Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

TỔNG QUAN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tốc độ tăng trưởng dệt may trong giai đoạn 2008-2013 đạt 14,5%/năm đưa Việt

Nam trở thành một trong những quốc gia có tớc đợ tăng trưởng kim ngạch xuất

khẩu dệt may nhanh nhất thế giới.

Điều kiện thuận lợi

Ngành dệt may nước ta có những điều kiện thuận lợi cho phát triển như :

nguồn nhân lực trẻ , dồi dào , thị trường tiêu thụ trong nước lớn (hơn 80 triệu

dân) , ngoài ra còn thị trường tiêu thụ tiềm năng tương đối lớn ở nước ngoài. Khí

hậu nước ta rất phù hợp để phát triển nguồn nguyên liệu tự nhiên cho ngành dệt.

Với lợi thế ổn định chính trị-xã hội và nguồn lao đợng, Dệt may Việt Nam

đang có nhiều cơ hội để tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt khi các hiệp

định thương mại Đối tác xuyên Chấu Á - Thái Bình Dương (TTP), Hiệp đinh

thương mại tự do song phương Việt Nam - EU (FTA) được kí kết trong thời gian

tới. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng thị trường nội địa theo

Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt May đến năm 2020, tầm nhìn 2030

của Bợ Cơng Thương sẽ đạt khoảng 10%-12%/năm.

Khó khăn

Mặc dù vậy, các doanh nghiệp trong ngành dệt may vẫn phải đới mặt với

khơng ít khó khăn, thách thức khi hội nhập sâu với thị trường quốc tế: sự cạnh

tranh gay gắt giữa các nước xuất khẩu, các rào cản thương mại ngày càng tăng từ

các thị trường nhập khẩu lớn, nhất là từ Hoa Kỳ với các yêu cầu khắt khe về trách

nhiệm xã hội, nhãn mác sinh thái, bảo vệ môi trường…

1.2. Yếu tố chính tác động đến ngành

1.2.1. Tình hình kinh tế



2/17



Ngành dệt may là ngành nắm

giữ vị trí kim ngạch xuất khẩu hàng

đầu của cả nước. Hoạt đợng xuất

khẩu đóng vai trò quan trọng trong

ngành với kim ngạch xuất khẩu

chiếm, 80% tổng doanh thu toàn

ngành, tuy nhiên, nguyên phụ liệu

của ngành cũng phụ thuộc 70% vào

hàng nhập khẩu. Do đó, ngành dệt

may chịu tác đợng mạnh của tình

hình biến đợng kinh tế toàn cầu.

Đồng thời, tình hình lạm

phát, biến đợng lãi suất, tỷ giá hối

đoái cũng ảnh hưởng lớn đến giá cả

đầu vào (nhất là đối với một ngành

phụ thuộc nhập khẩu nguyên vật liệu

như dệt may) và đặc biệt việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp.



1.2.2. Nguyên liệu đầu vào

Hiện nay, Việt Nam chỉ có thể sản

xuất hơn 3.000 tấn bơng/năm, đáp ứng

được 5% nhu cầu của ngành dệt trong

nước. Sợi tổng hợp phải nhập khẩu hoàn

toàn và sợi bông cho sản xuất hàng dệt

kim cũng phải nhập khẩu với số lượng

lớn hàng năm. Hơn nữa, dù ngành hoá

chất trong nước tương đối phát triển

nhưng 100% hoá chất nhuộm và hơn

80% hoá chất khác vẫn phải nhập khẩu.

Như vậy, vấn đề nguyên liệu chính là vấn

đề nan giải cho ngành dệt. Cho đến nay,

mặc dù cây bơng Việt Nam có những

điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng cơ

chế và tổ chức thực hiện còn lúng túng.

Có tới 95% ngun liệu chính (bơng)

phải nhập khẩu với giá không ổn định.

Hiện tại các doanh nghiệp dệt vẫn phải chạy theo thị trường mua bông theo kiểu

mớ món, giá cả thất thường làm cho sản xuất kinh doanh ở thế bị động và bất lợi.

