khi tiêm nhanh vào tĩnh mạch cẳng tay sẽ chạy đến phổi và tim và

sau đó quay trở lại tim. Khoảng 10 -15 giây sau thuốc nhuộm mới chảy đến mắt thông qua

động mạch mi sau ngắn để vào hắc mạc.

Một chu trình lưu chuyển bình thường của fluorescein trong tuần hồn mắt có thể

được chia thành các thì sau: thì tiền động mạch, thì động mạch, thì động tĩnh mạch sớm, thì

động tĩnh mạch, thì thốt mạch và thì cuối.

5.2.1. Thì tiền động mạch



11



Thì tiền động mạch còn được gọi là thì hắc mạc vì ở thì này fluorescein sẽ đi vào hệ

mạch của hắc mạc. Thì hắc mạc khởi đầu khoảng 10 -12 giây sau khi tiêm thuốc nhuộm. Đối

với người lớn tuổi thời gian này có thể dài hơn khoảng 12 -15 giây.

Fluorescein sẽ đi vào hệ mạch hắc mạc thông qua động mạch mi sau. Ở người có rất

ít sắc tố ở đáy mắt, có thể nhìn thấy rõ các mạch máu hắc mạc chứa fluorescein. Từ động

mạch mi sau, fluorescein sẽ chảy dần về phía mạng mao mạch của hắc mạc. Hiện tượng

mạng mao mạch chứa đầy fluorescein khi đó sẽ được gọi là dòng thác nền hắc mạc. Sau đó

fluorescein tiếp tục chảy vào tĩnh mạch hắc mạc và cuối cùng thốt ra ngồi hắc mạc. Trong

thì này, đa số trường hợp chỉ có thể chụp được hình ảnh khi fluorescein từ động mạch mi sau

đi vào vác tiểu động mạch hắc mạc và tiến dần về phía mạng mao mạch hắc mạc. Quá trình

fluorescein đi vào tĩnh mạch và thốt ra thường khó có thể ghi hình vì ở hầu hết bệnh nhân

lớp BMSTVM và võng mạc đã che lấp hiện tượng phát huỳnh quang của hắc mạc.



12



Hình 5.4. Thì tiền động mạch. Hình 1. Các tiểu động mạch lớn và vừa của hắc mạc phát

huỳnh quang trên nền đáy mắt. Hình 2. Fluorescein tràn vào mạng mao mạch của hắc mạc.

Hình 3 - 4. Fluorescein tràn vào tĩnh mạch hắc mạc. Hình 5. Fluorescein thốt dần ra khỏi

hệ mạch hắc mạc. Hình 6. Fluorescein thốt ra khỏi hồn tồn hệ mạch hắc mạc.

(Nguồn:http://www.oculist.net/downaton502/prof/ebook/duanes/pages/v3/v3c004.html)

5.2.2. Thì động mạch

Xảy ra 1 - 3 giây sau khi hắc mạc phát huỳnh quang trong thì tiền động mạch. Trong

giai đoạn này fluorescein bắt đầu tràn vào động mạch trung tâm võng mạc và tiến dần về

phía mạng mao mạch võng mạc và tĩnh mạch trung tâm võng mạc.



Hình 5.5. Thì động mạch. Động mạch trung tâm võng mạc phát huỳnh quang

(Nguồn: Elsevier items and derived items 2005 by Elsevier Inc)

5.2.3. Thì động tĩnh mạch sớm

Trong giai đoạn này fluorescein tiếp tục tràn vào tĩnh mạch võng mạc từ các mao

mạch võng mạc và chạy dọc theo thành tĩnh mạch võng mạc tạo thành hiện tượng dòng chảy

dạng phiến lá. Hiện tượng này xảy ra là do tốc độ dòng máu ở trung tâm mạch luôn nhanh

và mạnh hơn so với hai bên thành mạch, do đó fluorescein sẽ dạt về hai phía thành mạch gây

ra hiện tượng dòng chảy dạng phiến lá. Theo thời gian, fluorescein sẽ tập trung lại tại thành

tĩnh mạch võng mạc làm cho thành mạch trở nên dày hơn khi phát huỳnh quang.



