Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.2. Lysin và khả năng tạo phức của chúng

1.2.1. Lysin [4, 5]

Lysin (Lysine) là amino axit, nó là hợp chất hữu cơ mà trong phân tử có chứa cả nhóm

chức amin (nhóm amino–NH2) lẫn nhóm chức axit (nhóm cacboxyl- COOH). Khối

lượng phân tử 146,19 g/mol, nhiệt độ phân hủy 200 – 300oC. Công thức phân tử:

C6H14N2O2 , Công thức cấu tạo:



Nhiệt độ nóng chảy: 3820C , độ tan là 1,5 g/cm3

Ở điều kiện thường, L-Lysin là một chất kết tinh khơng bay hơi, nóng chảy với sự

phân hủy ở nhiệt độ tương đối cao. Không tan trong dung môi không phân cực, tan tốt

trong nước.

pH điểm đẳng điện: 9,74 (pI) (Mỗi anino axit còn đc đặc trưng bằng một giá trị pH mà

ở đó số cation bằng số anion điểm đó gọi là pH điểm đẳng điện ký hiệu là pI)

pH > pI thì L-lysine tồn tại dạng cation



pH = pI thì L-lysine tồn tại dạng lưỡng

cực



pH < pI thì L-lysine tồn tại dạng anion



L-lysine có hai dạng đồng phân quang học D–lysine và L–lysine, trong đó cơ thể sinh

vật sống chỉ hấp thụ được L-lysine.



D-lysine



L-Lysine



Trong nước L-lysin có tính chất giống như các dung dịch của chất có momen lưỡng

cực cao [4].

Lysine là một amino axit cần thiết và đòi hỏi phải ln có sẵn trong thức ăn để đáp ứng

nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, L-lysin là một axit amin thiết yếu, chúng vô cùng cần

thiết đối với các chức năng của các cơ quan trong cơ thể, bao gồm sự phát triển và tăng

trưởng, Lysine giữ vai trò sống còn trong tổng hợp protein là chìa khóa trong sản xuất

enzim, hoocmon và các kháng thể giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng. Thiếu lysine

trong thức ăn dẫn đến rối loạn quá trình tạo máu, hạ thấp số lượng hồng cầu và

hemoglobin, phá vỡ quá trình cân bằng protein, gây ra các biến đổi ở gan và phổi. Đặc

biệt đối với động vật còn non và trẻ em khi bị thiếu lysine sẽ xảy ra hiện tượng chậm

lớn, trí tuệ kém phát triển.

1.2.2. Khả năng tạo phức của L-Lysin

Trong phân tử L-Lysine có hai loại nhóm chức: nhóm –COOH và –NH2 nên chúng có

khả năng tạo phức bền với nhiều ion kim loại, trong đó có các ion của kim loại chuyển

tiếp do có sự hình thành liên kết phối trí giữa nguyên tử oxi của nhóm –COOH và nito

của nhóm –NH2 với ion trung tâm.

Nguyên tử nito của nhóm –NH2 có khả năng cho electron để tạo liên kết cho nhận với

ion kim loại. Trong khi đó ion H+ cũng dễ dàng tách ra khỏi nhóm –COOH để tạo

thành –COO-, nhóm này dễ dàng tạo thành một liên kết cộng hóa trị với ion kim loại



thơng qua ngun tử oxi. Do đó các α-amino axit có khả năng tạo phức chất bền với

nhiều ion kim loại.

Trong phức chất của kim loại với amino axit, liên kết tạo thành đồng thời bởi nhóm

cacboxyl và nhóm amino. Tùy theo thứ tự sắp xếp tương hỗ của các nhóm này mà

phức chất tạp thành là hợp chất vòng càng có số cạnh khác nhau như: 3, 4, 5, 6 cạnh.

Độ bền phức chất phụ thuộc vào số cạnh, trong đó vòng 5 và 6 cạnh là bền nhất.

