Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguồn: báo khoa học công nghệ, 2014.

Nguồn: báo khoa học công nghệ, 2014.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hiện nay trên cả nước có khoảng 13.500 cơ sở y tế, thải ra 150.000 m 3 nước

thải một ngày. Loại nước thải y tế này ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và hàm lượng vi

sinh vật cao gấp 100-1000 lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Theo ông Jordan Ryan, nguyên Trưởng đại diện thường trú Quỹ Môi trường Tồn

cầu (UNDP) tại Việt Nam, có 80% trường hợp mắc bệnh do nguồn nước bị ơ nhiễm,

trong đó có một phần là từ nước thải của các bệnh viện.

Hiện nay, do việc xả nước thải bệnh viện chưa qua xử lý hay chưa xử lý triệt để ra

môi trường đã làm cho môi trường bị ô nhiễm một cách trầm trọng. Tại các điểm

của hệ thống xả nước thải bệnh viện và các nguồn tiếp nhận có hiện tượng bốc mùi

hơi thối và nước có màu đen kịt.

1.5.



Hiện trạng xử lý nước thải bệnh viện hiện nay



Phó Giáo sư Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế)

cho biết, theo thống kê báo cáo của các địa phương, về xử lý nước thải bệnh viện

cho biết, trong số các bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải thì bệnh viện tuyến

Trung ương chiếm 73%, tuyến tỉnh là 60% và tuyến huyện là 45%. (nguồn: Báo

khoa học công nghệ).

Trong 172 bệnh viện khảo sát có 108 bệnh viện đa khoa cả cơng lập và tư lập chiếm

62,8%, 64 bệnh viện chuyên khoa công lập và tư lập của ngành chiếm 38,2%; số

giường bệnh (g) trung bình/cơ sở y tế tại TP. Hồ Chí Minh cao nhất, tiếp đến là Hà

Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế lần lượt là: 434,3; 341,9; 254,2; 221,2; 157,3

giường/cơ sở. Các bệnh viện đều hoạt động quá tải so với giường bệnh (g) kế

hoạch. Tỷ lệ quá tải càng cao dẫn đến chất thải, đặc biệt là nước thải càng lớn, và

các cơng trình xử lý sẽ bị q tải, do đó sẽ khơng đạt hiệu quả trong xử lý, gây tràn

và làm ô nhiễm môi trường.

Nước thải bệnh viện chứa nhiều vi khuẩn lây bệnh, nhưng không phải bệnh viện

nào cũng xử lý theo QCVN 28:2010 ngày 16/12/2010 Bộ TN&MT. Hải Phòng, có

3/17 số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải và 3/17 số bệnh viện có hệ thống xử

lý không hoạt động, 11/17 bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải. Hà Nội có

36/61 bệnh viện khơng có hệ thống xử lý nước thải , 22/61 bệnh viện có hệ thống

xử lý nước thải, 3/61 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải khơng hoạt động. Thành

phố Hồ Chí Minh, có 5 bệnh viện khơng có hệ thống xử lý nước thải; 40 bệnh viện

có hệ thống xử lý nước thải; 6 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải khơng hoạt

động hoặc hệ thống xử lý nước thải không đạt yêu cầu,... Nhìn chung số bệnh viện

có hệ thống xử lý nước thải chiếm 52,3 % (90/172), số bệnh viện không có hệ thống

xử lý nước thải chiếm 40,7% (70/172), còn lại số bệnh viện có hệ thống xử lý nước

thải khơng hoạt động thì chiếm 7% (12/172). Nhiều hệ thống xử lý nước thải bệnh

viện đang hoạt động với công suất quá tải, chủ yếu các hệ thống xử lý nước thải

được xây dựng bằng ngân sách Nhà nước (chiếm 86,7%).

Bảng 1.3: Kết quả điều tra hệ thống xử lý nước thải bệnh viện.