13



Hình 5.6 Thì động tĩnh mạch sớm. Fluorescein chảy dọc thành tĩnh mạch võng mạc theo

kiểu dòng chảy dạng phiến lá

(Nguồn: Elsevier items and derived items 2005 by Elsevier Inc)

5.2.4. Thì động tĩnh mạch

Trong thì này, fluorescein đã tràn hoàn toàn vào các khoang của mạng mao mạch và

tĩnh mạch võng mạc. Khi đó, mạng mao mạch tại vùng ngoại biên hoàng điểm sẽ phát huỳnh

quang rõ nhất vào giây thứ 20 -25 sau khi tiêm fluorescein vì khi đó nồng độ của thuốc

nhuộm đạt tối đa. Khu vực tại hồng điểm lại có hiện tượng giảm phát huỳnh quang bởi vì

khơng có mạch máu trong vùng hồng điểm.



Hình 5.7. Thì động tĩnh mạch. Fluorescein chảy hoàn toàn vào các khoang tĩnh mạch võng mạc



(Nguồn: Elsevier items and derived items 2005 by Elsevier Inc)

5.2.5. Thì thốt mạch và thì cuối

Thì thốt mạch bắt đầu 30 giây sau khi tiêm thuốc nhuộm. Khi đó hiện tượng phát

huỳnh quang trong tĩnh mạch giảm dần do nồng độ fluorescein khơng còn cao như lúc đầu.



14



Trong thì cuối hệ mạch của võng mạc hồn tồn khơng còn thuốc nhuộm sau 10 phút

tiêm thuốc. Mặc dù vậy, gai thị vẫn còn hiện tượng tăng phát huỳnh quang do đã thẩm

nhuộm fluorescein.



Hình 5.8. Thì thốt mạch và thì cuối. Fluorescein thốt hồn tồn khỏi các mạch

máu võng mạc. Chỉ còn gai thị phát huỳnh quang do thẩm nhuộm fluorescein.

(Nguồn: Elsevier items and derived items 2005 by Elsevier Inc)

5.3. Hình ảnh CMHQ bất thường

Các kiểu hình ảnh bất thường trong CMHQ là do sự phá vỡ mối quan hệ về giải phẫu

học của hắc mạc, BMSTVM và võng mạc tạo thành các thể bệnh lý võng mạc. Các nhà khoa

học sử dụng thuật ngữ tăng phát huỳnh quang và giảm phát huỳnh quang để chỉ các tình

trạng bệnh lý này.

5.3.1. Tăng phát huỳnh quang

Tăng phát huỳnh quang có thể do sự hiện diện bất thường của fluorescein tại một vị

trí mà trước đây fluorescein khơng có (ví dụ trong bệnh lý bong lớp BMSTVM hoặc bệnh lý

tân sinh mạch máu võng mạc), hoặc nồng độ fluorescein đột ngột tăng cao tại vị trí mà trước

đó có nồng độ bình thường (ví dụ bệnh lý bướu võng mạc hay hắc mạc) hoặc do hiện tượng

phát huỳnh quang không bị chắn dẫn đến tăng cường độ phát (ví dụ bệnh lý khiếm khuyết

BMSTVM). Tăng phát huỳnh quang có thể biểu hiện thành các dạng sau đây:

Khiếm khuyết dạng cửa sổ

Trong trường hợp lớp BMSTVM bị tổn thương, số lượng các biểu mô sắc tố sẽ giảm

xuống hoặc trường hợp lớp BMSTVM mất hẳn thì hiện tượng phát huỳnh quang của hắc

mạc sẽ không bị cản trở. Khi đó hình ảnh trên phim X quang xuất hiện các drusen trắng tập



15



trung lại với nhau tạo thành khiếm khuyết dạng cửa sổ nhỏ. Hình ảnh này sẽ xuất hiện trong

thì tiền động mạch khi hệ mạch hắc mạc phát huỳnh quang. Sau đó hình ảnh này sẽ giảm

dần tương ứng với nồng độ fluorescein thoát dần khỏi hệ mạch hắc mạc.

