Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cá Bơn (S. maximus)

Cá Bơn (S. maximus)

Tải bản đầy đủ - 0trang

DHA. Dầu thực vật như dầu đậu nành, dầu bắp chứa tỷ lệ cao n6 PUFA và n6 HUFA

mà các lồi cá nước ngọt nhiệt đới có nhu cầu thiết yếu. Việc phối hợp dầu cá và dầu

đậu nành trong thức ăn để cân đối nhu cầu acid béo thiết yếu là yêu cầu mà người thiết

lập công thức thức ăn phải đáp ứng.

Theo Owen (1975), một phần nhỏ của acid eicosapentaenoic (EPA) trong cơ thể

cá được tổng hợp từ acid linolenic (LNA), còn acid arachidonic (AA) là một chuyển

hóa chất của acid linoleic (LOA). Vì vậy, việc cung cấp LOA và LNA vào khẩu phần

thức ăn là cần thiết để góp phần vào sự tăng trưởng và sức khỏe của tơm cá.

Tuy nhiên, trong q trình biến dưỡng, cả LOA và LNA đều sử dụng chung một

số enzyme, vitamin (B3, B6, C, E) và các chất khoáng (Mg, Zn). Nếu LOA quá nhiều,

nó sẽ chiếm lấy hết các enzyme và vitamin khiến LNA khơng thể hoạt động một cách

hồn hảo được. Trong trường hợp chỉ sử dụng LNA có thể dẫn đến sự thiếu hụt acid

arachidonic (20:4n-6, AA) hoặc acid docosapentaenoic (22:5n-6, DPA). Vì thế, việc

kết hợp hai acid béo này trong khẩu phần sẽ cho hiệu quả tích cực hơn so với việc sử

dụng riêng lẻ (Crawford, 2009). Tỷ lệ kết hợp giữa LNA và LOA cũng là vấn đề rất

quan trọng. Theo khuyến cáo của WHO/FAO (1978) thì tỷ lệ n6/n3 khơng được vượt

q 5 : 1. Tất nhiên tùy theo mỗi loài cá mà tỷ lệ n6/n3 sẽ thay đổi, một tỷ lệ kết hợp

tối ưu sẽ cho hiệu quả tối ưu.

2.6. Các nghiên cứu về nhu cầu lipid và acid béo thiết yếu

Một nghiên cứu của Craig và ctv (2006) đánh giá tăng trọng của cá Giò khi cho

ăn với thức ăn gồm hai mức protein (40 và 50%) và ba mức lipid (6, 12 và 18%) cung

cấp 344, 360 và 396 kcal/100g thức ăn. Kết quả thí nghiệm cho thấy thức ăn có 50 %

protein thô và 12 % lipid cho tăng trưởng cao nhất, mặc dù ảnh hưởng của yếu tố

protein đơn lẻ thì khơng có ý nghĩa.

Ji-Teng Wang và ctv (2005) đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả sử dụng của lipid

cho sự phát triển của cá Giò giống (7,7 gram/con). Khẩu phần ăn được phối trộn với ba

mức lipid (5 %, 15 % và 25 %) và một mức protein thô 47 %. Sau sáu tuần tiến hành

thí nghiệm ghi nhận ở hai mức lipid 5 % và 15 % cá phát triển tốt hơn 25 % lipid.

Khẩu phần thức ăn chứa 15 % lipid thì cá tăng tưởng cao nhất (tương ứng với mức

protein 47 %).

Turner và Rooker (2005) đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của acid béo đến

các mơ cơ của ấu trùng cá Giò và cá Giò giống. Các dữ liệu thí nghiệm sau khi so sánh

19



với các nghiên cứu khác cho thấy PUFA trong khẩu phần được chuyển hóa một cách

hiệu quả nhanh chóng với ấu trùng cá Giò và cá Giò giống. Tuy nhiên, nghiên cứu này

chỉ giới hạn với cá Giò giống và khơng thí nghiệm trên cá trưởng thành, vì thế mối liên

quan giữa tỷ lệ của hợp phần PUFA trong khẩu phần và tỷ lệ tăng trưởng cần phải

được xác định trước đó. Tỷ lệ tăng trưởng của ấu trùng cá Giò trong thí nghiệm vào

khoảng 1,23 mm/ ngày từ ngày thứ 49 đến 64, trong khi tỷ lệ tăng trưởng của cá Giò

trưởng thành (2-3 năm tuổi) được dự đốn vào khoảng 0,35-0,50 mm/ngày.