Thành phố



Số phiếu trả lời



Có HT

XLNT



Khơng hoạt

động



Xử lý khơng

đạt u cầu



Tổng phiếu



Đà Nẵng



16



0



4



20



TP HCM



40



6



5



51



Hà Nội



22



3



36



61



Hải Phòng



3



3



11



17



Huế



9



0



14



23



Tổng phiếu



90 (52,3 %)



12 (7%)



70(40,7 %)



172 (100%)



Nguồn: Báo khoa học công nghệ, 2014

Trung bình hệ thống xử lý nước thải đạt cơng suất 0,45 m 3/g, lượng nước sử dụng là

0,65 m3/ngày, công suất thiết kế hệ thống xử lý nước thải là 0,93 m3/ngày.

Bảng 1.4: Nước sử dụng và lưu lượng nước thải tại hệ thống xử lý nước thải

Hà Nội



TP.HCM



Hải

Phòng



Đà

Nẵng



Huế



Nước sử dụng



m3/ngà

y



m3/ngày



m3/ngà

y



m3/ngà

y



m3/ngà

y



Số bệnh viện điều tra



22



40



5



14



2



Nước thực tế qua XL



0,448



0,604



0,322



0,459



0,443



Nước sử dụng và thải bỏ



0,644



0,661



0,332



0,625



0,489



Công suất thiết kế

XLNT



0,925



0,698



0,513



0,872



0,722



Thành Phố



Nguồn: Báo khoa học công nghệ, 2014



1.6. Ảnh hưởng của nước thải bệnh viện đến con người và môi trường

1.6.1. Đối với con người

Nước thải bệnh viện là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng lan truyền vào

nguồn nước những tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường tiêu hóa.



Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến

dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng

nước thải.

Khi nước thải bệnh viện được xả thải ra môi trường mà không qua xử lý hoặc xử lý

khơng đạt u cầu thì các chất độc hại, vi sinh vật gây bệnh trong nước thải sẽ xâm

nhập vào môi trường và đi theo chuỗi thức ăn đi vào cơ thể con người gây ra các

căn bệnh nguy hiểm. Ngoài ra, khi người dân sử dụng nước bị ơ nhiễm do nước thải

bệnh viện cũng có thể mắc phải các bệnh ngoài da, nếu tiếp xúc lâu sẽ có nguy cơ

mắc bệnh hiểm nghèo.

1.6.2. Đối với mơi trường

Hiện nay, do nguồn kinh phí còn hạn hẹp nên hầu hết các bệnh viện và trung tâm y

tế ở nước ta khơng có hệ thống xử lý nước thải hoặc hệ thống xử lý nước thải hoạt

động kém hiệu quả.

Do vậy, khi nước thải xả ra môi trường sẽ chứa nhiều chất bẩn và vi trùng, virus gây

bệnh. Bên cạnh đó, một số bệnh viện vì hệ thống mương dẫn xây dựng đã lâu nên bị

rò rỉ ra mơi trường xung quanh. Các chất bẩn trong hệ thống nương dẫn nước thải bị

phân hủy dưới tác động của các vi sinh vật sinh ra các khí độc như: H 2S, CH4,

NH3,... gây mùi hơi thối khó chịu. Đồng thời các vi sinh vật phát triển bám vào các

hạt bụi trong khơng khí lan tỏa khắp nơi có thể gây dịch bệnh. Chính điều này là

nguyên nhân gây nên sự nhiễm trùng hậu phẫu cho bệnh nhân.

Hiện nay, tình trạng ô nhiễm các nguồn nước đang ngày càng tăng và trở nên báo

động. Ở các bệnh viện chưa có hệ thống phân luồng các nguồn nước thải, khi nước

mưa chảy tràn sẽ cuốn theo nước thải bệnh viện đi vào nguồn nước mặt như: ao, hồ,

sông, các con kênh,... Nguồn nước mặt, một phần ngấm xuống đất mang theo các

chất ô nhiễm, vi sinh vật đi vào các nguồn nước ngầm, gây ô nhiễm nước ngầm,

một phần gây ô nhiễm đất, nếu đi vào cây trồng (cây lương thực,cây ăn quả,…) chất

độc sẽ theo chuỗi thức ăn tích tụ trong cơ thể con người gây độc hại lớn.

