Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Định hướng mục tiêu và Giải pháp

5 Định hướng mục tiêu và Giải pháp

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhập, xóa đói giảm nghèo và cho việc đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình,

nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội như: giảm dần khoảng cách giữa người

giàu và người nghèo, tạo việc làm cho nông dân, sử dụng đầy đủ hơn lao động

trong nông thôn, thực hiện xóa đói giảm nghèo, giảm sự chênh lệch lớn giữa

các vùng.

- Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và cho vay vốn

Thực hiện tư tưởng của Đảng và Chính phủ về phát triển nền kinh tế đa

thành phần có sự định hướng và chỉ đạo của Nhà nước. Thị trường tín dụng

chỉ tồn tại và phát triển khi có nhiều thành phần tham gia bao gồm các tổ chức

tín dụng chính thống và phi chính thống. Trong đó tín dụng chính thống,

Chính phủ thực hiện sự can thiệp trực tiếp của mình vào thị trường vốn ( điều

chỉnh cung và cầu qua chính sách lãi suất ). Tuy nhiên, cần coi trọng các tín

dụng phi chính thống vì ở tín dụng phi chính thống rất đa dạng về phương

thức hoạt động, khá lớn về quy mô, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn, có vai

trò rất quan trọng đặc biệt ở những nơi, những lúc mà tín dụng chính thống

chưa vươn tới. Đa dạng hóa các hình thức huy động và cho vay vốn có nghĩa

là các tổ chức tín dụng có thể sử dụng nhiều phương thức huy động vốn và

cho vay vốn trong khuôn khổ luật định, với phương châm hoạt động phục vụ

đa thành phần khách hàng, đa lĩnh vực đầu tư, cạnh tranh lành mạnh và có

hiệu quả.

- Phát triển thị trường tín dụng nơng thơn phải trên cơ sở luật pháp của Nhà

nước, đặc biệt là Luật các tổ chức tín dụng (2010)

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, vì thế mọi hoạt động xã hội đều

phải được thực hiện dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật của Nhà nước. Trong

lĩnh vực tín dụng, Nhà nước đã ban hành Luật các tổ chức tín dụng được

Quốc hội thơng qua ngày 16 tháng 6 năm 2010. Nội dung của luật quy đinh

rất cụ thể và đầy đủ về tổ chức, điều hành, nội dụng hoạt động, quyền lợi,



93



nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, quản lý và hoạt động tín

dụng của các tổ chức tín dụng nông thôn phải dựa trên luật này.

 Căn cứ

Căn cứ vào các văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến hoạt động

cơng tác tín dụng như: Quyết định 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999, Nghị

định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát

triển nơng nghiệp nơng thôn…

Căn cứ vào thực trạng vay vốn và hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộ

nông dân trên địa bàn xã Giao Hà.

Căn cứ vào nhu cầu vay vốn để phát triển kinh tế của các hộ nông dân

trên địa bàn xã Giao Hà.

Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng

cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Đặc biệt là tạo những tiền đề vững

chắc để bắt đầu thực hiện chương trình nơng thơn mới đạt hiệu quả.

Có thể thấy hiện nay kênh tín dụng đối với khu vực nơng thơn đã mở

rộng hơn, nhưng để vốn tín dụng đến được với nhiều bà con nông dân hơn

nữa cần có sự cố gắng nỗ lực và quan tâm hơn nữa của các cơ quan, ban

ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương.

4.5.2 Định hướng giải pháp

4.5.2.1 Giải pháp đối với đầu vào tư liệu sản xuất

- Nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong kinh tế của hộ nông dân

nhất là đối với hộ nghèo và hộ trung bình. Vì vậy các hộ này cần đầu tư vốn

cho mục đích phát triển các ngành nghề, có lợi thế phù hợp với điều kiện tự

nhiên, vị trí địa lý của xã trong các ngành nông nghiệp, cần coi trọng các

ngành trồng cây lương thưc, cây lâu năm và chăn nuôi nhằm nâng cáo tỷ

trọng của ngành này trong cơ cấu giá trị số lượng ngành nông nghiệp thực tế

ở xã cho thấy hiệu quả đồng vốn mang lại từ các ngành này cũng chưa cao.