Đầu ra của dệt chính là đầu vào cho may hay nói cách khác là sản phẩm của

ngành dệt chính là nguyên liệu cho ngành may. Nhưng nguyên vật liệu ngành dệt

3/17



trong nước chưa đáp ứng được do chất lượng thấp, nên phải nhập do đó rất bị

đợng, thường khơng đồng bộ. Các sản phẩm dệt thường không đạt tiêu chuẩn về

chất lượng và có tính chất đơn điệu. Vải sợi sản xuất trong nước phần lớn được sử

dụng ở các doanh nghiệp địa phương để sản xuất quần áo cho nông thôn và vùng

xa, chỉ thoả mãn một số nhu cầu của thành thị. Điều này chính là nguyên nhân gây

khó khăn cho các nhà chế tạo may mặc và thời trang, cũng như các nhà thiết kế để

nâng cao hiệu suất sử dụng các nguồn nguyên liệu trong nước.Trên 80% vải sẵn có

trong nước hiện nay đều phải nhập khẩu. Thậm chí các doanh nghiêp may thuộc

Tổng công ty Dệt may cũng không sử dụng vải do các công ty trong nước sản

xuất, có tới 90% nguyên vật liệu để sản xuất hàng may mặc xuất khẩu phải nhập từ

nước ngoài nên bị phụ thuộc vào nhà cung cấp bên ngoài. Vì vậy, giá trị xuất khẩu

của ngành may lớn nhưng nguyên liệu chính và phụ phần lớn đều phải nhập khẩu

nên hiệu quả thấp.

Tóm lại, chủ đợng nguồn nguyên liệu trong nước hiện nay có ý nghĩa rất

quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa, đặc biệt là hàng

xuất khẩu vào những thị trường mà Việt Nam đã và sẽ kí kết các hiệp định thương

mại tự do, yếu tố nguyên liệu trong nước giúp thỏa mãn yêu cầu về các quy tắc

xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan.



1.2.3. Xu hướng tiêu dùng sản phẩm

Môi trường văn hoá xã hội kinh tế càng phát triển, đời sớng và thu nhập

càng cao thì con người càng chú trọng đến các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong

đó có quần áo. Thêm vào đó, xu hướng về thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng

đới với các sản phẩm may mặc cũng có sự biến đổi liên tục.Trong khi đó, ngành

dệt may hiện nay chỉ mới tập trung và phát triển ở khâu may, trong khi chuỗi sản

xuất của ngành là dệt - may - nhuộm. Nếu các doanh nghiệp may không chú trọng

đầu tư đúng mực cho công tác thiết kế sẽ nhanh chóng bị tụt hậu trong c̣c cạnh

tranh khớc kiệt này.

Trong khi mức sống của một bộ phận người dân ngày càng cao, chạy theo

xu hướng chuyển sang tiêu dùng hàng may mặc cao cấp nhập khẩu từ Hàn Quốc,

Đài Loan, Nhật Bản,…một bộ phận hàng may mặc Trung Quốc với giá thành rẻ và

kiễu mẫu đa dạng cũng khá phù hợp với thị hiếu của người Việt Nam đang dần

chiếm lĩnh thị trường may mặc nội địa. Tuy nhiên, người Việt vẫn có tâm lý “ăn

chắc mặc bền”, nên những sản phẩm chất lượng tốt của các doanh nghiệp trong

nước vẫn được nhiều khách hàng tin dùng như Việt Tiến, May 10, Thành Công,

Thăng Long,…. Đây là một thuận lợi cho các doanh nghiệp khi muốn chiếm lại thị

trường nội địa hiện đang bị hàng ngoại quốc tấn công và thống trị.



4/17



1.2.4. Thiết bị công nghệ

Công nghệ là yếu tố cơ bản đảm bảo cho quá trình sản xuất đạt hiệu quả

cao. Máy móc thiết bị làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản

xuất từ đó làm giảm giá thành sản phẩm…Nếu máy móc thiết bị hiện đại phù hợp

với trình đợ của người sử dụng thì máy được sử dụng hết cơng suất, sản phẩm làm

ra vừa có chất lượng cao,vừa có mẫu mã phong phú sẽ dễ được thị trường chấp

nhận hơn.