1.7.



Một số phương pháp xử lý nước thải bệnh viện



Đối với nước thải mang tính chất đặc trưng của các bệnh viện, nếu chỉ sử dụng quá

trình xử lý bằng phương pháp sinh học đơn thuần sẽ khó có thể giải quyết được các

nguy cơ gây bệnh cũng như các chất khó phân hủy sinh học như: thuốc kháng sinh,

các chất hoạt động bề mặt,…

Vì vậy, để đảm bảo nước thải bệnh viện sau xử lý không chỉ đạt các chỉ tiêu thông

thường về vi sinh mà còn bảo đảm được các chỉ tiêu về hóa học như: các chất hữu

cơ khó/khơng phân hủy sinh học, cơng nghệ tích hợp sẽ được áp dụng vào quá trình

xử lý nước thải bằng phương pháp kết hợp q trình hóa học có mặt chất xúc tác

(chất oxy hóa mạnh) và q trình sinh học để khử lượng thuốc kháng sinh dư cũng

như các chất hoạt động bề mặt (tẩy rửa) mà không thể tự phân hủy sinh học.



Một số phương pháp xử lý nước thải bệnh viện đang được áp dụng tại địa phương:



Nước thải bệnh viện



Song chắn rác (SCR)



Hố thu gom

Sục khí



Bể điều hòa



Sục khí



Bể Aerotank

Tuần hồn

Bể lắng 2



Clo



Bể khử trùng



Bùn lắng

Bể chứa bùn



Cống thốt nước



Hình 1.1: Hệ thống xử lý nước thải trung tâm y tế Dĩ An- Bình Dương



Nước thải bệnh viện

Song chắn rác (SCR)

Hố thu gom

Sục khí



Bể điều hòa



Sục khí



Bể lọc sinh học

Tuần hoàn

Bể lắng 2



Clo



Bùn lắng



Bể khử trùng



Bể chứa bùn

Cống thốt nước



Hình 1.2: Hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Nhiệt Đới

Các thiết bị chính dùng trong dây chuyền xử lý:





Song chắn rác

Là thiết bị đầu tiên trong dây chuyền. Song chắn rác được đặt ngay sau hố

thu nước thải nhằm loại bỏ các vật thể có kích thước lớn.







Bể điều hòa

Điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải nhằm đảm bảo hiệu suất cho các

công đoạn xử lý tiếp theo.







Bể lắng sơ cấp.

Bể này dùng để lắng các cặn lơ lửng có trong nước thải.







Thiết bị xử lý sinh học

Là phương pháp xử lý hiếu khí bằng vi sinh vật để làm giảm hàm lượng chất

hữu cơ trong nước thải. Trong đó bể lọc cao áp được chọn vì phù hợp với

diện tích nhỏ hẹp của bệnh viện.







Bể lắng thứ cấp

Đặt ngay sau thiết bị lọc sinh học, có tác dụng tách màng vi sinh vật lơ lửng

được tạo ra trong quá trình xử lý chất hữu cơ.







Bể khử trùng



Thiết bị cuối trong hệ thống, được đặt trước cống xả nhằm tiêu diệt vi trùng

gây bệnh trong nước thải trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung.



