Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.1.2 Dược tính học

Cây An Xoa thường mọc dại tại một số vùng đất cao.

Hiện nay chưa có tài liệu nào cơng bố về dược tính của cây này.

2.1.3 Thành phần hóa học

Trên thế giới đã có nghiên cứu về thành phần hóa học cây An Xoa. Tuy

nhiên, cây An Xoa ở Việt Nam còn rất ít nghiên cứu về thành phần hóa học.

2.2 Các kết quả nghiên cứu đã có

2.2.1 Cytotoxi Lignans từ thân cây An Xoa thu tại Indonesia.

Theo một nghiên cứu ở Indonesia [1] thì thành phần trong cây An Xoa có

khả năng chống lại các tế bào ưng thư, đặc biệt là tế bào ung thư.

Nghiên cứu chỉ ra 6 hợp chất tách được từ cao chiết thân cây An Xoa như

sau:



1:

2:

3:



R1

OMe

OMe

OMe



R2

H

OMe

OMe



R3

H

H

OMe



R4

OMe

OMe

OMe



1:

2:

3:



R1

Feruloyl

Feruloyl

H



R2

feruloyl

H

H



Hình 2.7: Các lignans tách được từ cây an xoa thu tại Indonesia

Nhóm nghiên cứu này khảo sát khả năng chống lại tế bào ung thư từ cao

MeOH thân cây An Xoa với 4 loại tế bào ung thư: Lu1 (tế bào ung thư biểu mô phổi

ở người), LNCaP (tế bào ung thư tuyến tiền liệt), MCF-7 (ung thư vú), HUVEC (tế

bào nội mô tĩnh mạch).



10



Bảng 2.1: Bảng kết quả khảo sát khả năng chống tế bào ung thư từ cao MeOH

thân cây An Xoa



2.2.2 Khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào HEP-G2 của cây An

Xoa (Helicteres hirsute L.)

Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Duyên và Lê Thanh Phước được đăng trên tạp

chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ (2016) [2] đã chỉ ra thành phần trong cao

chiết từ thân, lá và hoa cây An Xoa thu tại Hòn Sơn thuộc xã Lại Sơn, huyện Kiên

Hải, tỉnh Kiên Giang. Nghiên cứu đã khảo sát hoạt tính gây độc tế bào trên dòng tế

bào Hep-G2 (tế bào ung thư) đối với bốn phân đoạn cao khác nhau: petroleum ether

(PE), dichloromethane (DC), ethyl acetate (EA), methanol (MeOH). Kết quả có hai

cao có biểu hiện hoạt tính gây độc với dòng tế bào Hep-G2 (tế bào ung thư) là cao

PE và cao DC. Từ cao DC đã cô lập được 4 hợp chất: stigmasterol, lupeol, apigenin

và tiliroside. Cấu trúc hóa học các hợp chất được xác định bằng các phương pháp

phổ (1H-NMR, 13C-NMR, DEPT).



11



Bảng 2.2: Bảng kết quả khảo sát hoạt tính gây độc tế bào trên dòng tế bào HepG2 (tế bào ung thư) đối với bốn phân đoạn cao khác nhau: petroleum ether

(PE), dichloromethane (DC), ethyl acetate (EA), methanol (MeOH).



Hình 2.8: Cấu trúc hợp chất HD09 (stigmasterol)

Stigmasterol được sử dụng trong phòng ngừa khối u và kháng oxy hóa.

Ngồi ra, stigmasterol còn có tiềm năng chữa viêm xương khớp [2].



Hình 2.9: Cấu trúc của hợp chất HD02 (lupeol)



12



Lupeol có thể tiêu diệt và ngăn chặn sự lan truyền của tế bào ung thư. Hợp

chất lupeol có khả năng gây độc tế bào với dòng tế bào tế bào ung thư (Hep-G2)

[2].



Hình 2.10: Cấu trúc của hợp chất HD08 (apigenin)

Apigenin có khả năng chống viêm, chống oxy hóa và ngăn ngừa ung thư [2].



Hình 2.11: Cấu trúc của hợp chất HD01 (tiliroside)

Tiliroside là hợp chất tự nhiên có khả năng kháng oxy hóa và kháng viêm, đã

được thử nghiệm in vitro và in vivo cho kết quả tốt [2].

2.3 Thử hoạt tính gây độc tế bào

Hoạt tính sinh học của các hợp chất tinh khiết cô lập từ thân cây An Xoa trên

tế bào ung thư được thực hiện tại Khoa Khoa học, Đại học Y Dược TP. HCM. Tiến



13



hành thử nghiệm hoạt tính sinh học trên tế bào ung thư bằng Phương pháp

Sulforhodamine B (SRB). Môi trường McCoy’s 5A từ Gibco BRL (Đan Mạch) và

huyết thanh (FBS) từ Seromed (Đức). Chất chuẩn resveratrol, dimetylsulfoxid

(DMSO), Sulforhodamine B (SRB), acid tricloroacetic (TCA) và propidium iodua

được mua từ Sigma-Aldrich (Đan Mạch). Tris-base và acid acetic được mua từ

hang Merck.

Tế bào ung thư được ni cấy trong bình Roux đạt độ phủ 80-90%. Huyền

phù để tách lớp đơn tế bào. Đếm và phủ tế bào vào đĩa 96 giếng với mật độ 10000

tế bào/ giếng, tiến hành ủ trong 24h, tại 37 oC, 5% CO2. Thêm các chất cần thử với

nồng độ khác nhau (chất chứng dương là resveratrol), tiếp tục ủ trong 48h, tại 37 oC,

5% CO2. Cố đinh tế bào bằng TCA 50%, đặt vào tủ 4 oC trong 1h sau đó rửa 5 lần

với nước. Nhuộm SRB trong thời gian 20 phút ở nhiệt độ phòng. Rửa 4 lần với acid

acetic 1%, hòa tan SRB đã gắn bằng 10nM Tris-base, lắc trên máy 10 phút, đọc kết

quả ở bước song 492 và 620 nm. Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×