Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
59 ngày tiến hành thí nghiệm

59 ngày tiến hành thí nghiệm

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sự biến thiên của pH và oxy hoà tan qua 59 ngày thí nghiệm được thể hiện qua

đồ thị 4.2. Hàm lượng oxy hồ tan trong các bể thí nghiệm dao động từ 5,28-6,00

mg/L và pH dao động từ 6,9-7,8. Nhìn chung hàm lượng oxy hồ tan và pH trong suốt

q trình thí nghiệm thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cá giò

(Kaiser và ctv, 2005).



Đồ thị 4.2 Biến động của DO và pH được đo trong bể composite trong

59 ngày tiến hành thí nghiệm

4.2. Kết quả về tăng trọng và tốc độ tăng trọng

Ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn thí nghiệm lên tăng trưởng của cá Giò

được mơ tả chi tiết qua bảng 4.1. Khi cả hai acid béo LOA và LNA cùng hiện diện

trong khẩu phần thức ăn, một sự ảnh hưởng tương tác đã được quan sát như sau : cá

tăng trọng nhanh nhất (157,85 ± 19,9 %) và có tốc độ tăng trọng cao nhất (2,36 ± 0,2

%) với khẩu phần chứa 0,8 % LOA và 1,1 % LNA. Khi tỷ lệ LOA : LNA dao động

tăng hoặc giảm so với tỷ lệ này thì cá giảm tăng trọng, cùng với tốc độ tăng trọng cũng

giảm theo. Tăng trọng thấp nhất ở công thức LGT 11 là 79,14±14,5 (2,2 % LOA và 1,6

% LNA). Riêng đối với trường hợp khẩu phần có chứa hàm lượng LOA và LNA cao

nhất (lần lượt là 2,2 % và 2,1 %) lại cho kết quả tăng trọng khá cao là 142,70±10,9 %

(bảng 4.1). Chúng tôi kết luận rằng 0,8 : 1,1 là tỷ lệ tối ưu cho LOA và LNA.

27



28



Bảng 4.1 Tăng trọng trung bình và tốc độ tăng trưởng của cá Giò thịt ở các mức acid linoleic / acid linolenic (LOA / LNA) khác nhau

trong khẩu phần ăn thí nghiệm (GTTB ± SE, số lần lặp N=3)

Acid linoleic – LOA

(% khẩu phần)



0,6



0,8

1,5

2,2



137,85 ± 14,9

148,10 ± 3,70

138,63 ± 16,0



0,8

1,5

2,2



2,16 ± 0,2

2,27 ± 0,0

2,16 ± 0,2



Acid linolenic – LNA (% khẩu phần)

1,1

1,6

TTTB (%)

157,85 ± 19,9

137,86 ± 16,7

150,00 ± 12,9

126,63 ± 5,20

123,05 ± 15,2

79,14 ± 14,5

SGR (%/ngày)

2,36 ± 0,2

2,15 ± 0,2

2,29 ± 0,2

2,05 ± 0,0

1,99 ± 0,2

1,44 ± 0,2



2,1

144,14 ± 4,1

118,15 ± 21,8

142,70 ± 10,9

2,23 ± 0,0

1,94 ± 0,3

2,21 ± 0,1



29



4.3. Kết quả về hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ sống

Bảng 4.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ sống của cá Giò thịt cho ăn thức ăn chứa các mức acid linoleic / acid linolenic (LOA / LNA)

khác nhau trong khẩu phần ăn thí nghiệm (GTTB ± SE, số lần lặp N=3)

Acid linoleic - LOA

(% khẩu phần)



0,6



Acid linolenic – LNA (% khẩu phần)

1,1

1,6



2,1



FCR

0,8

1,5

2,2



1,46 ± 0,1

1,33 ± 0,1

1,74 ± 0,2



0,8

1,5

2,2



100,00 ± 0,0

94,44 ± 5,6

94,44 ± 5,6



1,46 ± 0,1

1,76 ± 0,2

1,52 ± 0,1

1,57 ± 0,0

1,67 ± 0,1

1,83 ± 0,2

Tỷ lệ sống (%)