Tuy nhiên, công nghệ lạc hậu, năng lực sản xuất kém là một trong những

hạn chế của ngành hiện nay. Hoạt động phần lớn là thực hiện gia công cho nước

ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giản, còn những sản phẩm đòi hỏi kỹ

thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng được . Vì thế, sự đầu tư

đúng mức, hợp lý về công nghệ để phát huy hết tiềm năng là điều cấp thiết trong

ngành.

1.2.5. Nguồn nhân lực

Dệt may hiện là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhất. Lao động

của ngành dệt may chiếm hơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp và gần

5% trong tổng lực lượng lao động toàn quốc. Nguồn nhân lực của ngành Dệt May

Việt Nam có những đặc thù sau:

 Gần 80% là lao đợng nữ, trình độ văn hoá của những lao động này chủ yếu

là đã tốt nghiệp THCS, THPT. Lao động trực tiếp của ngành đa sớ tuổi đời

còn rất trẻ, tỷ lệ chưa có gia đình cao sẽ là lợi thế cho việc đào tạo và nâng

cao năng suất lao động. Tuy nhiên, hiện nay đang có sự phàn nàn của người

cơng nhân về thời gian làm việc dài, thường xuyên phải tăng ca, tăng giờ,

phải làm việc muộn đến khuya và phải ngồi một chỗ trong thời gian dài,

kiệt sức và không còn thời gian cũng như sức lực để tụ tập vui chơi với bạn

bè, tìm bạn trai hoặc mở rợng quan hệ xã hội.

 Mức độ tập trung lao động dệt may trong các doanh nghiệp khơng cao, do

có hơn 70% các doanh nghiệp dệt may là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có sớ

lao đợng dưới 300 người, sớ doanh nghiệp từ 1000 người trở lên chỉ có 6%.

Với đợ phân tán như vậy, nếu khơng liên kết lại thì hoạt đợng đào tạo sẽ

khó triển khai hiệu quả. Lao động trong ngành hiện nay tăng nhanh và tập

trung chủ ́u trong các doanh nghiệp ngoài q́c doanh, sau đó là doanh

nghiệp 100% vớn nước ngoài. Hai loại hình doanh nghiệp này hiện nay

đang thu hút 2/3 lao động của toàn ngành dệt may. Thường các doanh

nghiệp này hiện nay lại có khuynh hướng đầu tư cho việc thu hút lao đợng,

chứ khơng có khuynh hướng đầu tư mạnh cho hoạt động đào tạo.

 Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay đang phân bổ theo các cụm

công nghiệp dệt may. Hai vùng tập trung nhiều lao động ngành dệt may và

có sự tăng trưởng nhanh trong những năm qua là Vùng Đông Nam Bộ

5/17



(chiếm gần 62% lao động của toàn ngành) và Đồng bằng sông Hồng (hơn

22%). Các tỉnh thành tập trung nhiều lao động dệt may là thành phớ Hồ

Chí Minh, tỉnh Bình Dương, Tỉnh Đồng Nai, Hà Nợi, Thái Bình, Nam

Định...Sự tập trung lao đợng vào các cụm dẫn đến tình trạng di dân, và kéo

theo là đời sớng người lao đợng có tính chất tạm bợ, khơng ổn định, khó

khăn, dẫn đến những vấn đề gây mất ổn định xã hội. Dần dần làm sút giảm

sức hấp dẫn của việc di cư tìm việc làm trong ngành tại các cụm công

nghiệp dệt may. Và khi các địa phương đều phát triển ngành dệt may thì

xuất hiện tình trạng lao đợng di chuyển ngược từ các cụm công nghiệp này

về lại các địa phương mà từ đó họ đã ra đi.

Lao đợng có trình đợ thạc sĩ và đại học của toàn ngành hầu hết cũng tập

trung ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Hai vùng này cũng tập

trung hầu hết các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cấp độ đại học, cao đẳng của

ngành.