Sự tạo phức vòng khơng xảy ra trong mơi trường axit hoặc trung tính mà chỉ xảy ra khi

kiềm hóa dung dịch. Tuy nhiên khi kiềm hóa ở pH quá cao thì phức chất bị phân hủy

do tạo thành kết tủa hydroxit.

1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới

1.3.1. Trên thế giới:

Đã có rất nhiều các cơng trình của các nhà khoa học ở nhiều nước được công bố. Như

trên đã trình bày, phương pháp tổng hợp phức chất thì rất đa dạng và phong phú. Tuy

nhiên, để tổng hợp phức chất của các kim loại nhóm B với các amino axit hầu hết các

cơng trình đều thực hiện theo phương pháp đi từ các hợp chất đơn giản của kim loại.

Dưới đây là một số các công trình tiêu biểu:

Theo nhóm tác giả Abdel – Monem, Mahmoud M đã điều chế các phức kim loại với

amino axit bằng cách cho muối của kim loại tác dụng với amino axit được tạo ra từ

thủy phân đậu nành, họ đã điều chế phức Fe(II) – amino axit: Các sản phẩm thuỷ phân

sau đó được thêm Ca(OH)2 để tạo thành phức Ca –amino axit. FeSO4 được thêm vào

để thu được phức Fe – amino axit và CaSO4 kết tủa [9].

Nhóm tác giả Trung Hoa đã điều chế phức chất của Zn với L – methionin có cơng thức

ZnMet2. Ứng dụng vào cơng nghiệp hóa chất [14].

Nhóm nghiên cứu Rajendran đã nghiên cứu phức chelat của kim loại với amino axit.

Các tác giả đã đi từ các chất như Cu, Zn, Mg, Fe, Ca, K, Mn với các amino axit trong

trái cây để trở thành các phức chất: Cu-amino axit, Zn-amino axit, Mg-amino axit, Feamino axit, Ca-amino axit, K-amino axit và Mn-amino axit. Ứng dụng trong dinh

dưỡng động vật [15].



1.3.2. Trong nước :

Có một số các nhóm nghiên cứu của các trường đại học đã và đang nghiên cứu phức

chất kim loại với các chất hữu cơ.Trong cơng trình của nhóm PGS Trần Thị Đà

(ĐHSPHN), các tác giả đã tổng hợp và nghiên cứu cấu trúc của phức chất Fe và Mn

với một số axit hữu cơ như xitric, tatric, axetic…ứng dụng làm chất tạo màu cho granit

nhân tạo [9].

Một loạt các cơng trình nghiên cứu của nhóm tác giả PGS Lê Chí Kiên (ĐHQGHN) đã

nghiên cứu tổng hợp và cấu trúc phức chất của các nguyên tố đất hiếm với một số

amino axit. Kết quả là cơng trình đã đưa ra được quy trình tổng hợp phức chất và đưa

ra được cấu trúc của các sản phẩm bằng một số các phương pháp phân tích như phổ

hồng ngoại, phân tích nhiệt và phân tích ngun tố [16].

Nhóm nghiên cứu của GS. Nguyễn Trọng Uyển (ĐHQGHN) trong cơng trình nghiên

cứu đã tổng hợp các phức chất của các nguyên tố đất hiếm với các amino axit và

nghiên cứu cấu trúc sản phẩm bằng các phương pháp phân tích hiện đại.Một số cơng

trình nghiên cứu sự tạo phức của một số ngun tố đất hiếm với các amino axit trong

dung dịch bằng phương pháp chuẩn độ đo pH. Các tác giả đã xây dựng đường cong

chuẩn độ của amino axit và đường cong chuẩn độ của dung dịch amino axit sau khi tác

dụng với ion kim loại. So sánh hai đường cong chuẩn độ và kết luận về sự tạo phức.

Từ kết quả chuẩn độ các tác giả tính được hằng số bền bậc nhất của phức chất

[17,18,19,20,21].

1.4. Ứng dụng của phức chất

Các phản ứng tạo ra màu đặc trưng được dùng để nhận biết các ion. Trong đó có màu

đặc trưng của ion kim loại với amoniac, xianua, các chất hữu cơ [1,3].

