Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu và hậu quả của thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu và hậu quả của thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Tải bản đầy đủ - 0trang

chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên có thẩm

quyền bổ sung.

LTTTM 2010 đã khắc phục hạn chế trên của pháp lệnh trọng tài thương mại,

Điều 18 LTTTM 2010 quy định cụ thể về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô

hiệu và theo Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số

quy định luật trọng tài như sau:

- Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực, không thuộc thẩm quyền của trọng tài

quy định tại điều 2 của luật này. Theo điều 2 của luật, phạm vi thẩm quyền của

trọng tài được mở rộng không chỉ bao gồm tranh chấp phát sinh từ hoạt động

thương mại hiểu theo nghĩa rộng như quy định của pháp lệnh trọng tài thương mại.

Như vậy phạm vi xác định thỏa thuận trọng tài vô hiệu do không thuộc thẩm quyền

của trọng tài được thu hẹp.

- Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của

pháp luật.

Theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP thì “Người xác lập thỏa

thuận trọng tài khơng có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” quy định tại

khoản 2 Điều 18 Luật TTTM là người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải

là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp

hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.

Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài do người khơng có thẩm quyền xác lập thì

thỏa thuận trọng tài đó vơ hiệu. Trường hợp thỏa thuận trọng tài do người khơng có

thẩm quyền xác lập nhưng trong q trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài

hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài

đã chấp nhận hoặc đã biết mà khơng phản đối thì thỏa thuận trọng tài khơng vơ

hiệu.

- Người xác lập thỏa thuận trọng tài khơng có năng lực hành vi dân sự theo quy

định của bộ luật dân sự.

Theo khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP thì “Người xác lập thỏa

thuận trọng tài khơng có năng lực hành vi dân sự” quy định tại khoản 3 Điều 18

Luật TTTM là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc

11



người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp này thì Tòa án cần thu

thập chứng cứ để chứng minh người xác lập thoả thuận trọng tài khơng có năng lực

hành vi dân sự thì phải có giấy tờ tài liệu chứng minh ngày tháng năm sinh hoặc

kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của Tòa án xác định, tuyên bố

người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

- Hình thức của thỏa thuận trọng tài khơng phù hợp với quy định tại điều 16 của

luật này.

Theo khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP thì “Hình thức của thoả

thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật TTTM” quy định tại

khoản 4 Điều 18 Luật TTTM là trường hợp thỏa thuận trọng tài khơng được xác

lập bằng một trong các hình thức quy định tại Điều 16 Luật TTTM và hướng dẫn

tại Điều 7 Nghị quyết này.

- Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa

thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là vơ hiệu

Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên ký kết bị lừa dối, đe dọa,

cưỡng ép, pháp luật đã trao cho họ quyền yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó

là vơ hiệu. Khoản 5 Điều 18 LTTTM đã xóa bỏ quy định thời hiệu yêu cầu tuyên

bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu là 6 tháng kể từ ngày ký kết thỏa thuận trọng tài ở

khoản 6 Điều 10 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003. Luật xóa đi thời hạn 6 tháng

trong trường hợp này đã góp phần đảm bảo lợi ích các bên khi ký kết thỏa thuận

trọng tài. Bên bị lừa dối đe dọa có thể gửi yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô

hiệu bất cứ khi nào họ muốn

- Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật

Như vậy LTTTM 2010 đã thu hẹp các trường hợp thỏa thuận trọng tài vơ hiệu

liên quan đến lĩnh vực tranh chấp vì lúc này phạm vi tranh chấp đã được luật mở

rộng hơn trước. Đối với nội dung của thỏa thuận trọng tài, thì trừ trường hợp vi

phạm điều cầm, còn lại luật không buộc các bên phải quy định rõ đối tượng tranh

chấp, khơng phải chỉ rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp như

pháp lệnh trọng tài thương mại 2003. Với quy định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt

12



tình trạng trọng tài bị vơ hiệu hoặc tình trạng khơng có cơ quan nào giải quyết

tranh chấp dù không được xác định cụ thể trong thỏa thuận trọng tài.

4.2. Hậu quả pháp lý của thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Tùy thuộc vào từng giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp mà việc thỏa

thuận trọng tài bị vơ hiệu có thể dẫn tới những hậu quả pháp lý khác nhau, cụ thể:

- Khi xem xét thụ lý đơn kiện, nếu có cơ sở để khẳng định thỏa thuận trọng tài

vơ hiệu thì tổ chức trọng tài từ chối thụ lý vụ việc. Trường hợp các bên khơng xác

lập được một thỏa thuận trọng tài mới có hiệu lực thì một bên tranh chấp có thể

khởi kiện vụ việc ra tòa án.