Xét tỷ lệ lao đợng có trình độ cao đẳng trở lên trên tổng số lao động toàn ngành thì

đó là mợt con sớ quá khiêm tớn - hơn 4%. Tuy là ngành sử dụng nhiều công nhân, nhưng

một tỷ lệ như vậy vẫn bị các chuyên gia trong ngành đánh giá là quá thấp.

Nhận định chung về lực lượng cán bộ hiện nay của ngành dệt may đang có

xu hướng già đi, và chưa có lớp kế cận. Lý do là thu nhập bình quân của ngành

thấp hơn so với các ngành khác và điều kiện làm việc cũng như đãi ngộ cũng

không tốt, nên thiếu hấp dẫn trong việc thu hút lao động.

Cán bộ thiết kế mẫu mốt, cán bộ marketing trong các doanh nghiệp dệt may

đang rất thiếu và yếu, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng internet để tạo lợi thế tiếp

cận khách hàng ở các nước cũng như marketing cho công ty và sản phẩm.

Về năng suất lao động, cả kéo sợi, dệt thoi và may mặc của ta đều có năng suất lao

đợng còn thấp hơn so với khu vực. Cùng mợt ca làm việc - năng suất lao đợng bình quân

của một lao động ngành may Việt Nam chỉ đạt 12 áo sơ mi ngắn tay hoặc 10 quần thì một

lao động Hồng Kông năng suất lao động là 30 áo hoặc 15 - 20 quần.

Theo tính toán của Hiệp hội dệt may và Tổng công ty Dệt May, để đáp ứng nhu

cầu đầu tư cho ngành dệt may đảm bảo đáp ứng mục tiêu của toàn ngành đặt ra đòi hỏi

mợt lượng lao đợng đáng kể bổ sung, trong đó: nhu cầu cho lao đợng may là lớn nhất

157.500 người, tiếp đến là dệt, nhuộm cần mới 108.355 người, nguyên liệu cần 3.390

người.

Do yêu cầu về lao động của ngành Dệt May tăng rất nhanh nên khả năng

đáp ứng của cơ sở đào tạo không theo kịp. Dẫn đến tính trạng tranh giành lao động

giữa các doanh nghiệp trong ngành tăng lên đã đến mức báo đợng.

Khi tình trạng mất người xảy ra với xác xuất cao, các doanh nghiệp ngại đào tạo

người lao đợng vì khả năng họ rời bỏ công ty sau khi được đào tạo là quá lớn. Doanh

nghiệp không đào tạo, nhân viên cảm thấy khơng thỏa mãn nhu cầu được học tập của

mình lại ḿn ra đi tìm nơi khác nhiều hơn.

6/17



Những bất cập về nguồn nhân lực, đặc biệt là về chất lượng nguồn nhân lực đã

làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của toàn ngành. Mục tiêu hiện nay mà ngành dệt

may đặt ra cho mình là phấn đấu đứng trong top 10 nước và tiến tới là top 5 nước xuất

khẩu dệt may lớn của thế giới, và định hướng phát triển của ngành là theo hướng thời

trang – công nghệ - thương hiệu. Với hướng đi như vậy nguồn nhân lực của toàn ngành

dệt may phải hướng đến chất lượng cao, nguồn nhân lực cần là yếu tố quan tâm số một

trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh, đào tạo cần được coi là giải pháp cơ bản và quan

trọng nhất để nguồn nhân lực đạt đến chất lượng mong muốn.

1.2.6. Chính trị và pháp luật

Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn về xã hợi, có

sức hấp dẫn đới với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Bản thân Việt

Nam tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cũng mở rộng tiếp cận

thị trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam vẫn thể hiện xu hướng tăng, mặc dù có

giảm mạnh trong năm 2008. Bên cạnh đó, việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu

rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới cũng tạo điều kiện tiếp cận

thị trường tốt hơn cho hàng dệt may. Việt Nam hiện đã là thành viên của WTO,

đồng thời cũng đã đang tham gia ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự

do quan trọng ở cả cấp độ song phương (như Hiệp định đối tác thương mại Việt Nhật) và đa phương (như các hiệp định trong khung khổ của ASEAN như ACFTA,

AKFTA, v.v).Những cam kết của Việt Nam đối với cải cách và phát triển kinh tế

đã tạo được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, và mở ra những thị trường mới

cũng như các quan hệ hợp tác mới.