VD: Thuốc thử Fe3+

Thuốc thử K4[Fe(CN)6] tạo phức với Fe3+ trong mơi trường axit có màu xanh berlin

đặc trưng :

4Fe3+ + 3[Fe(CN)6]4- → Fe4[Fe(CN)6]3↓ [3]

Tác dụng với K4[Fe(CN)6] trong mơi trường axit tạo phức với Fe3+ có màu xanh berlin:



4Fe3+ + 3K4[Fe(CN)6] Fe4[Fe(CN)6]3 + 12K+

1.4.1. Ứng dụng của phức Fe3+ với L-lysin



Đã có nhiều nghiên cứu về phức chất của kim loại với L-lysin:

Phức chất cũng có những tác dụng lên thực vật cây trồng. Đã có nhiều nghiên cứu về

lĩnh vực này. Những kết quả nghiên cứu nhằm tăng cường chất lượng dinh dưỡng ở

cây ngũ cốc nói chung và ở cây ngơ nói riêng đã cho thấy triển vọng trong việc cải tiến

chất lượng dinh dưỡng của ngơ. Đã có nhiều kết quả ấn tượng về chuyển các gen tăng

cường tổng hợp và tích lũy các acid amin không thay thế, các carotenoid tiền vitamin

A; các gen giúp tăng cường hấp thụ và tích lũy sắt [7].

Nhóm tác giả Mahmoud M. Abdel-Monem, Michael D. Anderson [8] đã đánh giá về

những ảnh hưởng của các phức kim loại – lysine đến sản lượng sữa và năng suất sinh

sản của giống bò thương mại Holstein – Friesian. Năm trăm năm mươi con bò Holstein

Friesian trong một trang trại chăn ni bò sữa thương mại được xếp thành hai nhóm.

Nhóm I (cung cấp thức ăn thường xuyên), nhóm II (cung cấp thức ăn thường xuyên +

360 mg kẽm – lysine + 200 mg mangan – lysine + 125 mg đồng – lysine). Nghiên cứu

trên được thực hiện trong 35 ngày trước khi bò đẻ. Kết quả thí nghiệm được trình bày

trong bảng dưới.

Ảnh hưởng của phức chất kim loại - lysine tới bò sữa

Kết quả



Nhóm I



Nhóm II



Sản lượng sữa (kg/ngày)



16,6



17,5



Trường hợp niêm vú (%)



29,9



23,8



Tỷ lệ mang thai (%)



82



87



Hàm lượng kẽm (mg/kg)



36



41



Hàm lượng đồng (mg/kg)



88



181



Hàm lượng mangan (mg/kg) 5,3



5,7



Các kết quả trong bảng 1.3 chỉ ra rằng: những con bò có khẩu phần ăn được bổ sung

thêm các phức chất kim loại – lysine cho sản lượng sữa tăng 5,4%, tỷ lệ mang thai tăng

6,1%, trường hợp niêm vú giảm 20% đồng thời hàm lượng kim loại được hấp thu cũng

cao hơn so với những con bò mà khẩu phần ăn của chúng không được bổ sung phức

chất kim loại – lysine [8].

1.5. Một số phương pháp nghiên cứu phức chất

1.5.1. Phương pháp đo độ dẫn điện [1].

Sử dụng phương pháp đo độ dẫn điện để đo độ dẫn điện mol, từ đó xác định số ion

phân ly từ một phân tử phức chất. Độ dẫn điện mol là độ dẫn điện của dung dịch chứa

1 mol hợp chất, nếu ở độ pha lỗng nhất định lượng chất đó nằm giữa hai điện cực

cách nhau 1 cm. Độ dẫn điện mol (µ) được tính theo cơng thức:

µ = a.V.1000

Trong đó: a là độ dẫn điện của 1 cm3 dung dịch;

V là độ pha lỗng, tức là thể tích (lít) trong đó hồ tan 1 mol hợp chất.

µ là độ dẫn điện mol có đơn vị là Ω–1.cm2.mol–1.

