Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Cơ sở thực tiễn

2 Cơ sở thực tiễn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chỉ có Grameem bank là tổ chức tín dụng duy nhất làm dịch vụ Ngân

hàng ở nông thôn. Hoạt động của Grameen Bank được quốc hội Bangladesh

thông qua thành một bộ luật riêng. Giấy phép hoạt động do ngân hàng nhà

nước cấp theo quy chế riêng, không áp dụng quy chế của các ngân hàng

thương mại ở Bangladesh.

Về mạng lưới hoạt động Grameen Bank có trụ sở chính đặt tại thủ đô

datka và các văn phong đại diện, các chi nhánh tại các bang, vùng, mỗi chi

nhánh phục vụ từ 12 đến 22 làng với số nhân viên toàn hệ thống 13000 người.

Về vốn điều lệ có 150 triệu kata (3.75 triệu USD) trong đó vốn góp cổ

phần của nhà nước 18 triệu Kata, phần còn lại là vốn cổ phần của các cổ đông

và phát hành trái phiếu.

Người vay vốn tự nguyện tập hợp nhóm 5 người và tự quyết định cho 2

người vay, 2 người trả xong nợ đến 2 người tiếp theo. Trưởng nhóm vay cuối

cùng khi các thành viên trả xong nợ. Các nhóm hoạt đọng trong khuân khổ

một trung tâm mỗi trung tâm tối đa 10 nhóm. Hàng tuần trưởng trung tâm chủ

trì cuộc họp để phổ biến thực hiện các vấn đề xã hội: Xóa mù chữ kế hoạch

gia đình, vệ sinh mơi trường … Nhân viên Grameen Bank sẽ tiến hành các

giao dịch cho vay, thu nợ và huy động tiết kiệm tại các cuộc họp này. Việc

cho vay khơng đòi hỏi phải có tài sản thế chấp và trả góp nên rất phù hợp với

các hộ nghèo ở cùng nông thôn Bangladesh.





Trung Q́c

Trung Quốc hiện nay có 1,3 tỷ dân, trong đó số dân sống ở các vùng



nông thôn rất đông chiếm khoảng 70% dân số. Vì vậy, nơng nghiệp đóng một

vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội

của Trung Quốc. Sau 30 năm cùng với tiến trình cải cách mở cửa (1978 –

2008), nền nơng nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo

hướng hiện đại hóa và bền vững. Trước tình trạng giá lương thực trong nước



leo thang, khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày

càng lớn, Trung Quốc đang tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng

tham gia vào hoạt động cấp vốn cho nơng dân… Chính phủ Trung Quốc thực

hiện những nỗ lực đưa vốn đến vùng nông thôn trong lúc lạm phát ở nước này

đang chạm mức 8,5%, cao nhất trong vong 12 năm qua, mà nguyên nhân

chính là do giá lương thực leo thang. Tháng 4/2008 giá lương thực ở Trung

Quốc tăng 22% so với năm 2007. Mặt khác, việc Trung Quốc chuyển bốn

ngân hàng quốc doanh lớn thành ngân hàng thương mại trong những năm gần

đây đã buộc các ngân hàng này phải tập trung cắt giảm chi phí, tăng lợi nhuận

và giảm bớt sự hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn. Người

nông dân phải lệ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn vay từ các hợp tác xã tín

dụng nông thôn. Các tổ chức này hiện đang chiếm khoảng 10% trong tổng số

tiền gửi 42.900 tỷ nhân dân tệ trong các ngân hàng và các định chế tài chính ở

Trung Quốc và chủ yếu cung cấp các khoản vay nhỏ có giá trị từ 500 – 20.000

nhân dân tệ cho các hộ nông dân. Giải pháp này giúp khoảng 700 triệu nơng

dân Trung Quốc có thể tiếp cận các nguồn vay dễ dàng hơn, từ đó đẩy mạng

sản xuất, gia tăng sản lượng nông nghiệp và tạo thêm động lực cho nền kinh

tế vốn đang tăng trưởng nhanh của nước này. Tính đến năm 2006, nơng

nghiệp cùng với các ngành kinh tế chủ lực khác như lâm nghiệp, chăn nuôi

chiếm gần 12% tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Trung Quốc. Việc nơng

dân có thể tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn cũng sẽ giúp hạn chế tình trạng lao

động trẻ từ nông thôn di chuyển ra thành thị để tìm việc làm khiến các vùng

nơng thơn càng bị tụt lại phía sau so với các thành phố lớn do thiếu vốn đầu

tư và lao động.

