Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tín dụng

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tín dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệp, sản xuất nông nghiệp được chuyển dịch theo hướng hàng hóa, gắn liền

với thị trường tiêu thụ đã phát huy được lợi thế của địa phương.

Cơ sở hạ tầng hàng năm được nâng cấp và xây mới: mạng lưới giao

thông nông thôn được cải tạo tốt, thuận tiện cho việc lưu thơng hàng hóa. Hệ

thống kênh mương được kiên cố phục vụ tốt cho nhu cầu tưới tiêu phục vụ

sản xuất nơng nghiệp.

Khó khăn : Diện tích đất tự nhiên của xã đã được sử dụng gần như hoàn

toàn. Cho thấy sự khan hiếm của đất trong quá trình sản xuất mở rộng quy mô

của sản xuất kinh doanh của người dân trong xã.

Khó khăn nữa về điều kiện sản xuất nơng nghiệp của xã gặp nhiều khó

khăn về khí hậu nhất là về thời tiết một năm trung bình xã gặp 4- 6 cơn bão

với tốc độ gió cao gây ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông

nghiệp.nhất là cây lương thực và hoa màu thường ảnh hưởng nặng lề, làm

giảm năng suất cây trồng.

Trong những năm qua trên địa bàn xã bệnh dịch thường xuyên xuất hiện

trên các đàn gia súc, gia cầm gây thiệt hại cho các hộ chăn nuôi lớn gây tâm

lý lo ngại cho cả người chăn nuôi và người tiêu dùng sản phẩm. Không những

thế trong những năm trở lại đây giá cả thị trường vốn tư liệu sản xuất tăng

nhanh trong khi giá các sản phẩm nông nghiệp không tăng đều và gặp nhiều

rủi ro về giá trong sản xuất.

4.4.1.2 Sự sẵn có các tở chức tín dụng

Bảng 4.9 : Nhu cầu vay vốn từ nguồn tín dụng chính thức

Chỉ tiêu



2011

Số hộ Cơ cấu

(hộ)

(%)



Tổng số hộ điều tra

Số hộ làm đơn xin vay



79



2012

Số hộ Cơ cấu

(hộ)

(%)



2013

Số hộ Cơ cấu

(hộ)

(%)



vốn

Số hộ đã được vay vốn

4.4.1.3 Cơ chế chính sách

Nhà nước có các chính sách tín dụng ưu đãi riêng cho những người

nghèo và các đối tượng chính sách khác, như ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện

và thời hạn vay, giúp họ có điều kiện sản xuất - kinh doanh, tăng thu nhập,

xóa đói giảm nghèo. Nhà nước cũng có các chính sách tín dụng ưu đãi cho

việc đầu tư phát triển kinh tế miền núi, vùng sâu, vùng xa, các xã nghèo.

Vì vậy hoạt động của các Ngân hàng Nơng nghiệp, Ngân hàng chính

sách xã hội tại xã Giao Hà, khơng hồn tồn vì mục đích kinh doanh kiếm lời

mà còn cần tác động vào tầng lớp dân cư nghèo, và những nơi có điều kiện

khó khăn góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cơng bằng xã hội.

Tuy nhiên, các chính sách tín dụng của nhà nước định hướng hoạt động

cho các tổ chức tín dụng trong điều kiện kinh tế thị trường trên cơ sở vay để

cho vay. Do đó, người nơng dân khi vay vốn phải xác định rõ vốn vay để sản

xuất kinh doanh, chứ khơng phải cứu tế mang tính chất từ thiện, nên cần phải

sử dụng vốn vay có hiệu quả và đúng mục đích. Về phía Ngân hàng phát triển

nơng thơn, Ngân hàng chính sách xã hội khi cho vay cần xác định rõ mục đích

cuối cùng là vốn bỏ ra phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, có hiệu quả,

phải thu hồi được vốn về để xoay vòng tái đầu tư.

Như vậy, các chính sách tín dụng của Nhà nước vừa định hướng cho các

tổ chức tín dụng thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi cho các hộ nông dân

vay vốn nhưng cũng đồng thời hướng dẫn các hộ nông dân vay vốn sử dụng

vốn sao cho đúng mục đích và có hiệu quả cao.