1.3. Tình hình hoạt đợng ngành dệt may từ 2010- q I/2015

Trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 1,883 tỷ USD, tăng

17,5% và chiếm 16,8%; sang Nhật đạt 1,154 tỷ USD, tăng 21% và chiếm 10,3%.

Mặc dù năm 2011, kinh tế thế giới rất khó khăn nhưng kim ngạch xuất

khẩu hàng dệt-may Việt Nam vẫn tăng trưởng cao, kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay đạt 13,8 tỷ USD, xuất khẩu xơ sợi các loại ước đạt 1,8 tỷ USD, tổng cộng đạt

15,6 tỷ USD, tăng gần 30% so với năm 2010, tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu xuất khẩu

của cả nước.

Năm 2012, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

đã bị ảnh hưởng mạnh bởi tác động của khủng hoảng kinh tế, đặc biệt là đối với

thị trường châu Âu- thị trường trọng điểm của ngành dệt may. Lượng đơn đặt hàng

của các thành viên trong hiệp hội quý IV/2012 ước giảm 10% so với cùng kỳ năm

2011.

Bên cạnh sự giảm sút về kim ngạch xuất khẩu, khủng hoảng khu vực EU

khiến đồng euro biến động và mất giá liên tục, hàng dệt may của Việt Nam xuất đi

EU giao dịch bằng euro nhưng đa số doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ

7/17



Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan... phải thanh toán bằng USD. Chính sự chênh

lệch từ phương thức thanh toán tỷ giá khiến không ít doanh nghiệp xuất khẩu dệt

may sụt giảm lợi nhuận. Năm 2012 là năm có nhiều biến đợng bất lợi nhưng về cơ

bản xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam sang các thị trường vẫn tăng

trưởng ổn định. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt 7,5 tỷ USD,

tăng gần 9,2% so với cùng kỳ; Nhật Bản đạt 2 tỷ USD, tăng 19,3%; Hàn Quốc đạt

1,3 tỷ USD tăng 9%; Các thị trường khác như Liên Xô cũ, Châu Phi, Trung

Đông… đạt 3,7 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ; Duy chỉ có kim ngạch xuất

khẩu sang thị trường EU giảm từ 2,8 tỷ USD năm 2011 xuống 2,4 tỷ USD năm

2012.

Thị trường Hàn Quốc đang trở thành một thị trường tiềm năng của các

doanh nghiệp dệt may, bởi sức tiêu thụ ở thị trường này là khá lớn. Hiện thị trường

Hàn Quốc đứng thứ 4 trong số các nước nhập khẩu hàng dệt may của Việt nam chỉ

sau Mỹ, Nhật và EU. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 11 tháng đầu năm

2012 đã tăng 20,9% so với cùng kỳ và đạt 994.159.014 USD.

Năm 2013, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ tăng gần 13%

trong khi nhập khẩu của Mỹ chỉ tăng gần3%, Nhật Bản nhập khẩu gần như khơng

tăng thì chúng ta xuất khẩu tăng khoảng 13% và Hàn Q́c duy trì được tớc đợ

tăng trưởng xuất khẩu gần 30%.

Năm 2014, hàng dệt may Việt Nam tăng trưởng tốt ở nhiều thị trường chính

như Hoa Kỳ (chiếm 47% thị phần); EU (chiếm 16,2% thị phần); Hàn Quốc (hơn

10% thị phần) và giữ mức tăng trưởng ổn định tại thị trường Nhật Bản (12,5% thị

phần). Nếu tính tổng gộp cả XK dệt may và xơ sợi, vải không dệt và NPL dệt may

thì tổng KNXK dệt may toàn ngành năm 2014 đạt 24.692 tỷ USD, tăng 17,07% so

với 2013.