Trung Quốc đã bắt đầu cho phép các cơng ty nước ngồi và các nhà đầu

tư trong nước được thành lập ngân hàng và công ty cho vay ở nông thôn từ

tháng 12 – 2006. Tuy nhiên, các ngân hàng nước ngoài vẫn phải giám sát hoạt

động của các đơn vị kinh doanh này thơng qua pháp nhân nước ngồi với các



nhóm làm việc độc lập cho từng đơn vị. Việc thay đổi luật lệ đã tạo điều kiện

cho các ngân hàng nước ngoài hoạt động thông qua một đơn vị kinh doanh

duy nhất hay một công ty con được đăng ký pháp nhân ở Trung Quốc. Điều

này sẽ giúp các ngân hàng nước ngồi cắt giảm chi phí và giải quyết khó khăn

trong việc tìm kiếm đội ngũ các giám đốc quản lý chi nhánh có kinh nghiệm.

Năm 2006, Chính phủ Trung Quốc cũng đã mở rộng một kế hoạch thử

nghiệm thành lập bảy công ty cho vay nhỏ ở một số tỉnh nông nghiệp như

Sơn Tây, Tứ Xuyên. Đến này, số công ty cho vay nhỏ ở các tỉnh này đã tăng

lên đến khoảng 300. Ủy ban Pháp chế ngân hàng của Trung Quốc (CBRC) và

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã ban hành một số hướng dẫn

nhằm bỏ bớt một số rào cản xung quanh việc xác định loại hình công ty cho

vay ở nông thôn, các nguồn vốn huy động của các tổ chức này và các vấn đề

khác như quy trình xử lý tình trạng phá sản chẳng hạn. Theo các hướng dẫn

mới này, các công ty cho vay nhỏ có thể huy động vốn từ hai ngân hàng trở

lên bên cạnh các kênh huy động truyền thống như cổ đơng và các nguồn viện

trợ. Để khuyến khích các công ty cho vay nhỏ ấn định lãi suất cho vay phù

hợp với rủi ro tín dụng, Chính phủ Trung Quốc cũng cho phép các cơng ty

này có thể thu lãi cho vay cao hơn chi phí huy động đến bốn lần và tối thiểu

bằng 0,9 lần mức lãi suất cho vay thời hạn một năm do PBoC ấn định (hiện

nay là 7,47%, mức cao nhất trong chín năm trở lại đây). Nhờ đó, UA Easy

Lenders, một trong những công ty cho vay nhỏ thử nghiệm đầu tiên ở Trung

Quốc, hiện đang cho vay với lãi suất 27,6% năm.





Thái Lan

Ngân hàng nhà nước và hợp tác xã tín dụng (BAAC – Bank for



agriculture And Agriculture Cooperative) là ngân hàng thương mại quốc

doanh do chính phủ bổ nhiệm hội đồng quản trị, bộ trưởn bộ tài chính là chủ

tịch.

Về vốn : Chính phủ cấp 100% vốn tự có, các ngân hàng thương mại khác

phải dành 20% số dư tiền gửi để cho vay nông nghiệp vốn huy động của

BAAC chiếm 90% tổng nguần vốn. Ngồi ra BAAC còn được hưởng các

khoản vay ưu đãi đặc biệt do chính phủ ký hiệp định với nước ngồi,do tổ



chức ngân hàng, tài chính quốc tế World Bank(WB), Asian Development

Bank(ADB), Ovesea Economic corporation fund (OECF) cấp lãi suất thấp.

Trong tổng dư nợ của BAA có 30% cho vay trung hạn 70% cho vay dài hạn

(gồm 87% cho vay trực tiếp, 13% cho vay qua nhóm hộ hợp tác xã)

Hoạt động tín dụng của BAAC gồm hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông

thôn thực hiện kiểm sốt tín dụng thuộc nguần vn chính phủ cấp cho nông

nghiệp, cho vay hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản và hoạt động liên quan

nông nghiệp.