Xiao-ying Tan và cộng sự (2009) nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ lệ acid

linoleic/acid linolenic đến tăng trưởng và cơ chế biến dưỡng ở cá da trơn Trung Quốc

(Pelteobagrus fulvidraco). Kết quả tăng trọng tốt nhất với cá được cho ăn các khẩu

phần chứa tỷ lệ LNA/LOA là 1,17 và 2,12 (P<0,05), đồng thời tỷ lệ chuyển đổi thức ăn

cũng thấp nhất ở hai khẩu phần này. Kết quả còn cho thấy tỷ lệ LNA/LOA có tác động

đến một vài enzyme liên quan đến cơ chế biến dưỡng ở gan như : lipoprotein lipase,

hepatic lipase, lactate dehydrogenase, do đó tỷ lệ LNA/LOA cũng có ảnh hưởng đến

cơ chế biến dưỡng trong gan.

Justi và ctv (2003) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của acid béo thiết yếu đến tăng

trưởng của cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) với thí nghiệm kéo dài 30 ngày. Cá

được cho ăn năm khẩu phần thức ăn có chứa năm loại acid béo là : palmitic (C16:0),

stearic (C18:0), oleic (C18:1n-9), linoleic (C18-2n-6) và α-linolenic (C18:3n-3). Sau

thí nghiệm nhận thấy cá tăng trọng tốt nhất ở nghiệm thức thứ 5 cùng với sự vượt trội

của acid α-linolenic, từ đó tác giả đã chỉ ra lợi ích của việc dùng dầu lanh (flaxseed oil)

trong thức ăn viên vì có tác dụng hiệu quả đến cấu hình acid béo.

Williams và Barlows (1999) đã nghiên cứu về tỷ lệ acid béo LNA/LOA đối với

cá Chẽm và ảnh hưởng của nhiệt độ nước đến nhu cầu acid béo. Kết quả nghiên cứu

cho thấy rằng tỷ lệ LNA/LOA tối ưu với cá Chẽm là 1,5-1,8 : 1, đồng thời nhu cầu

acid béo có xu hướng tăng khi nhiệt độ cao hơn.

Nhìn chung, đối với những nghiên cứu kể trên, một số đã thử nghiệm và tìm ra tỷ

lệ acid béo LOA/LNA nhưng trên những đối tượng nuôi khác chứ khơng phải trên cá

Giò. Với các nghiên cứu trên đối tượng cá Giò đề cập đến vấn đề nhu cầu hay ảnh

hưởng của acid béo đều nhận thấy tầm quan trọng của các acid béo nói chung, n6/n3

PUFA nói riêng đối với sự tăng trưởng và chất lượng thịt của cá. Thế nhưng các nghiên

cứu này giới hạn ở chỗ chỉ nhận thấy được nhu cầu cần phải bổ sung acid béo trong

20



khẩu phần thức ăn cho cá Giò chứ khơng xác định tỷ lệ thích hợp là bao nhiêu. Trong

nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện việc xác định tỷ lệ tối ưu của acid linoleic (LOA)

và acid linolenic (LNA) với cá Giò ở giai đoạn thương phẩm. Vấn đề này được thảo

luận trong mối liên quan đến dinh dưỡng và cơ chế biến dưỡng của cá Giò.



CHƯƠNG 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 26 tháng 10 năm 2009 đến 17 tháng 12 năm

2009 ở Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Bạc Liêu - Phân Viện nghiên cứu thủy sản Minh

Hải - Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 2.

Địa chỉ: 18/7 Cao Văn Lầu, Phường Nhà Mát, Tx Bạc Liêu.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Cá Giò được ni trong giai đến khi đạt kích cỡ trung bình mỗi con trên 200g

thì tiến hành tuyển chọn bắt lên dùng cho thí nghiệm. Cá được chọn là những con có

kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, khơng dị tật, màu sắc đẹp.



21



216 cá được nuôi trong 36 bể thí nghiệm (6 con cá mỗi bể x 3 lần lặp cho mỗi

nghiệm thức x 12 nghiệm thức)

3.3. Vật liệu thí nghiệm

3.3.1. Trang thiết bị dùng trong thí nghiệm

























36 bể composite 1500m3.