Việt Nam đã vươn lên là nhà cung cấp dệt may lớn thứ hai về lượng và trị

giá vào Nhật Bản. Trong Top 9 các nhà cung cấp hàng dệt may lớn vào Nhật Bản,

Việt Nam là nhà cung cấp đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất, với mức tăng

9,77% về trị giá so với cùng kỳ năm 2013, đạt trên 2,6 tỷ USD. So với các nhiệm

kỳ trước, ngành Dệt May Việt Nam có sự thay đổi mạnh mẽ về kết cấu sản phẩm,

sự tăng trưởng của Dệt May Việt Nam luôn đạt từ 18 – 20%/năm.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt và

may mặc ước đạt 6,55 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ.Từ đầu năm 2015 đến

nay, số lượng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam vẫn

đang gia tăng, nhằm đón đầu các Hiệp định thương mại tự do như TPP, FTA Việt

Nam - EU, FTA Việt Nam - Hàn Quốc… mà ngành dệt may Việt Nam được nhận

định sẽ được hưởng lợi nhiều nhất do nhiều dòng thuế sẽ giảm về 0%.



8/17



1.4. Triển vọng

Ngành dệt may sẽ tiếp tục tăng trưởng về sản lượng, doanh thu và lợi nhuận

do kinh tế thế giới đang hồi phục. Trong giai đoạn 2011 – 2020 dự kiến tăng

trưởng 12 - 14% và đạt kim ngạch xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2020. Đặc biệt

là ở các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Q́c đều có tớc

đợ tăng trưởng doanh thu cao trong quý 1 năm 2015. Xu hướng đó xuất phát từ

những ngun nhân sau:

 Các cơ hợi đến từ Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), cùng

các hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc, EU và Liên minh Thuế quan Nga Belarus - Kazakhstan được ký kết góp phần làm giảm thuế nhập khẩu, làm tăng

sản lượng xuất khẩu vào các thị trường quan trọng này, tăng khả năng cạnh tranh

với các sản phẩm đến từ Trung Quốc vốn không được hưởng ưu đãi này.

 Các doanh nghiệp đang chuyển hướng sản xuất từ phương thức gia công CMT

sang FOB, ODM. Đây là những phương thức tạo ra tỷ suất lợi nhuận cao hơn và

doanh nghiệp có sự chủ đợng hơn trong hoạt đợng sản xuất kinh doanh, từ đó làm

gia tăng doanh thu, lợi nhuận.

 Bên cạnh đó, xu hướng giá duy trì ở mức thấp, ổn định của các nguyên vật liệu

đầu vào như sợi (sợi tổng hợp và sợi bơng), vải có thể tiếp diễn, giúp cải thiện biên

lợi nhuận cho các doanh nghiệp dệt may. Lãi suất thấp và đang giảm góp phần

giảm chi phí tài chính, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất. Tuy nhiên,

chi phí lương tăng ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may do

đây là một ngành thâm dụng lao đợng.

 Ngành dệt may còn ́u về cơ sở hạ tầng và các ngành công nghiệp phụ trợ, giá trị

gia tăng không cao. Tuy nhiên, nắm bắt cơ hội từ TPP, nhiều tập đoàn dệt may

nước ngoài có kế hoạch đầu tư lớn vào ngành dệt may Việt Nam, đầu tư trực tiếp

nước ngoài tăng cao sẽ góp phần cải thiện cơng nghệ, cơ sở hạ tầng, tăng năng

suất lao động, cũng như tạo động lực nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh

nghiệp dệt may trong nước, góp phần cải thiện những yếu kém của ngành dệt may

trong nước. Tập đoàn Dệt may Yulun Giang Tô của Trung Quốc gần đây đã nhận

được giấy phép xây dựng nhà máy dệt may, nhuộm và sợi trong một khu công

nghiệp ở tỉnh Nam Định, dự định sẽ đi vào hoạt động vào giữa năm 2016 với công

suất 9.816 tấn sợi, 21,6 triệu mét vải và nhuộm 24 triệu mét cả sợi lẫn vải mỗi

năm. Tại thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Forever Glorious thuộc tập đoàn