- Trong q trình hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp mà phát hiện thỏa

thuận trọng tài vô hiệu và các bên tranh chấp không đạt được thỏa thuận trọng tài

mới có hiệu lực thì hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ

việc. Trong trường hợp này một bên tranh chấp có thể khởi kiện vụ việc ra tòa án

có thẩm quyền

- Khi hội đồng trọng tài đã ra quyết định cuối cùng mà có một bên yêu cầu tòa

án xem xét hủy phán quyết trọng tài thì trong quá trình xem xét đơn yêu cầu hủy

phán quyết trọng tài, nếu tòa án phát hiện thỏa thuận trọng tài bị vơ hiệu thì tòa án

ra quyết định hủy phán quyết trọng tài. Trong trường hợp này, các bên tranh chấp

có thể thỏa thuận với nhau để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết. Nếu các bên

tranh chấp không đạt được thỏa thuận trọng tài mới thì một bên có quyền đưa vụ

tranh chấp đó ra tòa án giải quyết

III.NHỮNG HẠN CHẾ KHI ÁP DỤNG LUẬT TTTM VÀO THỰC TIỄN

VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

1. Những hạn chế khi áp dụng các quy định của Luật

TTTM khi giải quyết các tranh chấp

Thứ nhất, phần lớn các tranh chấp được giải quyết bằng phương pháp trọng tài

ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại chủ yếu có yếu tố nước ngoài. Các nhà đầu

13



tư nước ngoài phải bỏ ra chi phí khá lớn để thuê luật sư, chuyên gia am hiểu về

lĩnh vực tranh chấp và pháp luật Việt Nam. Hơn nữa, kết quả giải quyết tranh chấp

căn cứ pháp luật Việt Nam cũng khó để các bên cơng nhận, dẫn đến hệ quả họ có

thể kiện các cơ quan tài phán quốc tế, điều này sẽ ảnh hưởng đến điều kiện phát

triển kinh tế của Việt Nam và quan hệ giao thương của các doanh nhân nước ta nói

riêng.

Thứ hai, trọng tài là tổ chức phi chính phủ nên phán quyết của trọng tài không

nhân danh Nhà nước, điều này có lẽ lỗ hổng về sự vơ tư của Trọng tài viên khi ra

phán quyết. Các nhà kinh doanh chưa thật sự tin tưởng khi lựa chọn trọng tài, bởi

họ chưa tin tưởng vào tính độc lập, vơ tư, khách quan của Trọng tài viên. Vì lý do

nào đó mà Trọng tài viên đưa ra phán quyết sai, khơng khách quan thì họ khơng

biết phải dựa vào cơ chế nào để bảo vệ quyền lợi của chính mình ngồi việc khơng

thi hành phán quyết đó và khởi kiện tại Tòa kinh tế thuộc TAND tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương.

Thứ ba, do không phải là cơ quan nhà nước nên hoạt động của TTTM khơng

mang tính quyền lực, điều này gây khơng ít khó khăn cho Trọng tài viên khi giải

quyết tranh chấp cũng như khó khăn cho các thương nhân khi yêu cầu việc công

nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài. Hơn nữa, số lượng Trọng tài viên

còn quá khiêm tốn, cơ sở vật chất trang bị đầu tư chưa tương xứng, kỹ năng giải

quyết các tranh chấp chưa mang tính chuyên nghiệp,… Mặt khác, đa số các doanh

nhân nước ta chưa thật sự thông hiểu đầy đủ về pháp luật trọng tài, chưa thấy hết

tính ưu việt của phương thức giải quyết này. Bên cạnh đó còn tồn tại những ngun

nhân khác từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, thay vì nhận thức trọng tài là

phương thức hỗ trợ đắc lực giúp giảm tải việc giải quyết các tranh chấp thương mại

tại Tòa án, thì ngược lại cho rằng đường nào cũng nhờ Tòa án giải quyết nên khơng

ít Tòa án lại động viên việc khởi kiện và “ôm” luôn việc xét xử! Điều này được

chứng minh qua con số thống kê có tới 95% các tranh chấp hợp đồng thương mại

trong nước được Tòa án thù lý và giải quyết.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu và hậu quả của thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×