100,00 ± 0,0

94,44 ± 5,6

100,00 ± 0,0

100,00 ± 0,0

94,44 ± 5,6

95,24 ± 4,8



1,61 ± 0,2

1,96 ± 0,0

1,70 ± 0,1

94,44 ± 5,6

89,68 ± 5,2

88,89 ± 5,6



30



4.3.1. Hệ số chuyển hoá thức ăn (FCR)

Kết quả về hệ số thức ăn cho thấy khi hàm lượng LNA được cho tăng từ 0,6 %

đến 2,1 % thì hệ số thức ăn (FCR) của cá tăng lên. Bên cạnh đó, đối với hàm lượng

LOA 1,5 % cho kết quả FCR thấp hơn so với hàm lượng LOA 0,8 % và 2,2 %. Tuy

nhiên, giá trị FCR cao nhất lại có ở tỷ lệ 1,5 % LOA và 2,1 % LNA. Hệ số thức ăn

thấp nhất đạt được ở tỷ lệ 1,5 % LOA và 0,6 % LNA.

4.3.2. Tỷ lệ sống

Tỷ lệ sống của cá trong suốt q trình thí nghiệm dao động từ 89 % đến 100 %.

Kết quả phân tích ANOVA hai nhân tố cho thấy khơng có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ

lệ sống giữa các nghiệm thức (P>0,05).

II. Thảo luận

Nhìn chung trong thời gian thí nghiệm, các yếu tố về chất lượng nước như nhiệt

độ, độ mặn, oxy hòa tan, và pH đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng và

phát triển của cá Giò.

Nhiệt độ thích hợp cho cá Giò từ 24,3°C tới 31,8°C (Daniel và ctv, 2008).

Trong nghiên cứu này nhiệt độ nước là 27,2-28,5 oC, đây là nhiệt độ thích hợp để ni

cá Giò. Độ mặn phù hợp cho cá Giò phát triển tốt là từ 5-30 (‰) (Daniel và ctv, 2008),

trong suốt quá trình thí nghiệm độ mặn dao động trong khoảng 20 tới 25 (‰) và đây

cũng là khoảng độ mặn phù hợp cho cá Giò phát triển.

Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO) có vai trò quan trọng trong sự sinh

trưởng và phát triển của cá Giò, hàm lượng oxy hòa tan thích hợp cho cá Giò là trên 5

mg/L (Daniel và ctv, 2008), nếu hàm lượng oxy hòa tan thấp hơn 2,5 mg/lít sẽ làm cho

cá biểu hiện dấu hiệu stress và cá có thể chết nếu tình trạng oxy thấp kéo dài (theo số

liệu theo dõi ở Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Bạc Liêu). Trong nghiên cứu này, DO dao

động từ 5,2 đến 6,0 mg/L, đây là điều kiện tốt để cá Giò phát triển.

Chỉ số pH phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá Giò là 7,57±0,19

(Daniel và ctv, 2008). Số liệu ghi nhận qua thí nghiệm cho thấy pH thay đổi từ 6,9 đến

7,8; mặc dù giá trị pH hơi thấp so với ngưỡng thích hợp của cá Giò (có thể do cá tiết ra

nhớt làm pH giảm), tuy nhiên trong suốt thời gian thí nghiệm giá trị pH khơng làm ảnh

hưởng đến sự phát triển của cá thí nghiệm.



31



Ảnh hưởng của tỷ lệ LOA/LNA đối với hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) cũng

được đánh giá trong nghiên cứu này. Mức FCR tối thiểu tìm được qua nghiên cứu là

1,33. Kết quả này thấp hơn so với giá trị FCR là 1,68 trong nghiên cứu của Smith và

cộng sự (2003) báo cáo đối với đối tượng cá Chẽm bạc Bidyanus bidyanus. Tỷ lệ sống

của nghiên cứu này cao trên 89 % và không khác biệt giữa các tỷ lệ LOA/LNA chứng

tỏ điều kiện thí nghiệm thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cá

Giò thịt.