Philippin

Hệ thống TDCT cung cấp vốn tín dụng cho khu vực nơng nghiệp nông



thôn ở Philippin bao gồm các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đặc

biệt của Chính phủ. Hệ thống các ngân hàng nông thôn, ngân hàng tiết kiệm

và ngân hàng thương mại bao gồm của Nhà nước và của tư nhân có các chi

nhánh xuống tận làng xã ở khắp cả nước. Trong đó, ngân hàng nơng thơn là tổ

chức TDCT lớn nhất, trong tổng số dư tiền cho vay của ngân hàng nơng thơn

thì có tới 97% là cho vay nơng nghiệp. Chính phủ Philippin đã có những

chính sách tín dụng phục vụ cho phát triển nơng nghiệp nông thôn như bắt

buộc tất cả các ngân hàng thương mại phải dành tối thiểu 25% quỹ tiền vay

của họ cho nơng nghiệp, chính phủ có một ngân hàng đặc biệt cung cấp tín

dụng cho nơng nghiệp nơng thơn lớn nhất đó là ngân hàng đất đai của

Philippin. Ngân hàng này đã dành tới 60% số vốn huy động để cho vay phát

triển nông nghiệp nông thôn. Đặc biệt ở Philippin cũng có những ngân hàng,

những cơng ty được coi là thành công trong việc cho hộ nông dân nghèo vay

vốn. Đó là cơng ty TulayPag-unlad (TSPI), ngân hàng Philippin (BPI-Bank of

the Philipines Islands). Công ty này đã đi thẳng đến người nghèo với những

khoản tín dụng nhỏ khoảng 20-80 đôla, cho những phụ nữ nghèo và các chủ

doanh nghiệp nhỏ vay những vốn nhỏ để mở rộng sản xuất. Đối với những

phụ nữ nghèo, nông dân nghèo, Công ty TulayPag-unlad cũng tổ chức thành

mạng lưới mang những khoản tiền vay đến tận tay họ. Với lãi suất tối thiểu bằng

trên thị trường 40%/năm. Ngoài ra, ngân hàng BPI-Bank of the Philipines Islands

cũng đã cung cấp một khoản tín dụng lớn cho người nghèo vay.

Như vậy, ở Philippin không chỉ các hộ khá được tiếp cận đầy đủ với

nguồn vốn TDCT mà ngay cả các hộ nghèo cũng rất được quan tâm cho vay

vốn để yên tâm sản xuất.

2.2.2 Thực trạng sử dụng vớn tín dụng ở Việt Nam

2.2.2.1 Đồng bằng sơng Hồng

Tính đến hết tháng 6/2006 tổng nguồn vốn huy động của hệ thống ngân

hàng và của các tổ chức tín dụng khác tại vùng Đồng bằng sơng Hồng khoảng



230.000 tỷ đồng. NHNN&PTNT huy động khoảng 170.000 tỷ đồng. Hình

thức huy động tín dụng chủ yếu là tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm xây dựng

nhà ở, tiền gửi tiết kiệm có đảm bảo bằng vàng ... Riêng giai đoạn 2004 –

2006, NHNN&PTNT huy động số vốn là 94.010 tỷ đồng, cao nhất so với 7

vùng kinh tế khác. Các chi nhánh NHNN&PTNT ở các địa phương vùng

Đồng bằng sông Hồng, do làm tốt các công tác tổ chức, tiếp thị … đã huy

động vốn với số lượng cao nhất là: Hà Nội, Hà Tây, Nam Định. Hà Nam là

một tỉnh nghèo, mới tái lập, số vốn huy động là rất nhỏ bé. Phần lớn số vốn

huy động từ dân cư. NHCSXH huy động vốn từ nhiều nguồn, song chủ lực là

từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, vốn ủy thác của Ngân hàng

thương mại nông nghiệp, vốn tài trợ. Năm 2003, huy động được 7.015 tỷ

đồng. Năm 2004 tăng lên 15.345 tỷ đồng và năm 2005 là 20.109 tỷ đồng.

QTDND toàn vùng huy động lượng vốn không lớn. Năm 2001 là 803.284

triệu đồng, năm 2005 là 2.263.205 triệu đồng, tức trên 2 tỷ đồng.

