Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Vấn đề nghiên cứu và tổng quan khu vực nghiên cứu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Vấn đề nghiên cứu và tổng quan khu vực nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Tận dụng rác thải nhựa

Nhựa được dùng phổ biến đến mức hầu như chẳng ai để ý rằng đó là vật liệu tổng hợp,

gây hại cho sức khỏe và ảnh hưởng đến môi trường. Với những chai nhựa đã qua sử

dụng chúng thường bỏ đi hoặc tái sử dụng. Điều quan trọng là những vật liệu này tồn tại

rất lâu trong môi trường tự nhiên, trở thành một trong những loại rác thải khó xử lý hiện

nay. Đặc biệt, một số chai nhựa chứa chất hóa học độc hại có thể phát tán ra mơi trường

trong q trình tái chế, tái sử dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.

Nhiều người thắc mắc rằng nhựa được tái sinh như thế nào khi chúng ta bỏ vào thùng

rác, mang đến các trung tâm thu mua phế liệu… Quy trình tái sinh nhựa cần nhiều bước

để có thể biến nó thành vật phẩm hữu dụng khác. Tuy nhiên, cần lưu ý là chất lượng của

nhựa tái sinh ln có chiều hướng giảm dần. Điều này được hiểu rằng nhựa từ bao bì

nguyên sinh sẽ tái sinh thành loại sản phẩm khác chứ khơng được dùng cho cùng một

mục đích. Một trong những bước làm quan trọng đầu tiên là phân loại trong nhà máy.

Nhiều nơi chỉ chọn lọc một loại nhựa duy nhất trong các loại được thu gom, vì thế quy

trình đầu tiên là phân loại các vật liệu như giấy, nhựa, kẹp, kim loại… Tiếp theo là phân

loại nhựa và chọn lựa nhựa tái sinh. Việc này giúp giảm nhu cầu nhựa nguyên sinh, giảm

nhu cầu sử dụng nguồn tài ngun khác

 Có tính ứng dụng cao

Trên thực tế, nhựa tái chế mang tính ứng dụng cao, một số nơi có ý tưởng chế biến

nhựa phế thải thành dầu thô, tái chế thành thảm, chế biến dầu xanh từ nhựa phế thải…

Từ xa xưa, con người đã vận dụng tái sử dụng sắt vụn, đồng vụn trong sản xuất nông cụ

và vật dụng sinh hoạt. Một trong những loại vật liệu được tái chế phổ biến là nhựa

(plastic). Chúng được phân loại, thu gom, làm sạch sau đó đưa vào quy trình sản xuất tái

sinh.

Các ngun liệu sợi công nghiệp làm từ nhựa tái chế được dùng để tạo ra nhiều loại sản

phẩm khác nhau như quần áo, giày khăn tắm, chăn… Các vật liệu composite vốn được

xem là khó tái chế nhưng cơng nghệ mới phát triển đã ứng dụng nó cùng với thủy tinh

trong sản xuất gạch lát vỉa hè Những hoạt động này đã góp phần làm giảm giá thành và

giúp giải quyết vấn đề khan hiếm nguyên liệu sản xuất khi đó.

Ngày nay, vai trò tái chế càng trở nên quan trọng hơn bởi nó được xem như là nguồn

cung cấp nguyên, nhiên vật liệu giá rẻ. Đó được xem là nguồn khai thác vơ tận vì có sản

xuất là có rác thải, có cơ hộ cho tái chế. Đây còn là giải pháp hữu hiệu làm giảm chi phí

sản xuất, phí xử lý chất thải, hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, tái chế còn góp phần giảm

thiệt hại mơi trường do rác thải gây ra, giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng, đảm bảo sự

phát triển bền vững của xã hội Một trong những yếu tố quan trọng góp phần cho sự

thành cơng trong hoạt động tái chế chính là lợi nhuận. Bởi vì nguồn nguyên liệu đầu vào



rẻ, phong phú và được hưởng các chính sách khuyến khích của Nhà nước.

Theo dự đoán ở thị trường thế giới, nhựa tái chế sẽ tăng trưởng mạnh và bền vững

trong thời gian tới. Ngoài ra, xu hướng sử dụng, sản xuất vật liệu này ngày càng phổ biến

với lượng tăng trung bình 11% năm. So với các sản phẩm khác, nhựa tái chế khá mới mẻ

và ngày càng được ưa chuộng do đặc tính thân thiện với mơi trường. Đây cũng là cơ hội

tốt cho ngàng công nghiệp nhựa Việt Nam phát triền, đón đầu xu hướng mới.