Nguyên tắc của phương pháp này là có thể xác lập một số trị số trung bình mà độ dẫn

điện mol của dung dịch phức chất dao động quanh chúng.

Ví dụ: nếu lấy những dung dịch chứa 1 mmol phức chất trong 1 lít dung dịch (tức V =

1000 l), thì ở 25oC những phức chất phân li thành hai ion sẽ cho độ dẫn điện mol

khoảng 100, nếu phân li thành ba, bốn, năm ion sẽ cho độ dẫn điện mol khoảng 250,

400 và 500.

Sở dĩ có được mối quan hệ tương đối giản đơn như trên giữa kiểu phân li ion của phức

chất và đại lượng độ dẫn điện mol, vì tất cả các quy luật đặc trưng cho các chất điện ly

mạnh thông thường đều được áp dụng cho các phức chất. Trong các dung dịch lỗng

cỡ mmol.l–1 các muối tan có thể coi như điện li hoàn toàn, cho nên độ dẫn điện mol của

chúng là tổng độ dẫn điện của các ion tương ứng. Các ion Cl–, Br–, NO2–, NO3–, K+,

NH4+, … có độ dẫn điện tương đối ít khác nhau và độ dẫn điện của các ion phức cũng



gần với nhau. Do đó, về nguyên tắc có thể xác lập được mối quan hệ đã nêu và từ đó

biết ngay được số ion do phức chất phân li ra.

Cần lưu ý rằng để giải thích đúng các kết quả thu được khơng những chỉ tính đến số

lượng ion, mà còn phải chú ý đến điện tích của các ion nữa. Ví dụ, đối với phức chất

[Pt(NH3)4(OH)2]SO4 tuy phân li thành hai ion, nhưng độ dẫn điện mol của nó ở 25oC

với độ pha lỗng 1000 lít là 196 om–1.cm2.mol–1, gần với đại lượng m đặc trưng cho

hợp chất phân li thành ba ion. Rõ ràng là điện tích của ion phức và ion ở cầu ngoại

tăng lên thì độ dẫn điện mol tăng theo. Có một kiểu sai lệch khác liên quan với kích

thước của các ion tạo thành phức chất. Nếu phức chất được tạo thành bởi các ion có

kích thước lớn và độ dẫn điện ion nhỏ thì giá trị m đo được có giá trị thấp.

Sự sai lệch với quy luật trên còn xảy ra trong trường hợp có sự tương tác giữa hợp chất

và dung môi, làm cho số lượng ion trong dung dịch tăng lên. Ví dụ, các hợp chất kiểu

[Co(NH3)3X3] và [Pt(NH3)2X4] (trong đó X là ion halogenua) là phức chất khơng điện

li, dung dịch của chúng khi mới pha có m rất nhỏ. Nhưng độ dẫn điện mol của chúng

tăng dần theo thời gian, do các gốc axit X– bị thế bởi các phân tử nước:

[Pt(NH3)2Cl4] + 2H2O  [Pt(NH3)2Cl3H2O]2+ + Cl–

Độ dẫn điện mol tăng theo thời gian còn có thể là do các phối tử, ví dụ như H2O, NH 3,

CH3NH2, En, NH2–NH2,…, có khả năng tách proton. Ví dụ:

[Pt(NH3)2 (ClH2O)2]2+  [Pt(NH3)2(ClOH)2] + 2H+

Đôi khi đại lượng độ dẫn điện mol lại ít bị thay đổi, ngay cả khi thay đổi số ion trong

dung dịch. Chẳng hạn, nếu không sử dụng thêm những phương pháp phụ mà chỉ dựa

vào các dữ kiện đo độ dẫn điện mol, thì khó có thể phân biệt dung dịch chứa các ion

K+, [PtCl3H2O]– với dung dịch chứa các ion 2K+, [PtCl4]2–. Khi đó, để giải quyết vấn đề

về điện tích của ion phức cần phải áp dụng những phương pháp khác. Dựa trên phép

đo độ dẫn điện ở một chừng mực nào đó có thể suy đốn về độ bền của những hợp

chất có cùng kiểu cấu tạo. Thực nghiệm cho thấy rằng ở các nồng độ mol bằng nhau

độ dẫn điện của dung dịch kali tetracloropalađat (II) K2[PdCl4] luôn luôn lớn hơn một

