Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Cơ sở lý luận

1 Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhà xưởng, các cơng trình hạ tầng, các loại ngun liệu, các sản phẩm trung

gian, các thành phẩm,… Các loại vốn vơ hình ( các bằng phát minh, sánh chế,

vị trí kinh doanh, thương hiệu,…) khơng tồn tại dưới dạnh vật chất nhưng có

giá trị kinh tế và cũng là yếu tố vốn cần thiết cho quá trình phát triển. Tóm lại,

chúng ta có thể cho rằng “vốn” là khoản tiền được đưa ra trong quá trình sản

xuất kinh doanh dưới dạng tài sản nhằm sinh lời, góp phần đẩy mạnh tăng

trưởng và phát triển kinh tế. Trong quá trình hoạt động của nền kinh tế, vốn

luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất cũng như từ hình thái vật

chất này sang hình thái tiền tệ và ngược lại.





Tín dụng

Xuất phát từ chữ Latinh Creditum, thuật ngữ “tín dụng” có nghĩa là tin



tưởng, tín nhiệm, trong tiếng Anh gọi là Credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt

Nam tín dụng có nghĩa là có sự vay mượn có tín nhiệm, tin tưởng nhất định.

Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế

hàng hóa, phản ánh mối quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế

theo nguyên tắc có hồn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có mục đích và bảo

đảm tiền vay. Tín dụng ra đời tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Khi

chế độ tư hữu hóa về tư liệu sản xuất xuất hiện, đồng thời xuất hiện quan hệ

trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay

mượn bằng hiện vật- hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển sanh hình thức

vay mượn bằng tiền tệ.

Theo đại từ điển kinh tế thị trường thì “tín dụng là những hành động vay

vốn bán chịu hàng hóa giữa những người sở hữu khác nhau. Tín dụng khơng

phải là hành động vay tiền đơn giản mà là họat động vay tiền có điều kiện, tức

là phải có bồi hồn và thanh tốn lợi ích. Tín dụng là hình thức đặc thù vận

động giá trị khác với lưu thơng hàng hóa đơn thuần. Vận động giá trị dẫn đến

phương thức mượn tài khoản bồi hoàn và q trình thanh tốn”.



Tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát

triển mạnh mẽ, với các mối quan hệ cung cầu về tiền vốn như một dòi hỏi cần

thiết khách quan của nền kinh tế. Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh

trong điều kiện sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tín dụng khơng

chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà còn là một động lực

thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.

Nghiên cứu tín dụng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Các

Mác đã chỉ rõ bản chất của tín dụng:

Một là: Xuất hiên sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị từ

chủ thể cung tín dụng sang chủ thể cầu tín dụng.

Hai Là : sự chuyển nhượng quền sử dụng một lượng giá trị trong khoảng

thời gian xác định và mang tính tạm thời.

Ba là : chủ thể cầu tín dụng phải hồn trả gốc và lãi cho chủ thể cung tín

dụng.

Biểu hiện ra trên bề mặt xã hội của quan hệ tín dụng là sự vận động của

lượng giá trị vốn tín dụng, qua các giai đoạn phân phối vốn tín dụng, sử dụng

vốn tín dụng và hồn trả vốn tín dụng. Sự vận động của lượng giá trị tín dụng

khi quay về điểm xuất phát luôn đảm bảo giá trị và giá trị gia tăng thêm, dưới

hình thức lợi tức, thơng qua cơ chế điều tiết lãi suất. Tính hồn trả của tín

dụng là cơ sở khoa học để phân biệt pham trù tín dụng với phạm trù kinh tế

khác.

 Tín dụng hộ nông dân

Theo nhà khoa học Lê Đinh Thắng (1993): Hộ nông dân là tế bào kinh tế

xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nơng nghiệp và nơng thơn.

Theo giáo trình “Kinh tế hộ nơng dân”, nhà xuất bản Nơng nghiệp, 1996:

Hộ gia đình nơng dân (hộ nông dân) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích

kinh tế, các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động,



…) được góp vốn chung, cùng chung một ngân sách, cùng chung sống dưới

một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hướng phần thu thập và mọi quyết

định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia

đình.

