Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

mãn điều kiện về sự thỏa thuận, đó là khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài không cho

phép giải quyết tranh chấp đó thơng qua hình thức trọng tài.

- Điều kiện về năng lực chủ thể: Pháp luật nước ta quy định khá cụ thể về năng

lực chủ thể khi ký kết thỏa thuận trọng tài, theo khoản 3 Điều 18 LTTTM 2010 quy

định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu: “Người xác lập thoả thuận trọng tài không có

năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự”. Đây chính là tiêu chí

để xác định hiệu lực của thỏa thuận thương mại, bởi chỉ khi các bên tham gia thỏa

thuận trọng tài có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì mới xác

định được nội dung của thỏa thuận trọng tài, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp

pháp của các bên. Vì vậy người tham gia ký kết thỏa thuận trọng tài phải có năng

lực hành vi dân sự.

- Điều kiện về hình thức thỏa thuận trọng tài: Theo Điều 16 LTTTM năm 2010

thì hình thức của thỏa thuận thương mại phải được lập thành văn bản, thư điện tử,

telex, fax, hoặc hình thức khác có thể hiện ý chí của các bên về việc giải quyết

tranh chấp đó bằng trọng tài. Luật mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc

tế, thỏa thuận là văn bản nếu nó nằm trong một văn bản được các bên ký kết bằng

sự trao đổi qua thư từ, telex, điện tín hoặc qua các hình thức trao đổi viễn thơng

khác mà ghi nhận sự trao đổi đó thể hiện sự tồn tại của việc ghi nhận hoặc bên kia

không phủ nhận.

Thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc có

thể là một thỏa thuận riêng biệt độc lập với hợp đồng. Đối với những điều khoản

trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng thì việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng,

sự vô hiệu của hợp đồng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng

tài. Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài, nếu một bên khởi

kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài

vô hiệu hoặc trường hợp thỏa thuận trọng tài không thực hiện được.

- Điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể. Thỏa thuận trọng tài là một loại hợp

đồng trong đó ý chí tự nguyện của chủ thể đóng vai trò là một ngun tắc vơ cùng

quan trọng trong q trình xác lập. Quy định của LTTTM 2010 cũng dựa trên quy

định cơ bản của bộ luật dân sự – đó là dựa trên ý chí tự nguyện của các bên. Đồng

5



thời LTTTM 2010 cũng quy định thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập trước

hoặc sau khi xảy ra tranh chấp (khoản 1 Điều 5 LTTTM ), quy định này đã mở

rộng phạm vi giải quyết tranh chấp giữa các bên. Thỏa thuận trọng tài sẽ khơng có

giá trị pháp lý nếu nó khơng phải là kết quả của sự thống nhất ý chí của bất kỳ cơ

quan, tổ chức, cá nhân nào. Dựa trên cơ sở sự thống nhất ý chí, các bên thỏa thuận

về các yếu tố liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp: tở chức trọng tài, hình

thức trọng tài, ngơn ngữ, địa điểm... và các nội dung khác phù hợp với lợi ích của

các bên. Đồng thời nội dung của thỏa thuận trọng tài không vi phạm điều cấm của

pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của thỏa thuận trọng tài

Khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 đã quy định cụ thể: “Thỏa

thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh

chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”. Theo đó:

- Thỏa thuận trọng tài được hình thành dựa trên ý chí tự nguyện của các bên, có

sự thống nhất giữa ý chí (mong muốn bên trong) và sự thể hiện ý chí (hình thức

bên ngồi) về việc sử dụng hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp. Điều này

được đưa ra xuất phát từ bản chất của sự thỏa thuận.

- Các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp.

Điều này được cụ thể hóa tại Khoản 1 Điều 5 Luật trọng tài thương mại 2010:

“Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài.

Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”.

Điều 16 Luật trọng tài thương mại 2010 đã quy định rõ:“Thỏa thuận trọng tài có

thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới

hình thức thỏa thuận riêng”. Theo đó, thỏa thuận trọng tài có thể tồn tại dưới một

trong hai hình thức:

- Là điều khoản trong hợp đồng: Các bên kí kết hợp đồng đồng thời ghi nhận

ln về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là một điều khoản

trong hợp đồng đó. Ví dụ: Cơng ty A và cơng ty B kí hợp đồng mua bán hoa quả

6



sấy khô, tại Điều 23 hợp đồng này chỉ rõ: “Mọi tranh chấp có liên quan đến hợp

đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài thương mại”.

- Thỏa thuận riêng: Các bên kí kết hợp đồng không ghi nhận việc giải quyết

tranh chấp bằng trọng tài thương mại thành một điều khoản của hợp đồng mà ghi

nhận thỏa thuận này trong một văn bản hoàn toàn tách biệt với tên gọi thỏa thuận

giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại hợp đồng đã kí trước đó. Ví dụ:

Cơng ty A và cơng ty B nói trên kí thỏa thuận về giải quyết tranh chấp bằng trọng

tài thương mại các vấn đề phát sinh từ hợp đồng mua bán hoa quả sấy khô giữa hai

công ty nói trên.