Rò rỉ fluorescein

Rò rỉ fluorescein có thể xảy ra ở mạch máu võng mạc hay hắc mạc. Từ vị trí rò rỉ,

fluorescein thấm dần vào các mơ xung quanh và hiện tượng này xảy ra xuyên suốt q trình

CMHQ. Hình ảnh rò rỉ fluorescein còn có thể bắt gặp tại vị trí của các mạch tân sinh. Hiện

tượng tân sinh mạch máu có thể bắt gặp ở nhiều bệnh lý (chẳng hạn bệnh tắc nghẽn tĩnh

mạch, hoặc bệnh võng mạc do đái tháo đường). Hình ảnh các tân mạch tăng phát huỳnh

quang có thể xảy ra trong thì sớm hoặc thì cuối của chu trình tuần hồn của fluorescein trong

mắt.

Trong một số trường hợp tổn thương do viêm nhiễm hoặc viêm mạch máu, hiện

tượng rò rỉ fluorescein khơng chỉ xảy ra ở võng mạc mà còn có thể ở cả khoang dịch kính.

Trong các trường hợp phù gai thị hoặc viêm thần kinh, tại vị trí đầu các dây thần kinh thị

cũng có hiện tượng rò rỉ fluorescein trong thì cuối.

Thẩm nhuận fluorescein



16



Trong thì cuối của quá trình CMHQ, có thể bắt gặp hiện tượng tăng phát huỳnh quang

của một số tổ chức bình thường ở đáy mắt như gai thị hoặc củng mạc mắt. Đó là do các tổ

chức này đã thẩm nhuộm hoàn toàn fluorescein khi fluorescein thoát ra khỏi hệ mạch của

mắt. Hiện tượng thẩm nhuận fluorescein sẽ xảy ra dễ dàng hơn ở bệnh nhân bị cận thị nặng,

hoặc có thẹo hồng điểm dạng đĩa, thối hóa hắc mạc, hoặc bệnh hắc mạc bò lan.

Tích tụ fluorescein

Tích tụ fluorescein xảy ra khi thuốc nhuộm tích tụ trong các khoảng khơng gian đóng

và thường xảy ra trong các tổn thương như bong biểu mô sắc tố hoặc bệnh hắc mạc trung

tâm. Trong các trường hợp này, các khoảng không gian giải phẩu sẽ được lấp đầy thuốc

nhuộm từ từ trong suốt quá trình CMHQ và duy trì tăng phát huỳnh quang sau khi đã kết

thúc chụp mạch (ví dụ bệnh lý phù nề hồng điểm dạng nang). Sự khác biệt giữa rò rỉ và tích

tụ fluorescein ở chỗ một khi đã tràn đầy các khoảng khơng gian thì fluorescein sẽ khơng tiếp

tục tràn vào các khoảng không gian này.

5.3.2. Giảm phát huỳnh quang

Hiện tượng giảm phát huỳnh quang có thể là do nồng độ fluorescein giảm đi hoặc mất

hẳn tại những vị trí mà bình thường ln có sự hiện diện của fluorescein.

Hiệu ứng chắn

Hiệu ứng chắn xảy ra khi sự lưu chuyển của fluorescein bị chặn lại do một tình trạng

bệnh lý chèn ép (ví dụ xuất huyết võng mạc). Khi một tổn thương bệnh lý đè lên cấu trúc

bình thường, nó chặn lại hiện tượng phát huỳnh quang tại vị trí bị đè nén. Mức độ phát

huỳnh quang bị chắn sẽ được dùng để đo lường độ nông sâu của các tổn thương tại nơi bị

chắn.