ít so với độ dẫn điện của dung dịch kali tetracloroplatinat (II) K2[PtCl4]. Sự khác nhau

của hai phức chất có cùng kiểu cấu tạo này là do bản chất của nguyên tử trung tâm,



cũng như bản chất của các phối tử gây nên. Thơng thường, đặc tính ion của liên kết ion

trung tâm-phối tử càng lớn thì đại lượng độ dẫn điện mol của các phức chất cùng kiểu

càng lớn.

Dung lượng phối trí của các phối tử cũng có ảnh hưởng đến độ dẫn điện. Các phức

chất chứa các phối tử tạo vòng năm hoặc sáu cạnh đều khá bền; độ dẫn điện các dung

dịch của chúng thực tế không bị thay đổi theo thời gian và nhỏ hơn độ dẫn điện của

các phức chất trong đó có các nhóm vòng (ví dụ etilenđiamin,…) được thay bằng các

nhóm có hố trị một. Điều đó là do liên kết hố học trong các phức chất vòng có độ

cộng hố trị lớn hơn. Ngồi ra, độ dẫn điện mol còn phụ thuộc vào cấu tạo của ion

phức. Độ dẫn điện của các đồng phân trans hầu như không bị thay đổi theo thời gian

và ở thời điểm ban đầu thường lớn hơn một ít so với độ dẫn điện của đồng phân cis.

Độ dẫn điện của đồng phân cis thường tăng lên theo thời gian, do các phối tử bị thế

một phần bởi các phân tử dung môi.

1.5.2. Phương pháp phổ hấp phụ electron [10].

Đây là phương pháp dựa trên sự so sánh cường độ màu của dung dịch nghiên cứu với

cường độ màu của dung dịch tiêu chuẩn có nồng độ xác định.

Cơ sở lý thuyết của phương pháp là định luật Lambert–Beer:

A = ɛbC = lg(I0/I) = KC Với K= ɛb

Trong đó: I0 cường độ tia tới, I: cường độ ánh sáng đi qua cuvet, ɛ hệ số tắt phân tử

(phụ thuộc bản chất của chất hấp thụ, λ, nhiệt độ, b bề dày cuvet đựng dung dịch (cm)

C nồng độ dung dịch (mol/lit), K hệ số tỉ lệ

Sơ đồ khối tổng quát của một thiết bị đo quang:

Nguồn sáng Bộ tạo tia đơn sắcCuvetDetectorKhuếch đạiHiển thị

Các máy phổ UV–VIS thông thường đều ghi phổ trong vùng tử ngoại gần và vùng khả

kiến (λ từ 200 – 800 nm).

Nguyên nhân làm phát sinh phổ hấp thụ phổ tử ngoại khả kiến là sự chuyển electron từ

mức năng lượng thấp lên mức năng lượng cao hơn (trạng thái kích thích), chính vì vậy

phổ hấp thụ khả kiến còn gọi là phổ hấp thụ electron hay gọn hơn là phổ electron.



Dung môi dùng đo phổ UV–VIS cần được tinh chế một cách cẩn thận vì một lượng rất

nhỏ tạp chất trong đó cũng làm sai lệch kết quả nghiên cứu.

Phổ UV–VIS của các chất có thể được đo ở trạng thái lỏng nguyên chất hoặc ở trạng

thái khí, đối với các muối vơ cơ phân ly trong dung dịch thì phổ thu được là phổ của

ion sovat hóa.

VD: Cân m g hợp kim đồng và hòa tan hồn tồn trong mơi trường axit . Cho vào bình

định mức 100ml. Cu2+ được tạo phức với NH3 và nồng độ Cu2+ và đc xác định bằng

phương pháp đo quang vi sai. Tiến hành đo quang có cùng điều kiện cho dung dịch

phân tích có nồng độ Ax với dung dịch so sánh từ đồ thị thu được có thể tính nồng độ

dung dịch nghiên cứu.