4.4.1.4 Trình độ chuyên môn và thái độ làm việc của cán bộ tín dụng

Trình độ chun mơn và thái độ làm việc của các cán bộ tín dụng có ảnh

hưởng khá lớn đến sự vay vốn của hộ nông dân tới các tổ chức tín dụng chính



80



thức. Đa phần các hộ nơng dân có trình độ dân trí thấp, ít được tiếp xúc với

các giấy tờ phức tạp nên khi có nhu cầu vay vốn gặp khơng ít khó khăn trong

việc làm các thủ tục xin vay vốn, người dân rất cần thái độ làm việc cởi mở

hướng dẫn nhiệt tình. Khi nhận được thái độ lạnh nhạt, sự giúp đỡ kém nhiệt

tình từ phía các cán bộ tín dụng, người dân có tư tưởng tự ti và khơng muốn

vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức, thay vào đó là tìm đến các tổ chức

tín dụng phi chính thức.

Như vậy, để có nhiều hộ nơng dân vay vốn được từ nguồn tín dụng chính

thức, cán bộ tín dụng chính thức ngồi việc bồi dưỡng về chun mơn, nghiệp

vụ thì cần thiết phải có thái độ cởi mở, gần gũi, am hiểu nông nghiệp, nông

thôn và nông dân.

4.4.1.5 Sự quảng bá của các tổ chức tín dụng

Sự quảng bá của các tổ chức tín dụng chính thức tới các hộ nơng dân có

ảnh hưởng rất lớn tới sự tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của các hộ

nông dân. Các hộ nông dân không chỉ biết đến các tổ chức tín dụng chính

thức mà còn hiểu biết sâu sắc về quyền lợi nghĩa vụ của mình, các thủ tục để

vay vốn, lượng vốn được vay và lãi suất vay vốn … Từ đó khi các hộ nơng

dân có nhu cầu vay vốn để sản xuất sẽ tìm đến đúng các tổ chức tín dụng

chính thức phù hợp với quyền lợi của mình có trên địa bàn huyện để xin vay

vốn. Công tác quảng bá tốt sẽ có tác dụng rất tốt tới sự tiếp cận của hộ nơng

dân tới nguồn vốn của các tổ chức tín dụng chính thức. Tuy nhiên, qua

thực tế điều tra cho thấy hình thức quảng bá tại xã nói chung còn rất kém.

Hiện tại tồn tại ba dạng quảng bá chủ yếu là: qua việc trưng bày các biển

quảng cáo, tuyên truyền qua đài truyền thanh của xã và huyện, qua các cuộc

họp của thôn và của xã với mức độ khơng thường xun và chỉ mang tính sơ

qua. Chính vì vậy bà con nông dân không nắm bắt được các thơng tin cần

thiết. Một số hộ khơng biết mình có được nằm trong diện chính sách được vay



81



ưu đãi từ NHCSXH, vì thế làm đơn xin vay tại NHNN&PTNT với mức lãi

suất cao hơn nhiều. Cá biệt có những hộ không biết các thông tin về vay vốn

từ các tổ chức tín dụng chính thức, do họ bận với cơng việc sản xuất nông

nghiệp không chú ý lắng nghe thông tin từ đài truyền thanh và thậm trí chưa

bao giờ đi họp. Vì vậy, các tổ chức tín dụng chính thức cần quan tâm, đầu tư

hơn nữa đến việc quảng bá rộng rãi hoạt động của tổ chức mình tới tận các hộ

nơng dân để hộ có thể tiếp cận tốt hơn đến nguồn tín dụng chính thức.

4.4.2 Các yếu tớ nội sinh

4.4.2.1 Trình độ văn hóa của chủ hộ



82



Bảng 4.10 : Khả năng vay vớn tín dụng chính thức của các hộ điều tra

theo trình độ học vấn



Trình độ học vấn

Tởng sớ hộ điều tra có trình độ học

vấn

Tiểu học

THCS

THPT

Tổng lượng vốn vay (tr.đ)

Tiểu học

THCS

THPT



83



Xã Giao Hà

Số hộ

Tỷ lệ

(hộ)

(%)

60

100

20

31

9



33,33

51,67

15



4.4.2.2 Điều kiện kinh tế của hộ

Yếu tố tổ chức sản xuất thể hiện ở phương án kinh doanhvà cách tổ chức

sản xuất. Hộ nào biết cách thức sản xuất sẽ có thu nhập cao hơn, phương án

kinh doanh tổ hơn.Các hộ vay vốn trong xã chủ yếu là các hộ trung bình và

các hộ nghèo có nhu cầu về vốn cao trong việc đầu tư vốn để sản xuất nông

nghiệp.