1.1.2 Làng nghề tái chế nhựa và các vấn đề môi trường

1.1.1.1.



Giới thiệu chung về làng nghề tái chế nhựa



Số lượng làng nghề nhựa Việt Nam khơng nhiều, một số làng nghề điển hình như: Minh

Khai – Hưng Yên, Phú Xuyên – Hà Tây, Văn Khúc, Văn Giang – Hưng Yên, Triều Khúc, Trung

Văn – hà Nội và một số làng nghề tái chế nhựa ở miền trung và miền nam. Các làng nghề

đã giải quyết công ăn việc làm cho người dân từ khâu thu mua cho đến khâu phân loại

và xay sửa nguyên liệu cũng đã xử lý được lượng lớn nhựa phế thải. Trong những năm

gần đây, một số làng nghề nhựa đã phát triển nhanh chóng khơng những thu hút những

lao động trong làng mà còn thu hút nhiều lao động trong các vùng lân cận tham gia sản

xuất. Số lượng lao động như vậy nhiều hơn số công nhân của một nhà máy công nghiệp

quốc doanh cùng ngành quy mô nhỏ. Trang thiết bị cũng được đầu tư đáng kể để tạo ra

những mặt hàng đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Nguyên liệu sử dụng cho công nghệ tái chế nhựa chủ yếu là từ các loại nhựa phế liệu.

Chúng được thu gom từ nhiều địa phương như: Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn La

và khắp các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM.

Thông qua mạng lưới thu mua phế liệu các loại nguyên liệu này có nguồn gốc khác nhau

như:

-



Chất thải cơng nghiệp: tivi, radio, bao bì nơng nghiệp, bao bì vật tư nơng nghiệp…



-



Chất thải dịch vụ: chai dung dịch truyền, các loại túi nilon, can…



-



Chất thải sinh hoạt: các hộp đựng mỹ phẩm, chai đựng thực phẩm, nước uống…



Nhìn chung các loại chất thải này được thu gom thường được phân theo thành các

thành phần các loại nhựa: Nhựa HDPE, PP, PVC, PET…

Theo số liệu điều tra tại một số làng nghề tái chế nhựa điển hình thì thành phần và

lượng thu gom tái chế được thể hiện trong bảng 1.2



Bảng 1.1: Phân loại, kí hiệu và nguồn sử dụng nhựa [2]



Bảng 1.2: Thành phần, khối lượng nhựa thải tại các làng nghề [2]

Lượng nhựa thải thu gom, tái chế

TT



Các loại nhựa



Minh Khai



Triều Khúc



Trung Văn



Đại Thắng



tấn/năm



tấn/năm



tấn/năm



tấn/năm



1



LDPE



1.800



650



365



12



2



HDPE



2.520



1.200



472



100



3



PP



864



700



1.246



30



4



PS, PVC, PET



1.296



600



304



320



5



Tạp chất

Tổng cộng



1.1.1.2.



720



350



260



11



7.200



3.500



2.600



473



Tác động từ hoạt động sản xuất của làng nghề đến môi trường



Hầu hết các làng nghề tái chế nhựa ở nước ta hiện nay đều có quy trình sản xuất tương

đối đơn giản, dễ vận hành. Công nghệ sản xuất và thiết bị ở các làng nghề phần lớn đều

lạc hậu và chắp vá, thiết bị phần lớn đơn giản không đảm bảo được u cầu kỹ thuật, an

tồn và vệ sinh mơi trường. Vì vậy, ảnh hưởng lớn đến mơi trường xung quanh và sức

khỏe của người dân cụ thể như sau:

 Tác động tới mơi trường khơng khí

Trong cơng nghệ tái chế nhựa khí ơ nhiễm phát sinh trong cơng đoạn gia cơng nhiệt

trong q trình tạo hạt, đùn túi làm nhựa cháy sinh khí độc như HCL, CO. Ngồi ra q

trình phân hủy các hợp chất dính trên nhựa trong khâu thu gom cũng phát sinh ra khí ơ

nhiễm bụi cũng là chất ô nhiễm đáng quan tâm phát sinh từ các khâu xay nghiền, phơi,

thu gom và các cơ sở dùng than để gia nhiệt sản xuất.