Nếu tổn thương xảy ra trong các lớp võng mạc, nó sẽ chắn hiện tượng phát huỳnh

quang của hệ mạch hắc mạc. Còn nếu tổn thương xảy ra ở phần trên võng mạc thì nó sẽ chắn

hiện tượng phát huỳnh quang của võng mạc và hắc mạc. Khi đó kết quả CMHQ sẽ gọi là

phát huỳnh quang âm tính.

Khiếm khuyết về tưới máu



17



Các tổn thương võng mạc hoặc hắc mạc có thể gây ra khiến khuyết trong tưới máu

các vùng võng mạc hoặc hắc mạc. Tổn thương hệ mạch võng mạc có thể gây khiếm khuyết

tưới máu một phần (tĩnh mạch hoặc động mạch) hay toàn bộ hệ mạch võng mạc (cả động

mạch và tĩnh mạch). Nếu tổn thương xảy ra ở hắc mạc thì khó có thể phát hiện được sự

khiếm khuyết tưới máu bằng CMHQ. Các khu vực khơng được tưới máu có thể chỉ khu trú

hoặc lan rộng. Ví dụ trong trường hợp bệnh tắc nghẽn động mạch trung tâm võng mạc,

khiếm khuyết tưới máu có thể chỉ xảy ra một phần nhỏ nếu cục máu đơng gây chẹn tưới máu

tại mao mạch còn nếu xảy ra tại động mạch trung tâm thì có thể gây khiếm khuyết tưới máu

cho một vùng mạch rộng lớn.

5.3.3. Tự phát quang

Tự phát huỳnh quang không phải là một hiện tượng bệnh lý trong CMHQ. Một số tổn

thương tại hắc mạc hoặc võng mạc (chẳng hạn trong bệnh lý drusen thần kinh thị bị thối

hóa, u mơ thừa dạng hình sao hoặc dư thừa lipofucin) có thể tự phát huỳnh quang mặc dù

fluorescein không được tiêm vào cơ thể. Khi đó chúng cũng phát ra các ánh sáng vàng –

xanh lá nếu bị kích thích bởi ánh sáng có bước sóng phù hợp. Các tổn thương này thường

được phát hiện ngay trước khi tiêm fluorescein vào cơ thể.

5.3.4. Phát huỳnh quang giả

Phát huỳnh quang giả thì sớm

Hiện tượng chồng đè bước sóng giữa nguồn sáng kích thích và các bộ lọc sáng trong

q trình chụp ảnh có thể gây ra một số cấu trúc trắng hoặc sáng lên tạo ra hiện tượng phát

huỳnh quang giả. Hiện nay với kỹ thuật y học tiến bộ, hiện tượng chồng đè bước sóng hầu

như khơng còn xảy ra, tuy nhiên chúng ta cũng không nên loại trừ khả năng này khi đọc kết

quả CMHQ.

Phát quang giả thì muộn

Hiện tượng phát huỳnh quang giả thì muộn có thể xảy ra tại đáy mắt trong trường hợp

fluorescein thẩm nhuộm vào cả dịch kích của mắt.

6. Sơ lược về bệnh tắc mạch võng mạc

Bệnh tắc mạch võng mạc là bệnh lý xảy ra do sự tắc nghẽn máu chảy trong động

mạch hoặc tĩnh mạch võng mạc. Sự tắc nghẽn này thường xảy ra chỉ ở một mắt, và có thể



18



dẫn đến hậu quả là xuất huyết võng mạc, phù nề võng mạc, tân sinh các mạch máu bất

thường, gây mờ hoặc giảm thị lực đột ngột ở bệnh nhân, và thậm chí gây chết tế bào võng

mạc.