1.5.3. Phương pháp phân tích nhiệt [1].

Đây là phương pháp thuận lợi để nghiên cứu phức chất, nó cho phép thu được những

dữ kiện lý thú về tính chất của các phức chất rắn. Dựa vào hiệu ứng nhiệt có thể

nghiên cứu những q trình biến đổi hóa lý phát sinh ra khi đun nóng hoặc làm nguội

chất, ví dụ phá vỡ mạng tinh thể, sự chuyển pha, sự biến đổi đa hình, sự tạo thành và

nóng chảy các dung dịch rắn, các tương tác hóa học…

Đa số, các hợp chất phức thường bền vững ở nhiệt độ thường và khơng bị biến đổi hóa

học trong thời gian dài. Chiếu sáng và nung nóng là những biện pháp thường dùng

nhất để khơi mào phản ứng hóa học của phức chất rắn.

Các phương pháp này được áp dụng phổ biến để nghiên cứu các phức chất rắn vì chúng

cho phép thu nhận nhiều thơng tin q báu và từ đó có thể rút ra những kết luận cần

thiết. Nếu trong thành phần của phức chất có các phân tử nước kết tinh thì khi đốt

nóng chúng sẽ bị tách khỏi phức chất.

VD: trên giản đồ nhiệt của [Pt(NH3)4]Cl2.H2O, [Pt(NH3)3Cl3]Cl.H2O,trong khoảng

60 ÷ 135oC có các hiệu ứng thu nhiệt, gây ra bởi sự tách các phân tử nước kết tinh.

Dựa vào độ giảm khối lượng trên đường TG khi xảy ra hiệu ứng này, có thể kết luận

rằng các phức chất trên đều chứa một phân tử nước kết tinh trong thành phần của

chúng. Nếu chất có sự biến đổi đa hình thì khi đốt nóng sự chuyển từ dạng này sang



dạng kia sẽ kèm theo sự phát nhiệt. Nếu chất có một số dạng đồng phân, thì tăng nhiệt

độ có thể xảy ra sự đồng phân hố và q trình này cũng kèm theo sự phát nhiệt.

Các nhóm ở cầu ngoại có ảnh hưởng đến độ bền nhiệt của các phức chất

Khi tăng nhiệt độ có thể xảy ra nhiều phản ứng trong cầu nội có liên quan với sự thay

đổi số phối trí và trạng thái hố trị của ion trung tâm. Nếu trong thành phần của phức

chất có những nhóm có tính oxi hố thì trên giản đồ nhiệt của phức chất này thường có

những hiệu ứng toả nhiệt.

Như vậy, ta thấy rằng các giản đồ nhiệt của phức chất là rất đa dạng và phức tạp. Một

vấn đề quan trọng khi nghiên cứu các phức chất bằng phương pháp phân tích nhiệt là

rút ra các kết luận về độ bền nhiệt của chúng và các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền nhiệt

đó.

Nhiệt tạo thành của phức chất và do đó độ bền nhiệt của nó trước hết phụ thuộc vào

đặc điểm của liên kết ion trung tâm-phối tử. Vì bản chất của liên kết này được xác định

bởi các tính chất của kim loại tạo phức (kích thước, điện tích, các tính chất phân cực)

cũng như của phối tử (kích thước, điện tích, momen lưỡng cực), nên độ bền nhiệt của

phức chất cũng phụ thuộc vào các tính chất đó. Ngồi ra, độ bền nhiệt của phức chất

và các phản ứng phân huỷ nhiệt còn được quyết định bởi tính chất của các ion ở cầu

ngoại (kích thước, cấu trúc vỏ electron, khuynh hướng của chúng tạo liên kết cộng hóa

trị với ion trung tâm).