 Tác động tới môi trường nước

Công nghệ tái chế nhựa ở mức cơ giới hóa cao đạt 60 – 70%. Tuy nhiên, do phần lớn

máy móc đã cụ tận dụng khơng đồng bộ hiệu quả sản xuất không cao và hầu như chưa

có hệ thống xử lý nước thải cho làng nghề nên hầu như tồn bộ nước thải của q trình

tái chế nhựa đều thải ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường nước.

Nước thải các làng nghề tái chế nhựa có hàm lượng các chất ơ nhiễm rất cao, trong

thành phần nước thải như COD vượt quá TCCP từ 4 – 5 lần đối với làng nghề Triều Khúc,

vượt 7 – 10 lần đối với làng nghề nhựa Minh Khai… Và hàm lượng các thông số BOD, DO,

TSS đều vượt quá TCCP từ 3 – 4 lần tại các làng nghề [1]

 Tác động tới sức khỏe cộng đồng

Làng nghề tái chế nhựa là một trong những nhóm làng nghề có hoạt động sản xuất có

tác hại nhiều nhất tới sức khỏe con người. Các yếu tố gây tác động trực tiếp tới sức khỏe

người lao động cũng như người dân sinh sống tại các khu vực lân cận là nhiệt độ, tiếng

ồn, hơi khí độc và chất thải rắn.

Bệnh phổ biến của nhóm làng nghề này chủ yếu là các bệnh về hô hấp, bụi phổi và bệnh



về thần kinh. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do sự phát thải khí độc, nguồn nhiệt cao

và bụi từ trong quá trình sản xuất tái chế nhựa.

1.1.3 Phân loại nhựa tái chế

 Nhựa bao bì

Đây là dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm 39% giá trị sản xuất và tỷ

trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam. Ngành hàng tiêu

dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là

yếu tố then chốt giúp ngành nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc. Bao bì nhựa là một

ngành giao nhau giữa hai ngành Nhựa và bao bì. Ngành bao bì nhựa có thể được phân

loại thành:

-



Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm



-



Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát



-



Bao bì cứng.



Theo báo cáo của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), Bao bì nhựa chiếm 460 trên tổng số

2000 cơng ty nhựa trên tồn quốc, 66% giá trị xuất nhập khẩu nhựa hàng năm của Việt

Nam là nhựa bao bì

Nhựa bao bì cũng là mặt hàng nhựa xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam, các thị

trường chính bao gồm My, Nhật Bản, EU, tuy có nhiều lợi thế về chi phí sản xuất thấp

nhưng thị trường xuất khẩu túi, bao bì nhựa đang gặp một số khó khăn tuy nhiên những

trở ngại đó được cho là không quá ảnh hưởng tới các doanh nghiệp nhựa bao bì trong

nước, cụ thể:

-



EU đã thơng qua quy định về hạn chế sử dụng túi nhựa và xu hướng chuyển sang

dùng các loại túi, bao bì tự phân hủy. Tuy nhiên hành nhựa bao bì Việt Nam xuất

sang châu Âu thường phải đáp ứng những yêu cầu chất lượng cao, chủ yếu là bao

bì cao cấp và bao bì tự hủy, nên quy định này sẽ không quá ảnh hưởng tới việc

xuất khẩu của bao bì Việt Nam



-



Mỹ vẫn tiếp tục kéo dài việc áp thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá đối

với các sản phẩm tủi, bao bì nhựa PE nhập khẩu từ Việt Nam (cùng với Việt Nam

là các nước Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan cũng chịu các

mức thuế phạt thêm 5 năm nữa). Mỹ đã bắt đầu chương trình hạn chế này từ

năm 2010 và tiếp tục gia hạn sau thời kỹ 5 năm lần đầu tiên kết thúc. Việc Mỹ tiếp

tục duy trì áp dụng thuế như trên sẽ không tác động đột biến đối với xuất khẩu

nhựa của Việt Nam do việc này đã diễn ra trong suốt 5 năm qua.