Căn cứ vào loại mạch máu bị tắc nghẽn có thể chia bệnh tắc mạch võng mạc thành tắc

động mạch hay tĩnh mạch võng mạc và dựa vào vị trí tắc có thể chia thành tắc mạch trung

tâm hoặc mạch nhánh. Như vậy có thể có 4 loại tắc mạch võng mạc chính bao gồm tắc động

mạch trung tâm võng mạc, tắc động mạch nhánh võng mạc, tắc tĩnh mạch trung tâm võng

mạc và tắc tĩnh mạch nhánh võng mạc. Trong các dạng này tắc tĩnh mạch võng mạc là dạng

phổ biến nhất trong khi tắc động mạch trung tâm võng mạc chỉ được ghi nhận 1/10000

trường hợp bị bệnh mắt.

6.1. Tắc động mạch võng mạc

6.1.1. Tắc động mạch trung tâm võng mạc

Khi động mạch trung tâm võng mạc bị chẹn bởi cục máu đông hoặc mảng xơ vữa,

máu sẽ không thể chảy đến võng mạc gây ra hiện tượng mất thị lực đột ngột, và thường chỉ

xảy ra ở một bên mắt bệnh nhân. Mặc dù không gây đau đớn nhưng tình trạng này tương tự

như tình trạng xảy ra ở não trong cơn đột quỵ. Nếu máu khơng chảy vào võng mạc trong

vòng 90 phút thì võng mạc sẽ có thể bị tổn thương khơng thể phục hồi. Hậu quả là bệnh

nhân có thể bị mất thị lực mức độ nặng hoặc mất thị lực suốt đời.

6.1.2. Tắc động mạch nhánh võng mạc

Tắc động mạch nhánh võng mạc cũng do cục máu đông hoặc mảng xơ vữa gây ra, chỉ

có điều xảy ra tại các nhánh động mạch võng mạc. Bệnh nhân sẽ khiếm khuyết thị lực một

phần hoặc đột ngột mất hẳn thị lực nếu điểm tắc nghẽn xảy ra ngay tại khu vực hoàng điểm.

Thị lực bệnh nhân từ 20/20 có thể giảm xuống chỉ còn thấy cử động bàn tay. Tắc động mạch

nhánh võng mạc có thể đi kèm với tắc tĩnh mạch nhánh võng mạc, tăng huyết áp và các tình

trạng bất thường khác liên quan đến mạch máu võng mạc. Hiện nay chưa có hướng xử trí cụ

thể đối với các trường hợp tắc động mạch nhánh võng mạc.

Bệnh lý tắc nghẽn động mạch võng mạc thường xảy ra ở những đối tượng có các tình

trạng bệnh lý sau đây:





Bệnh động mạch cảnh



19



















Đái tháo đường

Các vấn đề về nhịp tim

Các vấn đề về van tim

Nồng độ mỡ cao trong máu

Huyết áp cao

Lạm dụng thuốc tiêm tĩnh mạch

Viêm động mạch tạm thời

6.2. Tắc tĩnh mạch võng mạc

Tắc tĩnh mạch võng mạc là dạng bệnh lý tắc mạch võng mạc phổ biến nhất sau bệnh



võng mạc do đái tháo đường. Tùy thuộc vào vị trí tắc mạch, tắc tĩnh mạch võng mạc được

phân thành hai dạng chính là tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc và tắc tĩnh mạch nhánh võng

mạc

6.2.1. Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc

Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc giống như tắc động mạch trung tâm võng mạc xảy

ra khi mạch máu nuôi võng mạc bị chẹn bởi cục máu đông. Sự ứ đọng máu tại tĩnh mạch

trung tâm sẽ làm cho động mạch trung tâm võng mạc ngừng bơm máu đến võng mạc dẫn

đến mất tuần hoàn võng mạc từ đó gây ra các tổn thương võng mạc. Các tổn thương này dẫn

đến mất thị lực của bệnh nhân, tân sinh các mạch máu gây xuất huyết võng mạc và một số

thể bệnh lý khác.