Sheico của Đài Loan đã cam kết đầu tư 50 triệu USD để sản xuất quần áo và phụ

kiện thể thao nước. Dự kiến, nhà máy này cần 3.550 lao động. Công ty TNHH

Gain Lucky thuộc tập đoàn Thần Châu Quốc tế đặt trụ sở tại Trung Quốc, đơn vị

chuyên gia công hàng may mặc cho các hãng lớn như Nike, Adidas và Puma, cũng

9/17



đã công bố kế hoạch đầu tư 140 triệu USD vào thành phố Hồ Chí Minh nhằm xây

dựng một khu trung tâm rộng 45 ha dành riêng cho việc thiết kế và sản xuất các

sản phẩm cao cấp.

 Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là nhập khẩu, phần lớn là từ Trung Quốc, Ấn Độ.

Tuy nhiên, hiện nay sản lượng bông trong nước đang ngày càng gia tăng, cũng như

sự mở rộng thị trường nhập khẩu bông từ châu Phi đã giúp giảm sự lệ thuộc vào

thị trường Trung Q́c. Trong đó, mợt sớ dự án sẽ bắt đầu hoạt động từ năm nay

như dự án của Yulun Giang Tô (Trung Quốc) hay Nam Phương Textile (Hồng

Kơng). Các dự án này có thể góp phần gia tăng nguồn cung nguyên phụ liệu trong

nước, giúp các doanh nghiệp Việt Nam tăng tỷ lệ nợi địa hóa. Đây là điều cần thiết

để các doanh nghiệp dệt may đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ của các hiệp định

thương mại và giảm sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (khoảng 70%).

1.5. Chu kì sớng của ngành dệt may Việt Nam.

Trong những năm qua, mặc dù chịu nhiều tác động xấu của hai cuộc suy

thoái kinh tế toàn cầu (2008-2011), ngành dệt may Việt Nam vẫn có mợt tốc độ

phát triển nhanh và ổn định, trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực

của nước ta. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, sẩn phẩm dệt may của Việt Nam

đã được xuất khẩu sang 180 quốc gia và nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới.

Theo nghiên cứu mới nhất của Tổ chức Xúc tiến xuất khẩu từ các nước

đang phát triển sang EU (CBI) thuộc Bộ Ngoại giao Hà Lan, tốc độ tăng trưởng

xuất khẩu hàng dệt may trong giai đoạn 2005 – 2011 của Việt Nam đạt mức cao

nhất thế giới với 32%, trong khi đó Trung Quốc đạt 15%, Ấn Độ 10%, các nước

Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia, Thái Lan đạt mức 7%.

Năm 2012, mặc dù ngành dệt may toàn cầu gặp nhiều khó khăn song xuất

khẩu dệt may Việt Nam tiếp tục giữ mức tăng trưởng trên 8%. Xuất khẩu dệt may

của Việt Nam sang các thị trường lớn vẫn tăng trưởng ổn định mặc dù nhập khẩu

dệt may nói chung vào các thị trường này đều tăng chậm, thậm chí giảm. Cụ thể

nhập khẩu dệt may vò thị trường Mỹ năm 2012 giảm 0,5% nhưng nhập khẩu từ

Việt Nam vẫn tăng 9,2%; nhập khẩu dệt may vào Nhật Bản tăng 8% nhưng nhập

khẩu từ Việt Nam tăng mạnh 19,3%; thậm chí tại thị trường Hàn Quốc khi nhập

khẩu dệt may vào thị trường này giảm 7% thì nhập khẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9%.

Điều này chứng tỏ các sản phẩm dệt may của Việt Nam ngày càng khẳng định

được uy tín trên thị trường thế giới.

Giai đoạn 2010-2014, trong điều kiện kinh tế còn nhiều bất ổn, dệt may

Việt Nam vẫn giữ mức tăng trưởng tốt. Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu đạt 24,5

tỷ USD; tăng 19% so với năm 2013. Đặc biệt, trong tất cả các tháng năm 2014,

kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đều đạt trên 1 tỷ USD.