Hình 1.1: Tỷ lệ phát triển ngành nhựa năm 2015 [12]

 Nhựa vật liệu xây dựng

Chiếm 14% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như ống nước, khung cửa chính, cửa

sổ. Nhờ thị trường bất động sản đang hồi phục và các hoạt đồng xây dựng dân dụng, hạ

tầng gia tăng với nhiều dự án có quy mơ lớn và vốn đầu tư cao, đặc biệt là các dự án về

xây dựng nhà xưởng và cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp, hạ tầng giao thông, nâng cấp

đường bộ… nên thị trường tiêu thụ VLXD được kỳ vọng sẽ được mở rộng mạnh mẽ với

tiềm năng cao. Các yếu tố thúc đẩy phân khúc nhựa VLXD phát triển như:

-



Thị trường bất động sản và các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn phục hồi



-



Kích thướng cồng kềnh của các sản phẩm nhựa VLXD khiến vận chuyển khó khăn

do đó sản phẩm nhập ngoại kém cạnh tranh



-



Thị hiếu tiêu dùng đặc trưng là nhưng lợi thế giúp các công ty sản xuất nhựa VLXD

không chịu nhiều cạnh tranh từ các công ty nước ngoài



Theo Quy hoạch phát triển ngành nhựa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2025 của Bộ Cơng Thương, ngành nhựa sẽ chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm dần tỷ

trọng các nhóm sản phẩm nhựa bao bì và nhựa gia dụng, tăng dần tỷ trọng nhóm nhựa

VLXD và nhựa kỹ thuật có tính chất cơ lý đặc biệt chun dùng trong thi cơng cơng trình

và hoạt đồng cơng nghiệp

 Nhựa gia dụng

Chiếm khoảng 32% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm gia dụng như nội thất, tủ, đĩa,



đồ chơi và giày dép. Các công ty trong nước chủ yếu tập trung sản xuất nhóm sản phẩm

này, nhưng thường có biên lợi nhuận thấp, trong khi các cơng ty có vốn đầu tư nước

ngồi tập trung ở phân khúc sản phẩm cao cấp, có giá trị và biên lợi nhuận cao

Trong những năm gần đây, các sản phẩm nhựa gia dụng Việt Nam chiếm tới 90% thị

phần nội địa và tập trung ở phân khúc bình dân. Tuy nhiên các cơng ty trong nước đang

đánh gía thấp nhu cầu tiêu dùng hành cao cấp trong nước và khơng có kế hoạch phát

triển dòng sản phẩm cao cấp, phân khúc nhựa gia dụng cao cấp vẫn đang bị bỏ ngỏ. Kết

quả là mảng nhựa gia dụng cao cấp bị các cơng ty nước ngồi chiếm lĩnh với những

chiến lược bài bản như: hệ thống phân phối hiện đại (hệ thống các cửa hàng bán sản

phẩm kết hợp với hợp tác cùng các siêu thị, trung tâm thường mại), đầu tư cơng nghệ

để da dạng hóa sản phẩm đánh vào tâm lý xem trọng an toàn sức khỏe và phủ kín nhu

cầu của người tiêu dung

 Nhựa cơng nghệ cao

Chiếm 9% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như phụ tùng nhựa, dùng trong lắp ráp

ô-tô, xe máy, thiết bị y tế và trang thiết bị dùng trong công nghệ composite

Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), trong giai đoạn 2010-2015, ngàng nhựa là một

trong những ngành cơng nghiệp có mức tăng trưởng cao nhất tại Việt Nam từ 16% đến

18% năm, chỉ sau ngành viễn thông và dệt may. Trong đó có những mặt hàng nhựa có tốc

độ tăng trưởng gần 100%. Với mức tăng trưởng như vậy, ngành nhựa được đánh giá là

một trong những ngành năng động, mũi nhọn của Việt Nam. Ngành nhựa Việt Nam cũng

là ngành có số lượng doanh nghiệp đơng đảo, với gần 4000 doanh nghiệp trong cả nước

và sử dụng đến 200000 lao động, đa số tập trung ở miền Nam chủ yếu là TP. HCM, Bình

Dương, Đồng Nai, Long An và Bà Rịa Vũng Tàu. Hiện nay, sản phẩm nhựa của Việt

Nam đã xuất khẩu đến 159 thị trường trên thế giới



Hình 1.2: Tỷ lệ phân bố ngành nhựa theo địa lý trong năm 2015 [12]

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam chủ

yếu vẫn chỉ được biết đến như là 1 ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi

đó lại khơng chủ động được hồn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản

xuất. Hiện nay mỗi năm ngành Nhựa cần trung bình khoảng 3,5 triệu tấn các loại nguyên

liệu đầu vào như PE, PP, PS… chưa kể hàng trăm loại hóa chất phụ trợ khác nhau; trong

khi khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 900000 tấn nguyên liệu và

hóa chất, phụ gia cho nhu cầu của ngành Nhựa Việt Nam.