Máy bơm nước (EABRA - Italy).

Ống nhựa PVC, van khóa nước các loại (Bình Minh - Tp HCM).

Máy sục khí (HAILEA - Trung Quốc).

Đá bọt và ống khí (Omega - Đài loan).

Máy ép đùn (máy xay thịt).

Tủ sấy.

36 vợt có mắt lưới 70 micro.

Máy đo Oxy, nhiệt độ (Hanna - Romania).

Máy đo pH (Hanna - Romania).

Cân đồng hồ (Cty Nhơn Hòa - Tp.HCM)



3.3.2. Nguyên liệu làm thức ăn

Bột cá Cà Mau, bột huyết, bột bắp, bột tôm, bột đậu nành trích ly Ấn Độ, chất

kết dính (wheat gluten), vitamin, enzyme, chất chống mốc (fungistop), DL- Methionin,

Lysine, mỡ bò, mỡ heo, dầu hạt hướng dương và dầu lanh.

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Ch̉n bị cá giò thịt thí nghiệm

Cá Giò có trọng lượng lớn hơn 200 g được đem đi ni thí nghiệm, tổng số 216

con, chọn ra các con có kích cỡ đồng đều cho vào các bể. Tổng cộng có 36 bể thí

nghiệm, mỗi bể chứa 6 con cá giò thịt. Cá được tắm bằng cách dùng formol 150-200

ppm trong 30 phút trước khi cho cá vào mỗi bể. Cuối thí nghiệm, cá ở mỗi bể được

cân và đếm số lượng.

3.4.2. Hệ thống thí nghiệm

Hệ thống thí nghiệm được đặt ngồi trời gồm 36 bể composite có dung tích

1500 lít/bể. Các bể được bố trí thành 3 dãy, mỗi dãy có 12 bể composite và được gắn

bảng chứa số thứ tự của công thức thức ăn lên trên từng bể. Nước biển được bơm liên

tục để cấp vào hệ thống bể composite thí nghiệm từ hệ thống ao lắng ở Trại Thực

Nghiệm Thủy Sản Bạc Liêu, với lưu tốc nước là 0,2 m 3/giờ. Nước biển ở ao lắng trước

khi cấp được tẩy trùng bằng hóa chất TCCA 90% với liều 1ppm và để sau 5 ngày thì

bắt đầu cấp.



22



Hệ thống thí nghiệm được cấp và thốt nước liên tục (mỗi bể composite có van

cấp và van thốt nước) để tạo môi trường trong sạch, tạo điều kiện thuận lợi cho sự

tăng trưởng và phát triển bình thường của cá.

3.4.3. Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí với 2 nhân tố :

Nhân tố 1 là 3 mức acid linoleic khác nhau : 0,8 %, 1,5 % và 2,2 %

Nhân tố 2 là 4 mức acid linolenic khác nhau : 0,6 %, 1,1 %, 1,6 % và 2,1 %

Thí nghiệm sẽ có 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp có 6 con cá. Các nghiệm thức được

bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên – RCB (Randomized Complete Block

Design).



Mơ tả cơng thức thí nghiệm :

STT



Tên NT



Mơ tả



Số lần lặp



1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12



LGT 1

LGT 2

LGT 3

LGT 4

LGT 5

LGT 6

LGT 7

LGT 8

LGT 9

LGT 10

LGT 11

LGT 12



0,8 % LOA : 0,6 % LNA

0,8 % LOA : 1,1 % LNA

0,8 % LOA : 1,6 % LNA

0,8 % LOA : 2,1 % LNA

1,5 % LOA : 0,6 % LNA

1,5 % LOA : 1,1 % LNA

1,5 % LOA : 1,6 % LNA

1,5 % LOA : 2,1 % LNA

2,2 % LOA : 0,6 % LNA

2,2 % LOA : 1,1 % LNA

2,2 % LOA : 1,6 % LNA

2,2 % LOA : 2,1 % LNA



3

3

3

3

3

3

3

3

3

3

3

3



3.4.4. Chuẩn bị thức ăn cho cá

Phân tích thành phần sinh hóa của các ngun liệu làm thức ăn về: độ ẩm,

protein, lipid, tro, can xi, phốt pho, chất xơ (tại Trung Tâm Công Nghệ Sau Thu



23



Hoạch, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 2, Quận 1, Tp HCM), acid béo thiết

yếu (tại Trung Tâm Dịch Vụ Phân Tích Thí Nghiệm, Quận 1, Tp HCM).

