Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Quy định giá trị nồng độ của các thông số ô nhiễm trong QCVN 28:2010/BTNMT.

Bảng 1.1: Quy định giá trị nồng độ của các thông số ô nhiễm trong QCVN 28:2010/BTNMT.

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



12



13



Tổng hoạt độ phóng xạ β



Tổng coliforms



Salmonella



14



Shigella



15



Vibrio cholerae



Bq/l

MPN/

100ml

Vi khuẩn/

100 ml

Vi khuẩn/

100ml

Vi khuẩn/

100ml



1,0



1,0



3000



5000



KPH



KPH



KPH



KPH



KPH



KPH



Nguồn: QCVN 28:2010/BTNMT.

1.1. Nguồn gốc phát sinh nước thải bệnh viện

Trong quá trình hoạt động của bệnh viện, nước thải sinh ra trong tồn bộ khn viên

bệnh viện bao gồm các loại khác nhau với nguồn thải tương ứng như sau:





Nước thải là nước mưa thu gom trên toàn bộ diện tích khn viên bệnh

viện.







Nước thải sinh hoạt của cán bộ và công nhân viên trong bệnh viện; của

bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân thăm nuôi bệnh.









Nước thải phát sinh từ các hoạt động khám và điều trị bệnh.

Nước thải phát sinh ra từ các cơng trình phụ trợ (thiết bị xử lý khí thải, giải

nhiệt máy phát điện dự phòng, giải nhiệt cho các máy điều hồ khơng khí,...)



1.1.1. Nước thải sinh hoạt

Là loại nước thải ra sau khi sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt trong bệnh viện: ăn

uống, tắm rửa, vệ sinh,... từ các nhà làm việc, các khu nhà vệ sinh, nhà ăn, căn

tin,...Thành phần và tính chất nước thải sinh hoạt trong bệnh viện cũng giống như

nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư: có chứa các chất cặn bã, các chất hữu cơ hoà

tan (các chỉ tiêu BOD, COD), các chất dinh dưỡng (nitơ, phốt pho) và vi trùng. Chất

lượng nước thải sinh hoạt này vượt quá tiêu chuẩn qui định hiện hành và có khả

năng gây ơ nhiễm hữu cơ, làm giảm lượng oxy hoà tan (DO) vốn rất quan trọng đối

với đời sống của các sinh vật thủy sinh tại nguồn tiếp nhận.



1.1.2. Nước thải do các hoạt động khám và điều trị bệnh

Loại nước thải này có thể nói là loại nước thải có mức ơ nhiễm hữu cơ và chứa

nhiều vi trùng gây bệnh nhiều nhất trong số các dòng thải nước của bệnh viện.

Nước thải loại này phát sinh từ nhiều khâu và các quá trình khác nhau trong bệnh

viện như: giặt, tẩy quần áo bệnh nhân, khăn lau, chăn mền, drap cho các giường

bệnh; rửa các vật dụng y khoa, xét nghiệm, giải phẫu, sản nhi; vệ sinh lau chùi làm

sạch các phòng bệnh và phòng làm việc,... Tuỳ theo từng khâu và quá trình cụ thể

mà tính chất nước thải và mức độ ô nhiễm khi đó sẽ khác nhau.

1.1.3. Nước thải từ các cơng trình phụ trợ

Hoạt động của bệnh viện đòi hỏi phải sử dụng một lượng nước nhất định để phục vụ

cho các máy móc và thiết bị phụ trợ,... Tuỳ theo tính chất sử dụng mà mức độ ơ

nhiễm khác nhau như: nước thải giải nhiệt máy phát điện dự phòng có nhiệt độ cao

hơn so với ban đầu nhưng vẫn có thể khống chế nằm dưới mức cho phép thải

(<450C).

Nhìn chung nước thải bệnh viện đặc trưng là chứa nhiều mầm bệnh đặc biệt là các

bệnh truyền nhiễm. Một số khu vực có mức độ nhiễm vi sinh gây bệnh, cặn lơ lửng,

các chất hữu cơ rất cao như:





Nước thải khu giải phẫu: chứa máu và các bệnh phẩm,...







Nước thải khu xét nghiệm: chứa nhiều vi trùng gây bệnh khác nhau.



Giá trị BOD, COD, cặn lơ lửng ở khu vực này vượt quá nhiều lần so với chỉ tiêu

cho phép. Ngồi ra nước thải còn có khả năng nhiễm xạ từ các khu chụp X –

Quang, rửa phim. Việc xử lý nước thải bị nhiễm phóng xạ rất khó khăn và tốn kém

chi phí (do chu kì phân hủy các chất phóng xạ khá lâu). Đây là loại chất thải nguy

hại nên cần có khu vực chứa chất thải và hệ thống xử lý riêng biệt.

1.2. Đặc điểm của nước thải bệnh viện

1.2.1. Thành phần

Các thành phần chính của nước thải bệnh viện gây ô nhiễm môi trường là:





Các chất hữu cơ.







Các chất dinh dưỡng.







Các chất rắn lơ lửng.







Các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh: Salmonella, tụ cầu, liên cầu, virus đường tiêu

hóa, bại liệt, các loại kí sinh trùng, amip, nấm,...







Các mầm bệnh sinh học khác trong máu, mủ, dịch, đờm, phân của người bệnh.







Các loại hóa chất độc hại từ cơ thể và chế phẩm điều trị, thậm chí cả chất

phóng xạ



Bảng 1.2: Thành phần ơ nhiễm chính trong nước thải bệnh viện.

Chất ơ nhiễm đặc trưng



Hàm lượng



pH



6÷8



SS (mg/l)



100 ÷ 150



BOD (mg/l)



150 ÷ 250



COD (mg/l)



300 ÷ 500



Tổng coliform (MNP/100ml)



105 ÷ 107



Nguồn: báo khoa học cơng nghệ, 2014.