Mặc dù có nhiều khó khăn trong hoạt động nhưng ngành Nhựa Việt Nam vẫn đang từng

bước khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Sản phẩm nhựa của Việt Nam không

chỉ được tiêu thụ rộng rãi ở thị trường nội địa mà còn được xuất khẩu và từng bước

chiếm lĩnh thị trường của nhiều nước.

Sự tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu cho thấy các sản phẩm nhựa của Việt Nam

đang được nhiều nước trên thế giới sử dụng và từng bước khẳng định vị trí quan trọng

của ngành Nhựa trong sự phát triển chung của toàn ngành công nghiệp

1.1.4 Dây chuyền sản xuất của làng nghề

Quy trình sản xuất tại các làng nghề tái chế chất dẻo nói chung có nhiều cơng đoạn hồn

tồn tương tự nhau, thường chỉ khác nhau ở khâu cuối là khâu tạo ra các loại hình sản

phẩm khác nhau

 Mơ tả quá trình tái chế nhựa



- Các chất thải nhựa được thu gom về, từ các làng nghề trên khắp các tỉnh thành. Tiếp

theo đó, chúng được phân loại hồn tồn thủ công và dựa vào kinh nghiệm của

người thợ

-



Sau khi phân loại, nguyên liệu được xay rửa (hoặc xay khô). Nước được bơm trực

tiếp vào máy xay. Sau khi ra khỏi máy xay, nhựa được đi làm khô tự nhiên bằng

cách phơi trên sân hoặc cánh đồng, đường làng...



-



Sau khi phơi khô, nhựa nguyên liệu được nạp vào phễu nạp liệu, được trục vít đẩy

vào bộ phận gia nhiệt nấu chảy, sau đó đùn thành các dây nhựa, làm lạnh và cắt

tạo hạt.



Hình 1.3: Quy trình sản xuất chất dẻo tại làng nghề



Do trong q trình giặt rửa, phơi khơ, phế liệu còn lẫn các tạp chất nên người ta đặt các

tấm lưới bằng kim loại ở đầu phun của máy. Tùy theo sản phẩm mà thời gian thay lưới

lọc khác nhau

Để sản xuất túi nylon, hạt nhựa được bổ sung bột màu theo tỷ lệ 0,1% vào thùng chứa,

sau đó nhựa được gia nhiệt nấu chảy và được đẩy vật liệu đến bộ phận cán kéo, tạo màng

bằng trục vít.

Q trình sản xuất dây thừng tương tự như sản xuất túi nylon. Nhựa sau khi ép đùn thành

sợi được làm nguội bằng nước lạnh qua một hệ thống trục nén, sau đó được gia nhiệt lần

hai để kéo dãn sản phẩm, cuối cùng được đưa qua hệ thống trục cán trước khi được cuộn

thành sản phẩm.

 Thiết bị, máy móc được sử dụng

Một số thiết bị chính sử dụng trong các dây chuyền sản xuất tại một số làng nghề tái chế

nhựa điển hình như: máy xay, nghiền nhựa, máy tạo hạt, máy thổi túi nylon, máy kéo dây,

máy cán, máy bơm nước… được sản xuất trong nước theo kiểu tự chế hoặc nhập khẩu

từ Trung Quốc, Hàn Quốc.

Bảng 1.3: Một số máy móc thiết bị chính trong dây chuyền tái chế nhựa [2]

TT

1



Loại máy móc, thiết bị

Máy xay, nghiền nhựa



Năng suất



Đặc điểm



Nơi sản xuất



200 - 300 kg/h



Máy tự chế tạo



Việt Nam



2



Máy tạo hạt nhựa



200 - 250 kg/h



3



Máy thổi túi nylon



180 - 220 kg/h



4

5



Máy kéo dây (dây cước,

dây buộc)

Máy cán vải giả da



200 -230 kg/h

200 - 300 kg/h



Chế tạo trong

nước



Việt Nam



Kiểm soát



Đài Loan,



được nhiệt độ



Việt Nam



Kiểm soát

được nhiệt độ

Kiểm soát



Việt Nam

Việt Nam



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Vấn đề nghiên cứu và tổng quan khu vực nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×