Thức ăn được phối trộn từ các thành phần chính gồm: bột cá Cà Mau, bột

huyết, bột bắp, bột tôm, bột đậu nành trích ly Ấn Độ, chất kết dính (wheat gluten),

vitamin, enzyme, chất chống mốc (fungistop), DL- Methionin, Lysine.

Bốn nguyên liệu giàu lipid gồm mỡ bò, mỡ heo, dầu hướng dương và dầu lanh

được dùng để thiết lập các tỷ lệ khác nhau của acid linoleic và acid linolenic.

12 công thức thức ăn sẽ được dùng để thí nghiệm bao gồm 3 mức acid linoleic

(0,8; 1,5 và 2,2 %) cùng với 4 mức acid linolenic (0,6; 1,1; 1,6 và 2,1 %).

Tất cả các cơng thức sẽ có cùng hàm lượng về protein (54 %), chất béo (11 %),

chất tro (14 %) và năng lượng (19 MJ/kg)

Dựa vào kết quả phân tích các thành phần sinh hóa của ngun liệu làm thức

ăn, thức ăn thí nghiệm được phối trộn các tỷ lệ LOA/LNA bằng phần mềm phối trộn

Brill Feed Formulation để cho ra các mức acid linoleic và acid linolenic như trong

thiết kế thí nghiệm.

Các nguyên liệu sau khi được phối trộn các thành phần lại với nhau, thêm nước

vào với tỷ lệ thích hợp giúp tăng khả năng kết dính của viên thức ăn. Thức ăn được ép

viên bằng máy ép đùn (máy xay thịt) với đường kính viên thức ăn là 4 mm. Sau khi

thức ăn ẩm được ép đùn ra sẽ được sấy khô ở nhiệt độ 50-60 0C trong thời gian 24 giờ

và để nguội rồi cho vào bao nilon để bảo quản.

Trong suốt thời gian thí nghiệm, thức ăn được cho vào các hộp nhựa tương ứng

với các nghiệm thức. Thức ăn mỗi lần cho vào hộp đều được ghi nhận lại trọng lượng.

Thức ăn sau khi sấy và để nguội lấy mẫu 100 gram đem đi phân tích về độ ẩm, thành

phần sinh hóa (tại Trung Tâm Công Nghệ Sau Thu Hoạch, Viện Nghiên Cứu Ni

Trồng Thủy Sản 2, Quận 1, Tp HCM).

Hình 3.1 Thức ăn được ép viên bằng máy ép đùn



Hình 3.2 : Tủ sấy thức ăn



24



3.4.5. Cho ăn và thu thức ăn dư

Cá được cho ăn hai lần trong ngày (lúc 7.00h và lúc 16.00h) đến mức chúng

khơng ăn nữa thì dừng lại. Thức ăn thừa trong bể được thu lại bằng cách siphon sau

khi cho cá ăn khoảng 30 phút và được gom theo từng bể cho vào hộp bảo quản trong

tủ đơng ở nhiệt độ - 20oC. Khi hồn tất thí nghiệm, thức ăn thừa sẽ được sấy khơ trong

tủ sấy ở nhiệt độ 105oC trong thời gian 16-24 giờ để xác định độ ẩm. Khối lượng của

thức ăn thừa được dùng để tính tốn lượng thức ăn mà cá ăn vào thật sự.

3.4.6. Thu thập số liệu

Hằng ngày theo dõi và ghi nhận các chỉ tiêu chất lượng nước như: hàm lượng

oxy hòa tan (DO), độ mặn (S ‰), nhiệt độ, pH.

Cá được cân theo định kỳ 30 ngày/lần để xác định tốc độ tăng trưởng.

Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm = 100 x (số lượng cá còn lại/số lượng cá ban đầu)

Các chỉ tiêu tăng trọng trung bình (AWG), tốc độ tăng trưởng riêng (SGR), hiệu

quả chuyển hóa thức ăn (FCR) được tính tốn theo Tacon (1990 a).