1.3. Tính chất

1.3.1. Tính chất hóa lý

Việc sử dụng các chất tẩy rửa của bệnh viện tạo nguy cơ làm xấu đi mức độ hoạt

động của các cơng trình xử lý nước thải bệnh viện. Điều này nảy sinh yêu cầu cao

hơn đối với quá trình xử lý nước thải bệnh viện thiết kế và xây dựng hệ thống làm

sạch cục bộ.

1.3.2. Đặc trưng về vi trùng và virus

Điểm đặc thù của nước thải bệnh viện làm cho nó khác với nước thải sinh hoạt là sự

lan truyền rất mạnh của các vi rút và vi khuẩn gây bệnh. Đặc biệt là những bệnh

viện chuyên điều trị các bệnh truyền nhiễm và bệnh lao cũng như các bệnh viện đa

khoa.

Nước thải bệnh viện còn là nơi phát sinh ra các nguồn vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn

đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới

bằng nước thải. Như vậy nước thải bệnh viện khác nước thải sinh hoạt bởi lượng

chất ô nhiễm tính trên một giường bệnh lớn hơn 2-3 lần lượng chất bẩn gây ơ nhiễm

tính trên một đầu người. Ở cùng một tiêu chuẩn sử dụng nước thì nồng độ chất bẩn

trong nước thải bệnh viện sẽ cao hơn nhiều.

Từ những nguyên nhân trên, chúng ta thấy rằng cần phải xếp nước thải bệnh viện

vào loại nước thải riêng biệt khác với nước thải sinh hoạt và yêu cầu xử lý cũng

phải cao hơn.

1.4. Vấn đề ô nhiễm môi trường do nước thải bệnh viện



Hiện nay trên cả nước có khoảng 13.500 cơ sở y tế, thải ra 150.000 m 3 nước

thải một ngày. Loại nước thải y tế này ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và hàm lượng vi

sinh vật cao gấp 100-1000 lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Theo ông Jordan Ryan, nguyên Trưởng đại diện thường trú Quỹ Mơi trường Tồn

cầu (UNDP) tại Việt Nam, có 80% trường hợp mắc bệnh do nguồn nước bị ô nhiễm,

trong đó có một phần là từ nước thải của các bệnh viện.

Hiện nay, do việc xả nước thải bệnh viện chưa qua xử lý hay chưa xử lý triệt để ra

môi trường đã làm cho môi trường bị ô nhiễm một cách trầm trọng. Tại các điểm

của hệ thống xả nước thải bệnh viện và các nguồn tiếp nhận có hiện tượng bốc mùi

hơi thối và nước có màu đen kịt.

1.5.



Hiện trạng xử lý nước thải bệnh viện hiện nay



Phó Giáo sư Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế)

cho biết, theo thống kê báo cáo của các địa phương, về xử lý nước thải bệnh viện

cho biết, trong số các bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải thì bệnh viện tuyến

Trung ương chiếm 73%, tuyến tỉnh là 60% và tuyến huyện là 45%. (nguồn: Báo

khoa học công nghệ).

Trong 172 bệnh viện khảo sát có 108 bệnh viện đa khoa cả công lập và tư lập chiếm

62,8%, 64 bệnh viện chuyên khoa công lập và tư lập của ngành chiếm 38,2%; số

giường bệnh (g) trung bình/cơ sở y tế tại TP. Hồ Chí Minh cao nhất, tiếp đến là Hà

Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế lần lượt là: 434,3; 341,9; 254,2; 221,2; 157,3

giường/cơ sở. Các bệnh viện đều hoạt động quá tải so với giường bệnh (g) kế

hoạch. Tỷ lệ quá tải càng cao dẫn đến chất thải, đặc biệt là nước thải càng lớn, và

các cơng trình xử lý sẽ bị q tải, do đó sẽ khơng đạt hiệu quả trong xử lý, gây tràn

và làm ô nhiễm môi trường.

Nước thải bệnh viện chứa nhiều vi khuẩn lây bệnh, nhưng không phải bệnh viện

nào cũng xử lý theo QCVN 28:2010 ngày 16/12/2010 Bộ TN&MT. Hải Phòng, có

3/17 số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải và 3/17 số bệnh viện có hệ thống xử

lý khơng hoạt động, 11/17 bệnh viện khơng có hệ thống xử lý nước thải. Hà Nội có

36/61 bệnh viện khơng có hệ thống xử lý nước thải , 22/61 bệnh viện có hệ thống

xử lý nước thải, 3/61 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải không hoạt động. Thành

phố Hồ Chí Minh, có 5 bệnh viện khơng có hệ thống xử lý nước thải; 40 bệnh viện

có hệ thống xử lý nước thải; 6 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải không hoạt

động hoặc hệ thống xử lý nước thải khơng đạt u cầu,... Nhìn chung số bệnh viện

có hệ thống xử lý nước thải chiếm 52,3 % (90/172), số bệnh viện khơng có hệ thống

xử lý nước thải chiếm 40,7% (70/172), còn lại số bệnh viện có hệ thống xử lý nước

thải khơng hoạt động thì chiếm 7% (12/172). Nhiều hệ thống xử lý nước thải bệnh

viện đang hoạt động với công suất quá tải, chủ yếu các hệ thống xử lý nước thải

được xây dựng bằng ngân sách Nhà nước (chiếm 86,7%).

Bảng 1.3: Kết quả điều tra hệ thống xử lý nước thải bệnh viện.

Thành phố



Số phiếu trả lời



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Quy định giá trị nồng độ của các thông số ô nhiễm trong QCVN 28:2010/BTNMT.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×