Đây là những ngành vốn đòi hỏi kỹ thuật tay nghề đặc biệt mang tính phổ



94



thơng truyền thống, vốn đầu tư khơng lớn, phù hợp với các hộ nông dân nhất

là hộ trung bình và hộ nghèo.

- Tuy nhiên hiện nay quy mơ đầu tư của các hộ trong những ngành này

còn nhỏ, vốn đầu tư ít, nên giá trị sản lượng đạt được và giá trị thu nhập mang

lại cho hộ là khơng cao. Vì thế các hộ nên tiếp tục đầu tư vốn vay cho mục

đích phát triển các ngành này nhằm mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng cơ sở

vật chất (chuồng trại, cải tạo đất…) thực hiện thâm canh tăng vụ, tăng năng

suất và hiệu quả kinh tế các hộ trung bình mới có thể vươn lên thành những

hộ giàu, hộ khá, các hộ nghèo mới hết nghèo và vươn lên làm giàu.

Bên cạnh đó, cung cấp vốn mới chỉ là điều kiện cần cho các hộ sản xuất –

kinh doanh nhưng đó chưa phải là đủ. Muốn cho các hộ, đặc biệt là đối với

những họ nghèo và những hộ trung bình, sản xuất – kinh doanh có kết quả và

có hiệu quả cao, cần giúp họ nắm được cách làm, cách sử dụng và quản lý

đồng vốn, cách sản xuất – kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường. Thực

tế ở Giao Hà cho thấy, đa phần nông dân hiện nay vẫn sản xuất – kinh doanh

theo kiểu truyền thống, mang tính sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp. Các hộ sản

xuất – kinh doanh chủ yếu là dựa trên những kinh nghiệm của bản thân, ít dựa

vào sự hiểu biết khoa học kĩ thuật tiên tiến và kiến thức về kinh tế thị trường.

Trình độ học vấn của các chủ hộ thấp (thường là cấp I và cấp II). Điều này

gây khó khăn trong việc tiếp thu khoa học kĩ thuật mới của nông dân. Dẫn tới

nhiều hộ khơng muốn vay vốn vì khơng biết tính tốn làm ăn, sợ rủi ro. Vì

vậy, để đồng vốn tín dụng được sử dụng có kết quả và hiệu quả cao, cần phải

tác động các giải pháp nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết khoa học kỹ

thuật của hộ nơng dân theo cách sau:

-



Cấn có chính sách hợp lí, khuyến khích các nhà nghiên cứu, các cơ quan



nghiên cứu và sản xuất tạo ra nhiều giống tốt, những vật tư nơng nghiệp,

những ngun vật liệu có chất lượng cao, phục vụ nông dân và chuyển giao

những thành quả này tới nông dân.



95



-



Các cơ quan khuyến nông của huyện cần kết hợp với các cấp chính



quyền, các ban ngành, các tổ chức đoàn thể quần chúng tại địa phương tổ

chức các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật và kiến thức quản lý kinh

doanh cho các hộ nông dân. Cần giúp cho người nông dân nắm vững các

kiến thức khoa học kĩ thuật, đặc biệt là kĩ nghệ làm tăng năng suất lao động

và hạ giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

-



Các phương tiện thơng tin, truyền hình, giáo dục cần hướng vào kế



hoạch nâng cao kiến thức văn hóa cho người nông dân. Coi đây là nhân tố

cơ bản giúp cho các hộ nắm bắt được khoa học kỹ thuật, tổng kết được

những kinh nghiệm sản xuất - kinh doanh, để xóa đói giảm nghèo, vươn lên

làm giàu.