10/17



Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Với đà tăng trưởng như năm 2014 cùng với sức hút từ các FTA sắp kí kết,

Vitas dự kiến ngành dệt may có kế hoạch xuất khẩu từ 28 đến 28,5 tỷ USD; tăng

15,9% trong năm 2015.

Kim ngạch xuất khẩu tăng cao và điều đáng mừng hơn là tỷ lệ FOB và

ODM trong xuất khẩu dệt may đã tăng lên, giảm tỷ lệ gia công, nâng cao giá trị

gia tăng của sản phẩm. Năm 2014, với 24,5 tỷ kim ngạch xuất khẩu, dệt may đã

mang lại thặng dư thương mại 12 tỷ USD.

Bên cạch thị trường xuất khẩu tiềm năng, ngành dệt may cũng đang chú

trọng tới thị trường trong nước. Ngành dệt may đã nỗ lực đầu tư cho sản xuất, tích

cực mở rộng kênh phân phối để chiếm lĩnh thị phần, đẩy lùi hàng nhập ngoại kém

chất lượng. Và sản phẩm may mặc nội ngày càng được nhiều người tiêu dùng ưa

chuộng. Những năm gần đây, hàng dệt may tiêu thụ nội địa tăng trung bình 10 –

15%/năm. Năm 2014, tiêu thụ nợi địa hàng dệt may đạt 70 ngàn tỷ đồng, đáp ứng

tốt nhu cầu trong nước.

Như vậy, ngành dệt may Việt Nam đang trên đà tăng trưởng. Với những

điều kiện thuận lợi: (1) Sự tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dệt may nội địa và thế

giới, (2) Sự chuyển dịch chuỗi giá trị sản xuất – thương mại toàn cầu, (3) Cơ hội

đột phá từ các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, ngành dệt

may Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng trong tương lai.

2. MƠ HÌNH MICHEAL PORTER



́u tớ



Mức đợ

Trung

Thấp

bình



Cao



Nhận định

11/17



Lợi thế kinh

CÁC

tế từ quy mô

RÀO

CẢN GIA

NHẬP

NGÀNH

Khả năng

tiếp cận các

kênh phân

phối



x



x



Yêu cầu về

vốn



x



Chính sách

khún

khích của

chính phủ



Dị biệt hóa

sản phẩm



x



x



Khi tăng quy mơ, chi phí cớ định

giảm, bên cạnh đó chi phí lưu

đợng cũng giảm do mua được

nguyên liệu đầu vào với chi phí

thấp hơn ( đơn hàng lớn), chi phí

nhân công giảm.

Thị trường nội địa với gần 90

triệu dân là những khách hàng

mục tiêu và tiềm năng cho ngành

dệt may. Ngoài ra tham gia vào

TPP mở ra cơ hội cho ngành dệt

may tiếp cận với những thị

trường kinh tế hàng đầu thế giới

như Hoa Kì, Nhật Bản. Tuy nhiên

việc xây dựng hệ thớng phân phối

và đáp ứng những yêu cầu về mặt

kĩ thuật là vô cùng quan trọng.

Công nghệ là yếu tố đảm bảo quá

trình sản xuất đạt hiệu quả cao.

Đới với ngành dệt may, máy móc

thiết bị đóng vai trò quan trọng

đến năng suất và chất lượng sản

phẩm tạo ra do đó yêu cầu đầu tư

vào tài sản cố định tương đối lớn.

Với định hướng xây dựng ngành

dệt may trở thành một trong

những ngành công nghiệp mũi

nhọn trong giai đoạn 2015 –

2020, chính phủ đang có nhiều

chính sách khuyến khích và hỗ

trợ các doanh nghiệp dệt may

phát triển, chuyển đổi cơ cấu sản

xuất và xây dựng thương hiệu

riêng, tận dụng những lợi thế mà

TPP mang lại.

Phần lớn các doanh nghiệp hiện

nay chủ yếu nhận gia công từ đơn

đặt hàng của nước ngoài do đó

khả năng tiếp cận và nắm bắt nhu

cầu thị trường là chưa cao, khả

năng tạo ra những sự khác biệt về

sản phẩm là tương đối thấp.

12/17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×