Mặt khác, thỏa thuận trọng tài thương mại khơng thể tồn tại dưới hình thức lời

nói hoặc hành vi mà phải được xác lập dưới hình thức văn bản, bao gồm cả:

- Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex,

thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

- Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

- Thỏa thuận được luật sư, cơng chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi

chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

- Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận

trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

- Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của

thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

Như vậy, theo quy định tại Điều 16 Luật trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận

trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng

hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng. Theo đó, thỏa thuận hợp đồng chỉ được thực

hiện dưới một trong hai hình thức trên. Vấn đề đặt ra là liệu thỏa thuận trọng tài có

thể được xác lập dưới cả hai hình thức hay khơng? Ví dụ: sau khi các bên đã kí kết

hợp đồng ghi nhận luôn về thỏa thuận trọng tài là một điều khoản trong hợp đồng

nhưng sau đó các bên thấy nó còn q khái qt, chưa cụ thể nên tiếp tục muốn

thỏa thuận để ghi nhận cụ thể hơn tại một văn bản riêng chứ không muốn bổ sung

vào hợp đồng thì có được khơng?

7



Điều 16 về hình thức của thỏa thuận trọng tài nên ghi nhận thêm cả trường hợp

thỏa thuận trọng tài được ghi nhận dưới cả hình thức là điều khoản trong hợp đồng

và thỏa thuận riêng. Bởi dù được ghi nhận dưới cả hai hình thức thì thỏa thuận này

vẫn khơng ảnh hưởng đến điều kiện để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực.

3. Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài độc lập với hiệu lực của hợp đồng chính

Theo Điều 19 LTTTM 2010 quy định thỏa thuận trọng tài độc lập với hợp đồng

chính: “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia

hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm

mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài”, có thể nói đây là một nguyên tắc rất quan

trọng, đảm bảo mọi tranh chấp phát sinh đều được giải quyết kể cả khi hợp đồng

vô hiệu.

Trên thực tế thỏa thuận về trọng tài thông thường được thể hiện đơn giản dưới

hình thức một điều khoản trọng tài và đưa vào hợp đồng thương mại. Thực tế điều

khoản trọng tài có một mức độ độc lập nhất định đối với hợp đồng chính. Nói cách

khác, việc vơ hiệu của hợp đồng chính khơng thể ảnh hưởng đến tiến trình tố tụng

bằng trọng tài.

Dưới đây là khái quát các trường hợp mà trong đó hợp đồng chính vơ hiệu hoặc

hết hiệu lực nhưng thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực:

- Trong trường hợp bất khả kháng kéo dài khiến hợp đồng không thể thực hiện

được, các bên phải chấm dứt hợp đồng nhưng điều khoản trọng tài vẫn phát huy

hiệu lực để giải quyết vấn đề chấm dứt hợp đồng;

- Trong trường hợp hợp đồng đã được các bên thực hiện xong nhưng điều khoản

trọng tài vẫn còn hiệu lực để có thể thành lập tổ chức trọng tài xem xét hậu quả

pháp lý và nghĩa vụ của các bên;

- Trường hợp hợp đồng bị vơ hiệu vì đối tượng của hợp đồng vi phạm điều cấm

của pháp luật nhưng điều khoản trọng tài thì vẫn có hiệu lực bởi đối tượng của thỏa

thuận trọng tài là hoàn toàn hợp pháp;

8



- Trường hợp hợp đồng bị vô hiệu từng phần nhưng phần hợp đồng bị vô hiệu

không tự động kéo theo sự vô hiệu của điều khoản trọng tài.

Tuy nhiên trong một số trường hợp, sự vơ hiệu của hợp đồng chính sẽ làm cho

điều khoản trọng tài cũng trở nên vô hiệu, nhất là trong trường hợp ngun nhân

làm cho hợp đồng chính vơ hiệu trùng với nguyên nhân làm cho điều khoản trọng

tài vô hiệu như trường hợp thỏa thuận trọng tài nằm trong một hoạt động được ký

kết bởi một trong các chủ thể khơng có thẩm quyền và năng lực ký kết hợp đồng

hoặc vi phạm nguyên tắc tự nguyện ký kết hợp đồng.

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đối với các chủ thể có liên quan

Thứ nhất, đối với cơ quan trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Thông qua việc chỉ định các trọng tài viên, các bên trao cho hội đồng trọng tài

quyền hạn để giải quyết tranh chấp. Thỏa thuận trọng tài trao quyền cho hội đồng

trọng tài quyết định giải quyết một tranh chấp mà các bên có nghĩa vụ đệ trình lên

trọng tài. Quyết định này sẽ ràng buộc các bên và nó có thể được cưỡng chết thi

hành bởi tòa án.

Thứ hai, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đối với tòa án quốc gia. Điều 6

LTTTM năm 2010 đã quy định về việc tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp có

thỏa thuận trọng tài: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng

tài mà một bên khởi kiện tại Tồ án thì Tồ án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp

thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”.

Quy định này ddax thể hiện rõ ràng thái độ của nhà nước đối với thỏa thuận trọng

tài và nó như là sự đảm bảo mạnh mẽ từ phía nhà nước để thỏa thuận trọng tài

được các bên tôn trọng. Luật quy định tòa án khơng được thụ lý vụ kiện tranh chấp

khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài là để khẳng định thẩm quyền của trọng tài,

ngoại lệ được quy định là trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể

thực hiện được. Đồng thời quy định này cũng thể hiện sự tiến bộ so với pháp lệnh

trọng tài thương mại khi pháp lệnh chỉ quy định một ngoại lệ duy nhất là “ thỏa

thuận trọng tài vô hiệu ” , điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong thực tiễn hoạt

động tư pháp của Việt Nam

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×