 Tăng trọng trung bình (Average Weight Gain - AWG)

Trọng lượng cuối cùng (Wf) – Trọng lượng ban đầu (Wi)

AWG (%) = 100 *

Trọng lượng ban đầu (Wi)

 Tốc độ tăng trưởng (Specific Growth Rate - SGR)

SGR (%/ ngày) = 100 *( LnWf - LnWi)/ (T2 – T1)

Với T1 là thời gian bắt đầu thí nghiệm (T1 = 0)

T2 là thời gian kết thúc thí nghiệm

 Hệ số chuyển hóa thức ăn (Feed Conversion Ratio - FCR)

FCR = Lượng thức ăn sử dụng/ Tăng trọng cá thí nghiệm

Lượng thức ăn sử dụng (g) = khối lượng thức ăn cho cá ăn – khối lượng thức ăn dư

Xác định độ ẩm và trọng lượng thức ăn sử dụng trước và sau thí nghiệm, độ ẩm

và trọng lượng thức ăn thừa thu được qua q trình siphon để tính FCR.

Những con cá chết trong lúc tiến hành thí nghiệm do khơng ăn, bệnh tật được vớt

ra và cân trọng lượng ngay lúc đó, trọng lượng được cộng vào lần cân cá cuối cùng để

tính hệ số thức ăn.

3.4.7. Phân tích thống kê

Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hồn tồn gồm 2 nhân tố. Các số

liệu phần trăm được chuyển đổi Arsin trước khi phân tích ANOVA ở mức ý nghĩa nhỏ

hơn hoặc bằng 0.5. So sánh sự khác nhau giữa các nghiệm thức bằng LSD test. Toàn



25



bộ các chỉ số thống kê được thực hiện trên phần mềm STATISTICA 9.0 của công ty

Statsoft, USA.



CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Chất lượng nước thí nghiệm

Sự biến thiên về nhiệt độ nước và độ mặn được thể hiện trong đồ thị 4.1. Nhiệt

độ nước trong suốt q trình thí nghiệm dao động từ 27,26-28,54 oC và độ mặn dao

động từ 20-25 ppt. Khoảng biến thiên này phù hợp cho sự phát triển của cá giò thịt

(Kaiser và ctv, 2005).



Đồ thị 4.1 Biến động của nhiệt độ và độ mặn được đo trong bể composite trong

59 ngày tiến hành thí nghiệm



26



Sự biến thiên của pH và oxy hồ tan qua 59 ngày thí nghiệm được thể hiện qua

đồ thị 4.2. Hàm lượng oxy hoà tan trong các bể thí nghiệm dao động từ 5,28-6,00

mg/L và pH dao động từ 6,9-7,8. Nhìn chung hàm lượng oxy hồ tan và pH trong suốt

q trình thí nghiệm thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cá giò

(Kaiser và ctv, 2005).



Đồ thị 4.2 Biến động của DO và pH được đo trong bể composite trong

59 ngày tiến hành thí nghiệm

4.2. Kết quả về tăng trọng và tốc độ tăng trọng

Ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn thí nghiệm lên tăng trưởng của cá Giò

được mơ tả chi tiết qua bảng 4.1. Khi cả hai acid béo LOA và LNA cùng hiện diện

trong khẩu phần thức ăn, một sự ảnh hưởng tương tác đã được quan sát như sau : cá

tăng trọng nhanh nhất (157,85 ± 19,9 %) và có tốc độ tăng trọng cao nhất (2,36 ± 0,2

%) với khẩu phần chứa 0,8 % LOA và 1,1 % LNA. Khi tỷ lệ LOA : LNA dao động

tăng hoặc giảm so với tỷ lệ này thì cá giảm tăng trọng, cùng với tốc độ tăng trọng cũng

giảm theo. Tăng trọng thấp nhất ở công thức LGT 11 là 79,14±14,5 (2,2 % LOA và 1,6

% LNA). Riêng đối với trường hợp khẩu phần có chứa hàm lượng LOA và LNA cao

nhất (lần lượt là 2,2 % và 2,1 %) lại cho kết quả tăng trọng khá cao là 142,70±10,9 %

(bảng 4.1). Chúng tôi kết luận rằng 0,8 : 1,1 là tỷ lệ tối ưu cho LOA và LNA.

27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cá Bơn (S. maximus)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×