Điều kiện kinh tế của chủ hộ có ảnh hưởng khơng nhỏ đến khả năng vay

vốn từ nguồn tín dụng chính thức của hộ, những hộ có kinh tế càng khá ngồi

việc có điều kiện kinh tế, có tài sản giá trị thế chấp để dễ dàng vay vốn thì họ

còn có mong muốn làm giàu hơn nữa, họ ln tìm cách tính tốn để sao cho

đồng vốn sinh lời nhanh nhất. Đối với công tác cho vay của các tổ chức tín

dụng chính thức, họ ln ưu tiên cho những hộ có khả năng trả nợ vay.

Qua bảng 4.11 ta thấy số hộ khá- giàu vay cho hoạt động sản xuất nơng

nghiệp chỉ có 3 hộ gia đình với số vốn vay 270 triệu đồng, số hộ trung bình là

49 hộ chiếm 81.67 % chiếm đa số với tổng số vốn vay 1090 triệu đồng, với 8

hộ nghèo vay vốn chỉ chiếm 10.36 % tổng vốn.

Với số hộ Khá- Giàu với lượng vốn bình quân 90 triệu đồng/ hộ cho

thấy việc đầu tư sản xuất cao gấp 4 lần bình quân vốn vay của hộ trung bình

và gấp 4,8 lần trung bình vốn vay hộ nghèo.

Số hộ trung bình với số vay chiếm đa số 49 hộ vay với số vốn trung bình

mỗi hộ tại cả 2 ngân hàng CSXH và ngân hàng NN&PTNN là 22.25 triệu

đồng /hộ.

Với 8 hộ nghèo vay vốn với số vốn bình quân mỗi hộ vay là 18.87 triệu

đồng/hộ .



84



Bảng 4.11: Vay vốn của các hộ điều tra theo điều điều kiện kinh tế

ĐVT: Triệu đồng



Xã Giao Hà

Số hộ

(hộ)



Tỷ lệ (%)



Lượng vốn

vay



Tỷ lệ

(%)



Vốn

vay

bình

quân/hộ



Hộ khá - giàu



3



5



270



17,79



90



Hộ trung bình



49



81,67



1090



71,85



22,25



Hộ nghèo



8



13,33



151



10,36



18,87



Tổng số



60



100



1517



100



25.28



Chỉ tiêu



(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)



Qua phỏng vấn thực tế cho thấy, các hộ nơng dân có điều kiện kinh tế khá

giàu tự tin hơn trong việc sản xuẩt kinh doanh nên họ có nhu cầu vay vốn để

mở rộng quy mơ sản xuẩt. Hơn nữa họ lại có tài sản thế chấp nên dễ dàng hơn

trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức. Ngược lại, đối với những

hộ nghèo và trung bình khơng chủ động được nguồn vốn nên họ không tự tin

trong việc sản xuẩt kinh doanh, mặt khác giá trị tài sản thế chấp của các hộ

này thấp, vì vậy lại càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng

chính thức.Cũng qua điều tra thực tế các hộ nghèo và hộ trung bình thì khả

năng trả nợ đúng hạn thấp hơn nên các hộ này có xu hướng vay vốn từ các

nguồn tín dụng khơng chính thức hơn để có thể linh động về thời gian hoàn

trả vốn cũng như là lãi suất.



85



Như vậy ta thấy với các hộ có điều kiện kinh tế càng cao thì được vay

vốn với lượng lớn hơn các hộ có điều kinh tế khó khăn hơn, cho thấy khả

năng tiếp cận vốn theo điều kiện kinh tế còn là một rào cản của việc đầu tư

sản xuất nông nghiệp của các hộ. Và các ngân hàng cho vay vốn sản xuất

nơng nghiệp cần có các cách phối hợp trong quá trình cho vay giảm thiểu các

rào cản phân biệt đối sử giữa các hộ sản xuất có điều kiện kinh tế khá giàu và

các hộ kinh tế khó khăn và trung bình.

Khơng những thế điều kiện kinh tế còn tác động lớn đến việc đi vay của

các hộ muốn đầu tư kinh doanh do tâm lý e ngại của hộ dân về điều kiện kinh

tế của hộ gia đình mình làm cho việc đi vay để đầu tư chưa nhiều, chưa mang

tính chủ động và điều kiện kinh tế cho thấy các hộ chưa có các tài sản giá trị

phù hợp để thế chấp với ngân hàng.