Tầm quan trọng của các acid béo thiết yếu đối với tăng trưởng của cá biển đã

được đề cập khá lâu từ những nghiên cứu trước đây của Yone và cộng sự (1971). Bên

cạnh đó, các nghiên cứu gần đây về nhu cầu acid béo thiết yếu của cá Chẽm Lates

calcarifer (Williams và Barlow, 1999) và cá Giò Rachycentron canadum (Turner và

Rooker, 2005) đã chứng minh tầm quan trọng của LOA và LNA.

Mối tương quan giữa tỷ lệ LOA và LNA trong khẩu phần ảnh hưởng đến tăng

trưởng được báo cáo bởi Willams và Barlow (1999). Tỷ lệ kết hợp 1,5-1,8 : 1 của hai

PUFA (LNA/LOA) cho kết quả tăng trưởng nhanh nhất với Lates calcarifer (Williams

và Barlow, 1999). Tương tự như cá Chẽm, cá Giò cũng là một lồi cá cần phải được bổ

sung các acid béo này trong khẩu phần thức ăn.

Sự cung cấp LOA và LNA dẫn đến đáp ứng tăng trưởng cao nhất với tỷ lệ 2

acid lần lượt là 0,8 % và 1,1 % trong khẩu phần thức ăn (bảng 4.2, hình 4.1). Một tỷ lệ

tối ưu tương tự của 2 acid béo này cũng đã được báo cáo đối với cá Chình ( Anguilla

anguilla) (Garcia Gallelo và ctv, 2003) và cá da trơn Mỹ (Ictaluric punctalus) (Robert

và ctv, 1984).

Vì là cá biển nên đối với sự tăng trưởng của cá Giò, LNA đóng vai trò quan

trọng hơn so với LOA. Williams và Barlow (1999) đã báo cáo một ảnh hưởng tương tự

trên cá Chẽm, trong khi với loài cá Rô phi Tilapia nilotica, LOA thúc đẩy sự đáp ứng

tăng trưởng lớn hơn LNA (Takeuchi và ctv, 1983). Theo Owen (1975), những lồi này

khác nhau về tính chất thúc đẩy tăng trưởng của LOA và LNA, đồng thời LNA cần

thiết hơn cho cá biển để tổng hợp ra các n-3 HUFA (Highly unsaturated fatty acid) như

EPA (eicosapentaenoic acid) và DHA (docosahexaenoic acid).

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự tương tác của LOA và LNA góp phần

ảnh hưởng đến tăng trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn ở cá Giò. Ảnh hưởng tương

tác giữa LOA và LNA cũng được quan sát ở các loài chuột (Greenberg và ctv, 1950;

32



Mohrhauer và Holman, 1963) và cá Hồi vân (Yu và Sinnhuber, 1975). Greenberg và

ctv (1950) báo cáo một ảnh hưởng “khởi xướng” lên tăng trưởng khi một lượng tối

thiểu LOA được cho thêm với LNA nhưng khơng giải thích cơ chế ảnh hưởng này.



33



CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN

5.1. Kết luận

Từ những kết quả thu được, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:

1.



Các thông số mơi trường dao động trong thời gian thí nghiệm như sau: nhiệt độ

(27,26-28,54 oC), pH (6,9-7,8), DO (5,28-6,00 mg/L) và độ mặn (20-25 ‰) đều

phù hợp cho sự phát triển của cá Giò.



2.



Tăng trọng và tốc độ tăng trưởng đạt cao nhất (157,85 ± 19,9 % và 2,36 ± 0,2

%) đối với công thức LGT 2 (0,8 % LOA và 1,1 % LNA), thấp nhất lần lượt là

(79,14±14,5 % và 1,44±0,2 %) đối với công thức LGT 11 (2,2 % LOA và 1,6 % LNA).



3.



Tỷ lệ sống của cá Giò trong thời gian thí nghiệm đạt trên 89 % và khơng có sự

khác biệt giữa các nghiệm thức (P>0,05).



4.