4.5.2.2 Giải pháp về đầu ra sản phẩm nơng nghiệp

Thị trường đầu ra có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của các hoạt

động sản xuất kinh doanh ở nơng thơn. Vì thế, các cơ quan chức năng, các

nhà lãnh đạo tại địa phương cần tạo điều kiện và tìm thị trường tiêu thụ sản

phẩm thuận lợi cho nông dân. Như đã phân tích, đặc trưng cơ bản của vốn vay

là tính hồn trả. Người vay khi sử dụng vốn vay tạo ra sản phẩm phải tiêu thụ

được sản phẩm thu tiền về và hoàn trả tiền vay ban đầu cùng với tiền lãi cho

các tổ chức tín dụng. Nếu các hộ vay vốn không bán được sản phẩm sản xuất

ra, sẽ không có tiền hồn trả cho các tổ chức tín dụng, q trình ln chuyển

của vốn tín dụng bị ngưng trệ, gây thiệt hại cho cả hộ vay vốn và các tổ chức

tín dụng cho vay, làm giảm hiệu quả của vốn vay. Do đó, muốn tăng hiệu quả

sử dụng vốn vay càn tạo điều kiện để nông dân bán sản phẩm với giá có lãi.

Hiện nay, hầu như tồn bộ các hộ tự tiêu thụ sản phẩm ngoài thị trường tự do,

chưa có một tổ chức hay cá nhân nào đứng ra giúp họ trong khâu này. Giá cả

sản phẩm tiêu thụ thường không ổn định, bị tư thương ép giá, làm giảm thu

nhập của hộ nơng dân.



96



Chính vì vậy, các giải pháp cụ thể cho thị trường đầu ra sẽ là:

-



Xã Giao Hà cần có kế hoạch sớm hồn thiện hệ thống giao thông nông



thôn tạo điều kiện thuận lợi cho hộ trong việc đi lại, vận chuyển tiêu thụ sản

phẩm - hàng hóa.

-



Thường xun cung cấp các thơng tin đầu vào và đầu ra cho nông dân.



Các cơ quan thơng tin đại chúng, báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình của

Huyện – Thành phố, các phòng kinh tế, phòng thống kê của huyện cần coi

trọng việc thu thập và cung cấp thông tin cho nông dân.

-



Các ban ngành chức năng tại địa phương, đặc biệt là các hợp tác xã dịch



vụ, nơng nghiệp, cần tăng cường tìm kiếm thị trường tiêu thụ những sản phẩm

của địa phương, giúp bà con nông dân bán sản phẩm một cách kịp thời, với

giá cả phù hợp. Các bộ phận chức năng quản lý dịch vụ thương mại, quản lý

chợ nông thôn, cần tạo điều kiện cho hộ bán sản phẩm trên thị trường tự do

tới tận người tiêu dùng một cách thuận lợi nhất. Hạn chế tư thương ép giá,

gây thiệt hại cho người sản xuất.

4.5.2.3 Nâng cao trình độ văn hóa, tăng cường đầu tư chuyển giao kỹ thuật,

khuyến nông và nâng cao kỹ năng sản xuất - kinh doanh cho nông dân

Thiếu kiến thức là lý do chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả vay vốn của hộ.

Để hộ nơng dân sản xuất kinh doanh có kết quả và hiệu quả cao và tránh được

rủi ro, cần có các biện pháp giúp họ lắm được cách làm, cách sử dụng và quản

lý đồng vốn, cách quản lý đồng vốn, cách quản lý sản xuất kinh doanh trong

điều kiện kinh tế thị trường. Để đồng vốn tín dụng được sử dụng có kết quả

và hiệu quả cao cần phải tác động các biện pháp nâng cao trình độ nhận thức,

hiểu biết khoa học kỹ thuật của hộ nông dân cần tăng cường hoạt động

khuyến nông. Cơ quan khuyến nông của huyện, xã cần kết hợp với các cấp

chính quyền, tổ chức đoàn thể quần chúng tại địa phương tổ chức các lớp tập

huấn chuyển giao kỹ thuật và kiến thức quản lý sản xuất, lập kế hoạch sản



97



xuất hợp lý cho bà con nông dân. Cần giúp cho hộ nông dân nắm vững các

kiến thức khoa học kỹ thuật, đặc biệt là việc làm tăng năng suất lao động và

hạ giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh.

4.5.2.4 Một số giải pháp khác

Mở rộng mạng lưới tín dụng đến địa phương

-



Các tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn Giao thủy bao gồm ngân



hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kho bạc Nhà nước, ngân hàng

Phục vụ người nghèo. Trong đó, Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát triển nông

thôn chiếm thị phần lớn nhất song số chi nhánh đóng tại các xã của Ngân

hàng chưa nhiều. Vì vậy, trong những năm tới, cần mở rộng thêm mạng lưới

các tổ chức tín dụng tại các xã. Các giải pháp đưa ra đó là:

+ Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn cần mở thêm văn phòng

chi nhánh ở xã mà hiện nay cách khá xa Ngân hàng. Tạo điều kiện thuận lợi

cho hộ nông dân tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng, đặc biệt đó

là những người nghèo.