Vậy để những người dân nghèo và trung bình có thể tiếp cận cũng như

khả năng được vay vốn từ nguồn vốn tín dụng chính thức thì cần phải có sự

tư vấn thêm về khoa học kỹ thuật cho nông dân để họ có thể tự tin hơn trong

việc vay vốn đầu tư cho sản xuất và sản xuất có hiệu quả.



86



4.4.2.3 Giới tính của chủ hộ

Bảng 4.12 cho thấy các chủ hộ nông dân là nam giới nhiều hơn nữ giới.

Thực tế điều tra thấy rằng các chủ hộ là nam thường mạnh dạn hơn trong việc

đầu tư sản xuất kinh doanh, mong muốn cải thiện cuộc sống và làm giàu của

các chủ hộ là nam lớn hơn.

Sự tương ứng các chủ hộ là nam ở xã Giao Hà với số hộ vay vốn ở các tổ

chức tín dụng chính thức là nam là 75 số hộ vay với lượng vốn vay 1218 triệu

đồng chiếm 80,29% tổng số vốn vay của các hộ điều tra. Trong đó số hộ vay

là nữ là 15 hộ chiếm 25% nhưng vay với lượng vốn 299 triệu đồng chiếm

19,71%.

Vậy để giúp các chủ hộ là nữ cổ thể tự tin hơn trong việc tiếp cận với

nguồn vốn tín dụng chính thức cũng như mạnh dạn hơn trong đầu tư sản xuất

thì cần phải cổ sự giúp đỡ nhiệt tình từ các ban ngành, tổ chức xã hội ở địa

phương, nhất là hội phụ nữ từ huyện đến cơ sở, tạo mọi điều kiện giúp đỡ chị

em trong quá trình vay vốn, giúp nhau kinh nghiệm làm ăn, từ đó giúp chị em

có thể tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính thức dễ dàng và hiệu quả hơn.

Bảng 4.12: Mức độ vay vớn chính thức theo giới tính

Xã Giao Hà



Chỉ tiêu



Số hộ (hộ)



Tỷ lệ (%)



1. Tởng số hộ vay



60



100



Chủ hộ nam



45



75



Chủ hộ nữ



15



25



1517



100



Chủ hộ nam



1218



80,29



Chủ hộ nữ



299



19,71



2. Lượng vốn vay (tr.đ)



87



88



4.4.2.4 Đặc trưng nghề của chủ hộ

Đối với nhiều hô nông dân việc đầu tư vào sản xuất nơng nghiệp, kinh

doanh dịch vụ gặp khơng ít khó khăn trong thời điểm ban đầu, họ khơng biết

nên sản xuất và kinh doanh cái gì? Một trong những yếu tố ảnh hưởng tới

quyết định sản xuất kinh doanh của người dân là đặc trưng nghề nghiệp tại địa

phương nơi họ sinh sống. Tại các địa phương có nghề truyền thống sẽ thu hút

được nhiều hơn các hộ nông dân tham gia sản xuất và từ đó nhu cầu sử dụng

vốn cũng tăng theo, người dân sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận với các

nguồn vốn tín dụng chính thức.

Bảng 4.13 Đặc trưng nghề nghiệp của hộ nơng dân

Xã Giao Hà



Chỉ tiêu



Số hộ (hộ)



Cơ cấu (%)



60



100



Hộ thuần nông



26



43,33



Hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề



34



56,67



1517



100



Hộ thuần nông



651



24,83



Hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề



866



75,17



1. Tổng số hộ vay vốn



2. Lượng vốn vay (tr.đ)



Qua thực tế điều tra đa phần các hộ nông dân sống trên địa bàn xã là hộ

nông nghiệp kiêm ngành nghề có tới 34/60 hộ điều tra, số hộ thuần nơng là

26/60. Cũng theo đó lượng vốn vay của số hộ thuần nông là 651 triệu đồng

chỉ với 24,83% tổng lượng vốn vay của các hộ thuần nông. Với lượng vốn

vay chiếm 866 triệu đồng chiếm 75,17% tổng số vốn vay cho hoạt động nông

nghiệp.

Qua số liệu vay vốn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp ta thấy lượng

vốn vay tập trung nhiều hơn vào số hộ sản xuất nông nghiệp kiêm các ngành



89



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tín dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×