Tình hình cung ứng vốn trên thị trường tín dụng nơng thơn ở Đồng

bằng sơng Hồng tính đến hết năm 2004, dư nợ cho vay của

NHNN&PTNT khoảng 32.540 tỷ đồng, năm 2005 là 38.482 tỷ đồng và

đến tháng 6/2006 là 40.450 tỷ đồng, cao gấp trên 1,3 lần vùng Đồng bằng

Sông cửu Long. Trong đó, cho vay vốn tín dụng ngắn hạn chiếm 59 –

63%; cho vay trung hạn và dài hạn khoảng 31 – 37%. NHCSXH cũng có

đóng góp ngày càng tích cực vào phục vụ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa

nơng thôn vùng Đồng bằng sông Hồng thông qua việc cung ứng tín dụng

nơng thơn. Dư nợ tín dụng của NHCSXH có xu hướng tăng từ 1.335 tỷ

đồng (2002) lên 1.514 tỷ đồng (2003), 1.999 tỷ đồng (2004) và 2.3882 tỷ

đồng (2005), đứng thứ tư trên 8 vùng kinh tế. Cung vốn tín dụng ngắn hạn

là chủ yếu, chiếm 59 – 60%, tín dụng trung hạn và dài hạn chỉ chiếm 39

-40%. Lãi suất của NHCSXH là thấp, để phù hợp với điều kiện phát triển

kinh tế khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng. QTDND vùng

Đồng bằng sông Hồng cung ứng vốn phục vụ nơng thơn có xu hướng tăng

lên. Năm 2002, QTDND toàn vùng chỉ cho vay khoảng trên 1 tỷ đồng,

đến năm 2005 tăng lên trên 2 tỷ đồng. Cơ cấu vốn tín dụng cho vay trên



90% là vốn ngắn hạn; lãi suất cho vay là cao nhất so với các định chế tín

dụng khác ở vùng Đồng bằng sông Hồng.

2.2.1.2 Đồng bằng Sông cửu Long

Khu vực Đồng bằng Sơng cửu Long (ĐBSCL) ngồi hai ngân hàng đã

có thời gian hoạt động khá lâu trong lĩnh vực nơng nghiệp, nơng thơn – đó là

Agribank và Ngân hàng Chính sách Xã hội, thì hai ba năm gần đây, một số

ngân hàng thương mại (NHTM) khác đã mở rộng phạm vi hoạt động vào khu

vực này. Cùng với quá trình phát triển các kênh phân phối, các NHTM đã

từng bước chú ý đến việc đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng nhằm đáp

ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp và dân cư.

Một số các ngân hàng khác như: Lienviet Bank với đề án “Đầu tư phát

triển tín dụng nơng nghiệp, nơng thơn vùng ĐBSCL giai đoạn 2010 – 2013”,

theo đó ngân hàng sẽ dành ra một khoản tín dụng từ 3.000 – 5.000 tỷ đồng

cho vay. Một trong nhưng ngân hàng có tổng số dư nợ cho vay lĩnh vực nông

nghiệp, nông thôn với tỷ trọng lớn – Lienvietpostbank với 4000 tỷ đồng cho

vay khu vực nơng nghiệp nơng thơn trong đó trên 20.000 hộ nông dân ở

ĐBSCL được hưởng lợi gián tiếp từ đề án này. Ngồi ra còn có các ngân hàng

như Viettin Bank, ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL,…



2.2.1.3 Miền núi

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương phát triển kinh tế xã hội khu

vực nông nghiệp, nông thôn đặc biệt là các địa bàn vùng khó khăn, Chính phủ

đã ban hành nhiều chính sách tín dụng ưu đãi đối với vùng khó khăn như:

giảm 15% lãi suất cho vay khu vực II miền núi, giảm 30% lãi suất cho vay

khu vực III miền núi, hải đảo, vùng đồng bào khơ me tập trung và các xã đặc

biệt khó khăn thuộc chương trình 135, giảm lãi suất cho vay 20% đối với

thương nhân vay vốn để dự trữ, bán lẻ các mặt hàng thiết yếu, thu mua hàng

nông, lâm sản ở khu vực II, III miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc. Để

tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển

vùng khó khăn và tách bạch tín dụng chính sách ra khỏi hoạt động tín dụng

thơng thường của các ngân hàng thương mại, thì ngồi cơ chế tín dụng đối với

hộ nghèo và các đối tượng chính sách được quy định tại Nghị định số

78/2002/NĐ-CP đang được Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) triển

khai, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và đầu tư; Nông nghiệp và

phát triển nông thôn; Uỷ ban dân tộc và miền núi; và một số Uỷ Ban nhân dân

tỉnh có địa bàn vùng khó khăn xây dựng và trình Chính phủ chính sách tín

dụng đối với hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn và đề nghị giao

NHCSXH thực hiện cho vay đối tượng này. Địa bàn vùng khó khăn bao gồm

khu vực II, III, miền núi, vùng hải đảo; vùng đồng bào Khơ me sống tập

trung; các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135, vùng bãi ngang ven

biển và hải đảo.