+ Tại xã chưa có văn phòng chi nhánh của Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát

triển nơng thơn, nếu có đủ điều kiện nên thành lập quỹ tín dụng nhân dân,

hoạt động theo luật. Việc thành lập quỹ tín dụng nhân dân cần phải có đầy đủ

các điều kiện cần thiết theo luật các tổ chức tín dụng của Nhà nước. Muốn

vậy cần phải có sự giúp đỡ thích cực của Ngân hàng, sự chỉ đạo chặt chẽ của

chính quyền các cấp.

- Các hình thức cho các hộ nông dân vay vốn cần đa dạng, linh hoạt phù hợp

với đặc điểm của nông dân, nông thôn và nơng nghiệp, để cung cấp vốn tín

dụng cho phát triển sản xuất. Mặt khác các tổ chức tín dụng cần cho nông dân

vay dài hạn và trung hạn với thời gian dài hơn, hiện nay đa phần các hộ có nhu

cầu vau dài hạn và trung hạn để phục vụ cho sản xuất. Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn cho vay ngắn hạn là chủ yếu, cho vay dài hạn và trung



98



hạn là rất hạn chế. Ngân hàng Phục vụ người nghèo cũng chỉ cho nông dân vay

ngắn hạn là chính. Vì thời gian ngắn hạn lên hộ nông dân không đủ điều kiện

sử dụng vốn vay để mua sắm những tài sản cố định đầu tư phục vụ cho sản

xuất lâu dài. Chính vì vậy, đề tạo điều kiện cho nông dân đầu tư phát triển mở

rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm Ngân hàng cần tăng lượng vốn

trung hạn và dài hạn cho nơng dân vay. Đây là vấn đề khó khăn đối với Ngân

hàng vì nguồn vốn huy động của Ngân hàng hiện nay chủ yếu là vốn ngắn hạn.

Để thực hiện được điều này Ngân hàng phải có biện pháp tăng nguồn vốn trung

hạn và dài hạn:

- Các tổ chức tín dụng ngồi việc cho vay vốn bằng tiền còn có thể cho hộ nông

dân, nhất là hộ nông dân nghèo vay vốn bằng hiện vật, như hạt giống, con giống,

phân bón, thức ăn gia súc… Để đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích và

bền vững. Đối với các hộ nơng dân sản xuất nơng nghiệp, thì thời gian cho vay

vốn tối thiểu cũng cần dài hơn (từ 12 tháng đền 24 tháng hoặc đến 36 tháng).

Đối với những hộ nghèo thì thời gian cần dài hơn (từ 2 năm trở lên). Muốn vậy

cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

nông thơn, Ngân hàng chính sách xã hội, với các tổ chức đồn thể tại địa

phương. Mặt khác cần phải có sự giám sát chặt chẽ giữa các bên để đảm bảo

chất lượng giá cả và kiểm tra tính kịp thời của vốn vay bằng hiện vật, cũng như

việc xây dựng vốn trung hạn hoặc dài hạn của hộ nông dân.

- Ngoài việc cho vay vốn theo dự án như hiện nay nên triển khai theo hình

thức theo vụ mùa sản xuất – kinh doanh, hình thức này đòi hỏi việc cấp vốn

phải nhanh chóng, kịp thời gian vay thường ngắn và người vay có khả năng

phải chấp nhận mức lãi suất cao hơn bình thường. Hình thức này phù hợp với

địa phương phát triển những nghành nghề dịch vụ thời gian vay tối thiểu có

thể từ 3 tháng đến 6 tháng. Muốn vậy đòi hỏi cán bộ tín dụng cần phải bám

sát nhu cầu thực tế lắm bắt và cho vay đúng lúc, đúng nơi cần vốn.