Tỷ lệ tối ưu của acid linoleic và acid linolenic (LOA/LNA) trong nghiên cứu

lần lượt là 0,8 % LOA và 1,1 % LNA xét về tăng trọng, tốc độ tăng trưởng, hệ số

chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ sống.



5.2. Đề xuất ý kiến

Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như trong q trình thí nghiệm còn

gặp nhiều khó khăn không đủ để tiến hành thêm một số nghiên cứu cần thiết khác. Nên

tơi có một số đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo là:

1.



Nghiên cứu thêm các nhu cầu của cá Giò về n-3 HUFA (Highly unsaturated

fatty acid) như docosahexaenoic acid (DHA), và eicosapentaenoic acid (EPA)

cùng với các nhu cầu về vitamin, khoáng chất.



2.



Nghiên cứu về các chất bổ sung trong khẩu thức ăn cho cá Giò như enzyme,

probiotic, chất dẫn dụ...



3.



Ứng dụng các kết quả nghiên cứu đã đạt được để có thể sản xuất thức ăn theo

quy mô công nghiệp thay thế thức ăn là cá tạp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi

trường.



34



TÀI LIỆU THAM THẢO



Tài liệu tham khảo tiếng Việt

1) Hiệp, N.X. 2006. T ình hình sinh sản và ni cá giò.Tạp chí thuỷ sản số 7-2002.

tại Việt Nam. Tạp chí khoa học kinh tế nông lâm nghiệm, số 1&2



2) Quỳnh, M. A. 2006. Tổng quan về dinh dưỡng và thức ăn cho các đối tượng nuôi biển

Tài liệu tham khảo tiếng Anh

1) Angela, N., Lunger, S.R., Craig, R., McLean, E., 2006. Replacement of fish meal in cobia

(Rachycentron canadum) diets using an organically certified protein. Aquaculture 257, 393–

399.

2) Castell, J.D., 1979. Review of lipid requirement of finfish. Proc. World Symp. On : Finfish

Nutrition and Fishfeed Industry. Hambourg 20-23 June, 1978. Vol. I, Berlin : 59-84.

3) Chou, R.L., Su, M.S., & Chen, H.Y., 2001. Optimal dietary protein and lipid levels for juvenile

cobia (Rachycentron canadum). Aquaculture, 193, 81-89.

4) Craig, S.R., Schwarz, M.H., McLean, E., 2006. Juvenile cobia (Rachycentron canadum) can

utilize a wide range of protein and lipid levels without impacts on production characteristics.

Aquaculture, 261, 384-391.

5) Crawford, M.A., 2009. Fat intake and CNS Functioning : Ageing and Disease. Ann Nutr Metab

2009; 55:202-228, published online : September 15, 2009.

6) D.M. Smith., B.J. Hunter., G.L. Allan., D.C.K. Roberts., M.A. Booth., Glencross, B.D., 2003.

Essential fatty acid in the diet of silver perch ( Bidyanus bidyanus) : effect of linolenic and

linoleic acid on growth and survival. Aquaculture, 263 (2004), 377-390.

7) Daniel, D.B., Bruno, S., Aaron, W., Hoenig, Orhun, M.R., Zink, I., 2008. Intensive larval

husbandry and fingerling production of cobia Rachycentron canadum. Aquaculture 281, 2227.

8) F.A.O, Food and Nutrition paper No 3, 1978. Dietary fats and oils in human nutrition. Rome :

Food and Agriculture Organization of United Nations.

9) Faulk, C.K., & Holt, G.J., 2003. Lipid nutrition and feeding of cobia (Rachycentron canadum)

larvae. Journal of the World Aquaculture Society, 34, 368-378.

10) Franks, J.S., J.R. Warren., M.V. Buchanan., 1999. Age and Growth of cobia, Rachycentron

canadum, from the northeastern Gulf of Mexico. Fish. Bull. 97, 459-471.

11) Glencross, B.D., Smith, D.M., 2001. Optimising the essential fatty acids, eicosapentaenoic and

docosahexaenoic acids in the diets of prawn, Penaeus monodon. Aquaculture. Nutr. 7, in

press.



35



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

59 ngày tiến hành thí nghiệm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×