Chính sách tín dụng đối với hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn là

việc Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính của mình để cho vay ưu đãi

đối với các hộ gia đình nhằm phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, giúp các

hộ gia đình ở vùng khó khăn từng bước hòa nhập và phát triển đồng đều với

các vùng trong cả nước thông qua đó thực hiện chương trình mục tiêu quốc

gia về xóa đói, giảm nghèo. Tính ưu đãi của chính sách tín dụng này được thể

hiện thông qua các nội dung như: Nhà nước đảm bảo nguồn vốn cho dân vay;

nâng mức vốn vay cho phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh;

hỗ trợ về lãi suất, điều kiện vay, thủ tục và trình tự vay vốn.



Chính sách tín dụng đối với hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn

được thiết kế phù hợp với khả năng tài chính của Nhà nước, tránh việc sử

dụng tín dụng ưu đãi như một kênh bao cấp của Ngân sách Nhà nước tạo tâm

lý trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời việc xây dựng cơ chế

tín dụng cho vùng khó khăn phải đảm bảo khơng làm xáo trộn thị trường tín dụng

tại khu vực này, vừa phải đảm bảo sự tồn tại phát triển hài hồ giữa hoạt động tín

dụng thương mại với hoạt động tín dụng chính sách trên cùng địa bàn.

Hiện nay, NHCSXH đang cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách

theo phương thức uỷ thác bán phần qua các tổ chức chính trị - xã hội (Hội

Nơng dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên), do vậy phương

thức cho vay đối với các hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn cũng

tương tự như phương thức cho vay hộ nghèo. Lãi suất cho vay có thể thấp

hơn lãi suất cho vay thương mại nhưng cao hơn lãi suất cho vay hộ nghèo trên

địa bàn. Do đối tượng được vay vốn là các hộ gia đình (khơng phải hộ nghèo)

thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh trong đó xu hướng chủ yếu vẫn là

chun mơn hóa vừa đa dạng hóa, trong đó xu hướng chủ yếu vẫn là chun

mơn hóa trồng trọt và chăn ni hình thành các mơ hình kinh tế trang trại sản

xuất hàng hóa với quy mơ nhỏ là chiinhs và đang từng bước hình thành các

vùng kinh tế chuyên canh phục vụ CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn đối

với khu vực miền núi

2.2.3 Bài học kinh nghiệp rút ra.

Bài học 1: Ở những khu vực vùng sâu vùng xa bị chia cắt, tiếp cận thị trường

khó khăn, sản xuất mang tính đặc trưng chủ yếu tự cung tự cấp, năng suất

thâó, hộ nơng dân ln là cơ sở kinh tế có sức mạnh mẽ nhất. tuy nhiên trong

bối cảnh nền kinh tế tiến lên sản xuất hàng hóa, liên kết kinh tế phát triển,

công nghiệp chế biến phát triển tạo điều kiện công nghiệp gắn kết với nông

nghiệp, liên kết giữa các thị trường phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra

cạnh tranh, công nghệ lạc hậu, sản xuất manh mún giá thành cao, chất lượng

thấp … Phát triển cần có sự phối hợp giữa các cá nhân đơn lẻ theo mơ hình

hợp tác đồng thời các nguần vốn đầu tư cho phát triển kinh tế phải được phân

bổ và sử dụng hợp lý hiệu quả.



Bài học 2: Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, các hoạt động sản

xuất nông nghiệp là động lực quan trọng ban đầu để phát triển nông thôn. Tuy

nhiên về lâu dài, chỉ thúc đẩy hoạt động phát triển đơn thuần sẽ không đủ sức

tạo lên chuyển đổi căn bản cho khu vực nông thôn. Phát triển các hoạt động

phi nông nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghiệp nông thôn là

hướng đi hiệu quả trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân

nơng thơn và có thể tạo nên một động lực thúc đẩy khu vực nông thôn phát

triển, làm thay đổi bộ mặt và đẩy mạnh đô thị hóa nơng thơn một các sâu sắc

và bền vững.