Tinh giản thủ tục cho vay vốn từ nguồn tín dụng chính thức



99



- Các tổ chức TDCT cần cải tiến thủ tục cho vay theo hướng đơn giản, gọn

nhẹ, phù hợp với trình độ người dân, tránh tình trạng hộ nơng dân phải đi lại

nhiều lần và chờ đợi quá lâu. Bên cạnh đó việc tăng quy mô vốn vay trung và

dài hạn đối với các hộ hoạt động hiệu quả là cần thiết. Ngoài ra, cơ chế cho

vay bằng hiện vật như giống, phân bón, thức ăn gia súc,… cho nơng dân

nghèo cần được khuyến khích để đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục

đích. Các tổ chức TDCT cũng cần có một cơ chế lãi suất hợp lý, mềm dẻo cho

phù hợp với từng đối tượng vay.

Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng cán bộ nhân viên tín dụng

- Kiểm tra là một trong những chức năng chủ yếu của tín dụng và là cơ sở

đảm bảo cho vốn vay được sử dụng đúng mục đích có hiệu quả, cơng việc này

cần được cán bộ nhân viên tín dụng thực hiện ngay từ khi kiểm định dự án

cho vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của người vay vốn. Thực tế tại Xã

Giao Hà cho thấy nhiều cán bộ tín dụng thực hiện cơng việc này chưa được

tốt. Ngay từ khi thẩm định cho vay nhiều cán bộ do thiếu ý thức trách nhiệm

và thiếu kiến thức sản xuất – kinh doanh nên đã không điều tra xem xét khả

năng trả nợ, tính khả thi của dự án vay vốn, còn cứng nhắc dựa vào tài sản thế

chấp để quy định cho vay. Khi đã cấp vốn vay các cán bộ tín dụng thường ít

tới tận nơi để kiểm tra việc sử dụng vốn, dẫn đến một số hộ sử dụng vốn vay

khơng đúng mục đích, làm thất thốt vốn và khơng trả nợ đúng hạn, từ những

thiếu sót này của cán bộ tín dụng đã phần nào giảm kết quả của tổ chức tín

dụng và hiệu quả kinh tế của vốn vay. Chính vì vậy cần tăng cường công tác

kiểm tra cho vay trước khi quyết định cho vay, cán bộ tín dụng cần phải đến

tận làng xã, hộ nông dân để kiểm tra thực tế khả năng tài trợ, năng lực sản

xuất - kinh doanh của hộ cũng như những điều kiện đảm bảo tính khả thi, tính

hiệu quả của phương án sản xuất.



100



- Sau khi cấp vốn vay cần phải giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay tại

các hộ trong xã. Việc kiểm tra cần hướng vào việc xem xét xem vốn vay có sử

dụng đúng mục đích hay khơng? Các hộ nơng dân có nắm được khoa học kỹ

thuật trong sản xuất – kinh doanh đem lại hiệu quả không? Liệu có rủi ro xảy

ra khơng? Chỉ có giám sát chặt chẽ như vậy cán bộ kỹ thuật mới kịp thời giúp

đỡ các hộ nơng dân khắc phục khó khăn trong quá trình sản xuất - kinh doanh.

- Kết hợp chặt chẽ với tổ chức có quyền, đồn thể tại các xã trong việc hướng

dẫn kiểm tra trong việc sử dụng vốn vay, tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn

vay.

Đầu tư vốn tín dụng để phát triển nơng nghiệp

- Nơng nghiệp vần giữ vị trí quan trọng trong kinh tế của hộ nông dân nhất

là đối với hộ nghèo và hộ trung bình. Vì vậy các hộ này cần đầu tư vốn cho

mục đích phát triển các ngành nghề, có lợi thế phù hợp với điều kiện tự nhiên,

vị trí địa lý của huyện trong các ngành công nghiệp, cần coi trọng các ngành

trồng cây cây lâu năm và chăn nuôi nhằm nâng cáo tỷ trọng của ngành này

trong cơ cấu giá trị số lượng ngành nông nghiệp thực tế ở xã Giao Hà cho

thấy hiệu quả đồng vốn mang lại từ các ngành này cũng rất cao. Đây là

những ngành vốn đòi hỏi kỹ thuật tay nghề đặc biệt mang tính phổ thơng

truyền thống, vốn đầu tư khơng lớn, phù hợp với các hộ nông dân nhất là hộ

trung bình và hộ nghèo.