1.5.4. Phương pháp phổ hồng ngoại [1].

Khái niệm chung

Phổ hấp thụ hồng ngoại thuộc loại phổ phân tử, vì đa số các phổ dao động và phổ quay

của các phân tử đều nằm trong vùng hồng ngoại. Để đo vị trí của các dạng hấp thụ

trong phổ hồng ngoại người ta sử dụng độ dài sóng (bước sóng) được tính bằng micro

met (µm) hoặc tần số ν được tính bằng cm-1, là đại lượng nghịch đảo của bước sóng.

Thuộc về vùng hồng ngoại thường có các dải bước sóng từ 2,5 đến 15 m (4000 ÷ 667

cm-1), dải 0,8 đến 2,5 m (12500 ÷ 4000 cm-1) gọi là vùng hồng ngoại gần, còn dải 15

đến 200 m (667 ÷ 50 cm-1) gọi là vùng hồng ngoại xa. Cũng như trong phổ tử ngoại, sự



hấp thụ ở bước sóng thấp hơn (tần số cao hơn) tương ứng với năng lượng hấp thụ lớn

hơn (λ = hc/E), trong khi đó số sóng tỉ lệ thuận với năng lượng đó (ν = E/hc). Phổ

hồng ngoại của phức chất trong phổ hồng ngoại của phức chất, người ta chia ra vùng

tần số cao (4000 ÷ 650 cm-1) và vùng tần số thấp (650 ÷ 50 cm-1). Trong vùng tần số

cao, người ta sử dụng những tần số đặc trưng của các nhóm cho phối tử. Sự chuyển

dịch các tần số so với dạng tự do của phối tử chỉ ra có sự tạo thành liên kết. Khi đó sẽ

thu được những thơng tin về các ngun tử liên kết với kim loại. Trong vùng tần số

thấp khi tạo thành phức chất thì xuất hiện các dải dao động kim loại M-phối tử L, cho

phép hằng số đánh giá lực của liên kết M-L. Việc quy các dải này còn gặp khó khăn, vì

trong vùng này còn có các dải dao động biến dạng của các phối tử vòng, các dao động

con lắc và các dao động của mạng. Có một số giả thiết khi giải thích về phổ hồng

ngoại của phân tử phức: Các tần số dao động bị biến đổi không quá mạnh , các dao

động của liên kết trong các phối tử không tương tác rõ rệt với dao động của các phối tử

khác, cũng như với những dao động khác trong phức chất, tương tác yếu giữa dao

động của phối tử với các phân tử dao động khác không làm mất sự suy biến có trong

phối tử tự do, nghĩa là có thể xem xét nhưng dao động của phối tử có chú ý đến sự đối

xứng cục bộ của nó, mặc dù sự đối xứng này có thể khác với đối xứng của phân tử.

Phổ hấp thụ hồng ngoại của phức chất cho ta những thông tin về kiểu và mức độ của

những biến đổi mà phố tử phải chịu khi nó nằm ở trạng thái liên kết phối trí, về cấu

trúc của phân tử, về đối xứng của phối trí, về độ bền của liên kết kim loại-phối tử, về

độ đồng nhất của chất…

Sự đối xứng của phức chất : Phổ hấp thụ hồng ngoại của phức chất phụ thuộc vào

dạng hình học của nó. Căn cứ vào số dài đặc trưng của phổ, có thể suy ra kiểu đối

xứng của phức chất, vì số cấu tử mà một dải hấp thụ nào đó của phối tử tách ra được

xác định bởi số phối tử cùng loại trong phức chất và bởi kiểu đối xứng của phức chất

đó. Phổ hồng ngoại của phức chất bị biến đổi mạnh khi giảm tính đối xứng của nó.

Nhờ phổ hồng ngoại có thể nhận biết các đồng phân cis–trans. Do cấu hình trans có

tâm đối xứng, nên các dao động đối xứng đối với tâm đối xứng đó sẽ khơng hoạt động

trong phổ. Vì vậy, phổ hồng ngoại của cấu hình trans của phức chất chỉ được đặc trưng

bằng tổ hợp các tần số của phối tử. Đối với dạng cis, các dao động đối xứng và bất đối



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×