2.2.4 Một số cơng trình nghiên cứu có liên quan

Vi đức (2008) đã nghiên cứu đề tài “phân tích hiệu quả sử dụng vốn vay

của hộ nghèo tại tỉnh hậu giang”, luận văn thạc sỹ. Đại học cần thơ. Đề tài

nghiên cứu các yếu tố tác động đến tín dụng nơng thơn và quy mơ vay vốn.

Các mơ hình phân tích logic và tobit được sử dụng để phân tích mối quan hệ

giữa các đặc tính của hộ và khả năng tiếp cận vốn vay làm tăng thu nhập, chi

tiêu của hộ.

Thanh Hà (2001) đã nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận

vốn vay của nông hộ ở Đồng Bằng Sơng Hồng, Việt Nam. Mơ hình probit và

mơ hình OLS đã được sử dụng để phân tích và chỉ ra rằng giá trị tài sản của

nông hộ tỉ lệ thuận với nhau.

Một nghiên cứu của Ngân và Minh (2005) Nghiên cứu về những nhân tố

quyết định đến việc tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nơng dân ở Đồng

Bằng Sông Cửu Long. Đề tài nghiên cứu nguyên nhân tại sao một số hộ nơng

dân sử dụng tín dụng chính thức, còn một số khác thì khơng sử dụng. Đề tài

sử dụng mơ hình hai bước Heckman, kết quả chỉ ra rằng những nhân tố ảnh

hưởng đến khẳ năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nơng dân và phát

hiện ra một số trở ngại trong việc quyết định mức vay mà các hộ nông hộ vay

từ các tổ chức tín dụng.

Thanh Hương (2002) nghiên cứu về đề tài phân tích các hoạt động tài

chính doanh nghiệp chính thức và khơng chính thức của vùng nơng thơn

nghèo ở Việt Nam, luận văn thạc sỹ, dự án Việt Nam- Hà Lan, TPHCM



Bài phân tích của Quách, Mulineux và murinde (2005) ở trường đại học

Birmingham họ đã áp dụng mô hình hai bước để phân tích ảnh hưởng tín

dụng nơng thơn đến hộ nghèo ở Việt Nam. Họ đã tìm hiểu khả năng của quỹ

chính thức và phi chính thức ở xóm làng, tiết kiệm tài chính và phi tài chính,

số người trong hộ diện tích đất và nếu hộ là hộ nơng dân sẽ ảnh hưởng đến

việc cấp tín dụng chính thức.

Phần III Đặc Điêm Địa Bàn Nghiên Cứu

3.1 Đặc điêm điều kiện tự nhiên

3.1.1 Đặc điểm vị trí địa ly

Gao Hà nằm ở phía nam của huyện Giao Thủy, cách trung tâm huyện khoảng

3 km, tổng diện tích đất tự nhiên 629,46 ha có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp với thị trấn Ngơ Đồng Và Hồnh Sơn

- Phía nam giáp với xã Giao Hải, Giao Xn

- Phía đơng giáp với xã Bình Hòa

- Phía tây giáp với xã Giao Nhân

Giao hà là một xã đồng bằng ven biển , địa hình tương đối bằng phẳng, hướng

dốc đốc dần từ phía đơng bắc xuống tây nam, cốt đất chênh cao trung bình

khơng q 0,5 m

Xã có các hệ thống sơng như: Sơng Cồn Nhất chạy qua phía bắc, sơng Diêm

điềm, Sơng CN-7, CN -9… kết hợp với hệ thống kênh mương nội đồng cung

cấp nước ngọt cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người

dân trong xã.

Hệ thống tưới tiêu chủ yếu là tự chảy, phần lớn diện tích được tưới tiêu chủ

động dưới sự điều hành của hợp tác xã nông nghiệp.



3.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn





Khí hậu



Xã Giao Hà nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Đơng Bắc Bộ.

Là khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt.

- Nhiệt đỗ trung bình hằng năm từ 23-240C

- Mùa đơng nhiệt độ trunh bình là 18,90C



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Cơ sở thực tiễn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×