- Tuy nhiên hiện nay quy mơ đầu tư của các hộ trong những ngành này còn

nhỏ, vốn đầu tư ít, nên giá trị sản lượng đạt được và giá trị thu nhập mang lại

cho hộ là khơng cao. Vì thế các hộ nên tiếp tục đầu tư vốn vay cho mục đích

phát triển các ngành này nhằm mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng cơ sở vật

chất (chuồng trịa, cải tạo đất…) thực hiện thâm canh tăng vụ, tăng năng suất

và hiệu quả kinh tế các hộ trung bình mới có thể vươn lên thành những hộ

giàu, hộ khá, các hộ nghèo mới hết nghèo và vươn lên làm giàu.



101



Củng cố và phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức đồn thể, xã hội tại

xã, thơn xóm, tạo điều kiện cho nơng dân tiếp cận nhiều với tín dụng chính

thức.

- Các tổ chức đồn thể quần chúng như hội nơng dân, hội phụ nữ, đồn

thanh niên, hội cực chiến binh… Có vai trò rất quan trọng đối với việc vay

vốn của hộ nông dân từ nguồn tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội,

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Hầu như các hộ nơng dân

nghèo và trung bình, khơng đủ điều kiện về tài sản thế chấp, chỉ có thể vay

vốn từ nguồn tín dụng thơng qua các tổ chức đồn thể quần chúng. Chính vì

vậy, để cung cấp vốn tín dụng cho hộ nơng dân được nhiều hơn, đặc biệt là

nhóm hộ trung bình và hộ nghèo, góp phần phát triển nơng hộ, thực hiện xóa

đói giảm nghèo, một trong những vấn đề hiện nay là củng cố và phát huy vai

trò của các tổ chức đồn thể quần chúng trong nơng thơn. Việc củng cố các

đồn thể xã hội chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở sau:

-



Các cấp hội trung ương và thành phố cần có sự quan tâm và tổ chức chỉ



đạo hoạt động của các cấp hội, cấp dưới tại địa phương một cách thường

xuyên và chặt chẽ hơn.

- Các cấp chính quyền địa phương cần có sự quan tâm và giúp đỡ đúng mức

tới hoạt động của các tổ chức đoàn thể quần chúng, coi đó là lực lượng nòng

cốt để thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội ở địa phương, thực hiện

xóa đói giảm nghèo.

- Nâng cao năng lực quản lý, tổ chức và chỉ đạo các hội tại địa phương. Đặc

biệt cần phải tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức cơ bản mang tính chun

mơn nghiệp vụ về hoạt động tín dụng và sản xuất – kinh doanh nông nghiệp

cho các cán bộ của các tổ chức đoàn thể xã hội. Giúp cho họ đủ phẩm chất,

kiến thức và trình độ tổ chức và có hiệu quả huy động nguồn vốn cho nông

dân.



102



Phần V Kết Luận Và Kiến Nghị

5.1 Kết Luận

Hệ thống tín dụng chính thức trong nơng thơn bao gồm nhiều các tổ

chức tín dụng như NHNN&PTNT, NHCSXH...Các tổ chức này có vai trò rất

quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thơn, mỗi tổ chức

có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng cùng chung mơt mục đích là cung

cấp vốn tín dụng cho nông dân phát triển sản xuất. Trong các tổ chức trên,

NHNN&PTNT huyện Giao thủy là tổ chức tín dụng chính thức lớn nhất.

Nghiên cứu về cơ sở lý luận cho thấy, việc cho vay vốn tín dụng có

vai trò to lớn đối với sản xuất nơng nghiệp của hộ nơng dân, giúp cho các hộ

dân có vốn để đầu tư sản xuất, khắc phục tình trạng vay nặng lãi, tạo điều

kiện cho hộ dân sử dụng nguồn lực đầy đủ và có hiệu quả hơn, góp phần xây

dựng kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao

trình độ sản xuất, tăng thu nhập cho hộ dân, đầy mạnh phát triển kinh tế địa

phương.

5.2 Kiến Nghị



103



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Định hướng mục tiêu và Giải pháp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×