Nước thải bệnh viện

Thu gom

chất thải

rắn



Lưới lọc rác



Khí sạch



Hố gom

Bùn được hút bỏ

định kỳ

Bùn hồi lưu



Bể điều hòa kỵ khí



Cung cấp khí



Bể thiếu khí (Axonic)



dd

NaOH

5%



Bể hiếu khí (FBR)



Bể lắng



Chlorine



Bể khử trùng



Cống thốt nước đơ thị



Hình 1.3: Hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Quận Tân Phú



Nước thải bệnh viện

Song chắn rác

Ngăn tiếp nhận

Bể điều hoà

Bể lắng kết hợp

với phân hủy kị

khí

Máy thổi khí



Bể Aerotank

Bể lắng đợt II



Hố chất



Bể ổn định bùn



Bể khử trùng

Cống thốt nước



Hình 1.4: Hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Da Liễu



CHƯƠNG 2



TÍNH TỐN VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG

XỬ LÝ NƯỚC THẢI

2.1.



Thành phần và tính chất nước thải đầu vào



Thành phần và tính chất nước thải bệnh viện sử dụng trong đề tài được liệt kê theo

bảng 2.1 với số giường bệnh là 300 giường. Qua đó ta chọn hệ số K =1

Bảng 2.1: Thành phần và tính chất của nước thải.



ST

T



Chỉ tiêu ơ nhiễm

đặc trưng



1



pH



2



Cặn lơ lửng (SS)



3



Đơn vị đo



Nồng độ



QCVN

28:2010/BTNMT

Mức A



7



6,5-8,5



mg/l



220



50



Nhu cầu oxi sinh

học (BOD5)



mg/l



300



30



4



Nhu cầu oxi hóa học

(COD)



mg/l



200



50



5



Tổng Nito



mg/l



25



30



6



Tổng Photpho



mg/l



3,2



6



7



Tổng Coliform



MPN/100 ml



3000000



3000



Nguồn: bệnh viện đa khoa Củ Chi

So với QCVN 28:2010/BTNMT các thơng số ơ nhiễm gồm có: Cặn lơ lửng, BOD 5,

COD, Coliform đều vượt so với quy chuẩn. Do đó nên cần phải được xử lý nước

thải trước khi thải bỏ.

2.2.



Cơ sở lựa chọn



Dựa vào bảng 2.1 ta thấy nhiều thông số vượt quá quy chuẩn cho phép như: SS,

BOD5, COD, Coliform.Do đó cần phải xây dựng hệ thống để xử lý.

Các phương án lựa chọn để xử lý nước thải bệnh viện Q=950m3/ngày.đêm





Để loại bỏ các loại rác lớn cần đặt song chắn rác trước hệ thống







Cần xây dựng một hố gom để gom chất thải sau đó mang đi xử lý.







Cần xây dựng bể điều hòa để nhằm mục đích điều hòa lưu lượng và nồng độ

của nước thải.







Ta có tỉ lệ BOD5/COD = 220/300 = 0,7 > 0,5 và BOD5 = 220mg/l <

1000mg/l nên có thể sử dụng bể sinh học hiếu khí Aerotank để làm giảm hàm

lượng BOD5, COD.







Xây dựng bể lắng để lắng bùn hoạt tính do sau khi nước thải qua bể Aerotank

sẽ tạo ra một lượng lớn bùn hoạt tính.







Khử trùng bằng Clo để loại bỏ các vi sinh vật gây bệnh.







Cần xây dựng bể chứa bùn để thu gom lượng bùn sử dụng lại tiết kiệm một

phần chi phí cho hệ thống xử lý.







Xây dựng thêm bể nén bùn để làm khô bùn để giảm bớt độ ẩm và thể tích

bùn nhằm giảm chi phí xử lý.



2.3.



Đề xuất phương án



Phương án 1: Dùng bể Aerotank



Nước thải bệnh viện

Song chắn rác (SCR)

Hố thu gom

Sục khí



Bể điều hòa

Bùn tuần hồn



Sục khí



Bể Aerotank

Bể lắng



Clo



Bùn lắng

Bể khử trùng

QCVN 28:2010/BTNMT

Cống thốt nước



Bể chứa bùn



Hình 2.1: Quy trình xử lý nước thải bệnh viện bằng phương pháp dùng bể Aerotank

(phương án 1)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguồn: báo khoa học công nghệ, 2014.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×