6.2.2. Tắc tĩnh mạch nhánh võng mạc

Tắc tĩnh mạch nhánh võng mạc thường xảy ra tại giao điểm giữa động tĩnh mạch, là

dạng phổ biến nhất của tắc mạch võng mạc. Tại các giao điểm này, động mạch và tĩnh mạch

có một số điểm chung về cấu tạo thành mạch. Ở mắt người khỏe mạnh, tại 2/3 số giao điểm

động tĩnh mạch, thì động mạch ln nằm trên tĩnh mạch, trong khi đó ở mắt người bị tắc

nghẽn tĩnh mạch võng mạc thì 100% số giai điểm động mạch luôn nằm trên tĩnh mạch. Khi

đó, tĩnh mạch sẽ bị động mạch chèn ép dẫn đến rối loạn dòng chảy của máu, tổn thương lớp

màng trong mạch máu, gây huyết khối và tắc nghẽn. 63% các trường hợp tắc tĩnh mạch

nhánh võng mạc xảy ra ở góc phần tư thái dương trên, vì số lượng các cầu nối động tĩnh

mạch tập trung nhiều tại góc phần tư này.

Tắc tĩnh mạch nhánh võng mạc thường xảy ra ở độ tuổi trung bình là 60. Số liệu dịch

tễ học cho biết số hiện mắc và số mắc mới trong vòng 5 năm của bệnh đều là 0,6%. Bệnh



20



cũng gắn liền với nhiều tình trạng bệnh lý toàn thân và bệnh lý mắt khác. Một nghiên cứu

cho thấy đái tháo đường, bệnh tim mạch, chỉ số BMI tăng cao ở tuổi 20, tiền sử tăng nhãn

áp, và nồng độ α-2 glubulin cao là những yếu tố nguy cơ của bệnh trong khi việc uống rượu

bia điều độ, và nồng độ HDL cao lại là các yếu tố làm giảm nguy cơ mắc bệnh.

Về triệu chứng lâm sàng, bệnh nhân có thể khai báo là giảm thị lực hoặc khơng có

triệu chứng. Mất thị lực thường liên quan đến mức độ tổn thương hoàng điểm do phù nề nội

võng mạc, xuất huyết hoặc thiếu tưới máu mao mạch.

7. Hình ảnh CMHQ trong tắc mạch võng mạc

7.1. Tắc động mạch võng mạc

Trong các trường hợp tắc động mạch trung tâm võng mạc, thời gian máu tưới vào

động mạch, thậm chí thời gian máu đi từ động mạch sang tĩnh mạch võng mạc cũng chậm

lại. Dưới hình ảnh CMHQ, fluorescein sẽ đứt quãng và tạo thành dạng hộp xếp chồng trong

các khoang động mạch và tĩnh mạch bị tắc nghẽn. Trong các trường hợp tắc động mạch

trung tâm võng mạc cấp tính, thì hiện tượng rò rỉ fluorescein trong nội mạch ở thì cuối

khơng thể phát hiện được.



Hình 6.10. A. Ảnh đáy mắt ở bệnh nhân tắc động mạch trung tâm võng mạc có hiện tượng tân sinh

mạch ở mống mắt. Võng mạc xuất hiện màu xanh nhợt nhạt. Động mạch võng mạc bị thu hẹp và tưới máu ít

đi với cột máu trong nội mạch có hình các hộp xếp chồng lên nhau. B. Chụp mạch huỳnh quang của A cho

thấy sự tưới máu của hắc mạc bên dưới và một bờ thuốc nhuộm hiện diện trong động mạch võng mạc.

(Nguồn: http://www.oculist.net/downaton502/prof/ebook/duanes/pages/v8/v8c113c.html)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đọc kết quả CMHQ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×