Tác giả Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Hộ nông dân là những hộ chủ

yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá

và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.

Theo những khái niệm và quan điểm trên đây của các tác giả, chúng tôi

nhận thức rằng:

Hộ nông dân là những hộ gia đình sống ở nơng thơn, là một đơn vị kinh

tế cơ sở, cùng chung tài sản và các điều kiện sản xuất, chủ yếu hoạt động

nông nghiệp theo nghĩa rộng và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn;

Để đáp ứng nhu cho nhu cầu sản xuất kinh doanh theo hướng hàng hóa

quy mơ lớn hầu hết các hộ nơng dân đều có nhu cầu vay vốn tín dụng. vốn tín

dụng của hộ nơng dân bao gồm vốn tín dụng chính thức bán chính thức và phi

chính thức.

Tín dụng hộ nông dân là mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng và

hộ nơng dân, tổ chức tín dụng sẽ cung cấp vốn cho khách hàng (hộ nông

dân) để hoạt động sản xuất kinh doanh nếu khách hàng hội đủ được các

điều kiện của tổ chức tín dụng và thỏa mãn các điều kiện được kí kết

trong hợp đồng kí kết giữa hai bên.

2.1.1.2. Nguồn vốn tín dụng chính thức

 Khái niệm

Nguồn vốn tín dụng chính thức là hệ thống tín dụng thường thấy giữa

các cá nhân và các tổ chức tín dụng được pháp luật thừa nhận và hoạt động

dưới sự quản lý của pháp luật.

 Nguồn vốn tín dụng chính thức



Hiện nay nguồn cung tín dụng cho nơng nghiệp, nơng thơn nước ta bao

gồm tín dụng chính thức (TDCT) và tín dụng phi chính thức, trong đó TDCT

ngày càng phát triển, thể hiện ở tính đa dạng, nhiều thành phần sở hữu, và mở

rộng về quy mô. Mạng lưới TDCT bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn (NHNN&PTNT), Ngân hàng Phục vụ người nghèo (nay đổi

tên là Ngân hàng Chính sách Xã hội), Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND),

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Phát

triển. Song tổ chức tín dụng chủ lực vẫn là NHNN&PTNT, Ngân hàng Chính

sách (NHCSXH), QTDND. Đây là những chủ thể gắn bó với nơng dân, nơng

nghiệp, nơng thơn; có bề dày kinh nghiệm trong hoạt động huy động và cho

vay tín dụng phát triển kinh tế ở khu vực này.

 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

NHNN&PTNT được thành lập theo pháp lệnh ngân hàng tháng 11/1990

đây là tổ chức tín dụng chủ yếu hoạt động ở khu vực nơng thơn

NHNN&PTNT có mạng lưới rộng (cuối q III/2004, có gần 200 chi nhánh

và phòng giao dịch trong phạm vi tồn quốc, có thị trường và khách hàng

truyền thống đó là thị trường nông thôn, với đối tượng phục vụ là trên 10 triệu

hộ sản xuất và hàng vạn doanh nghiệp trên khắp mọi miền đất nước). Hiện

nay với vai trò là một ngân hàng quốc doanh lớn ở Việt Nam, NHNN&PTNT

thực hiện cung cấp các dịch vụ của một ngân hàng hiện đại, đa năng, đặc biệt

trong lĩnh vực nông nghiệp nơng thơn. Trong những năm qua với những nỗ

lực hết mình, NHNN&PTNT Việt Nam đã vươn lên trở thành một kênh hoạt động

và đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực nơng nghiệp, nơng thơn, đóng góp một phần quan

trọng đưa nền nơng nghiệp nước ta đạt được những thành tựu vượt bậc.





Ngân hàng phục vụ người nghèo (nay đổi tên thành Ngân hàng chính



sách xã hội).

Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập theo quyết định số

525/QĐTTG ngày 31/08/1995 của thủ tướng chính phủ và quyết định số



230/QĐ ngày 01/09/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đến

đầu năm 2003, Ngân hàng phục vụ người nghèo đổi tên thành Ngân hàng chích

sách xã hội (NHCSXH). NHCSXH có trung tâm điều hành ở các tỉnh, huyện,

các bộ phận chuyên trách của NHNN&PTNT làm dịch vụ cho NHCSXH. Việc

xét duyệt cho vay và thu hồi vốn được thực hiện thông qua ban xóa đói giảm

nghèo ở địa phương, Hội nơng dân, Hội phụ nữ,… mức vốn cho một hộ vay

khoảng từ 1 – 5 triệu đồng, lãi suất 0,5%/tháng. Lượng vốn hàng năm NHCSXH

đã cho 3,77 triệu lượt hộ nghèo vay vốn, với tổng số tiền là 4,98 ngàn tỷ đồng.

Nhờ đó nhiều hộ nghèo đã có vốn để mua sắm vật tư, phương tiện sản xuất tăng,

thu nhập ổn định cuộc sống.

2.1.2 Đặc trưng vớn tín dụng nơng thơn

Trải ra trên địa bàn rộng lớn, số lượng khách hàng đông đảo vừa thúc

đẩy quá trình huy động, cho vay vốn, vừa cản trở quá trình này.

Chủ thể tham gia hoạt động cung vốn trên thị trường tín dụng nơng thơn

là trung gian tài chính, các tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn, song chủ

lực vẫn là NHNN&PTNT, NHCSXH; chủ thể cầu vốn tín dụng chủ yếu là

nơng dân, một phần là các chủ thể sản xuất kinh doanh ngành nghề phi nông

nghiệp.

Lãi suất đa dạng, phong phú; vừa tuân thủ lãi suất kinh doanh theo mục

tiêu lợi nhuận vừa tuân thủ lãi suất ưu đãi của Chính phủ dẫn đến cơ chế điều

hành lãi suất tín dụng trên thị trường tín dụng nơng thơn khơng đồng nhất.

Đối tượng vay vốn trên thị trường tín dụng nơng thơn đa số là hộ gia

đình sản xuất nơng nghiệp, được phân chia theo vùng, tiểu vùng, địa phương,

tùy từng loại đất,… dẫn đến số lượng khoản vay vốn tín dụng lớn, nhưng vốn

vay nhỏ; thủ tục cho vay rườm rà, phức tạp và nhiều tầng nấc.

Hoạt động của thị trường tín dụng nông thôn không tách rời hoạt động

của thị trường tài chính, chịu sự chi phối của hàng loạt các chính sách điều

tiết vĩ mơ; tn thủ theo pháp luật.



2.1.3 Vai trò vớn tín dụng đới với nơng thơn





Góp phần đẩy nhanh q trình tích tụ và tập trung vốn, tư liệu sản xuất,



công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn.

Tại khu vực nông thôn hiện nay, số hộ dân khá đang giàu lên chiếm tỷ lệ

ngày càng cao do có trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu được tiến bộ khoa

học kỹ thuật, họ có vốn là điều thiết yếu ban đầu cho quá trình sản xuất và

nắm bắt nhanh nhạy thị trường, họ quyết định được sản xuất cái gì, sản xuất

cho ai và sản xuất như thế nào, để mang lại hiệu quả cao nhất, ngược lại, có

những hộ khơng có kinh nghiệm, kinh doanh khơng có hiệu quả dẫn đến lỗ,

hoặc có ruộng đất quá ít so với nhu cầu của hộ hoặc thiếu vốn cho quá trình

sản xuất. Trong mọi trường hợp, đồng vốn tín dụng của ngân hàng giúp hộ có

khả năng giải quyết được khó khăn trong sản xuất kinh doanh và góp phần

tăng thu nhập cho hộ. Quy mơ sản xuất của hộ càng lớn, thì càng có khả năng

đững vững hơn trong cạnh tranh, Bởi lẽ kho có vốn, người nơng dân có thể áp

dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, tăng sản lượng, tăng

tỷ trọng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm. Trên cơ sở đó, họ có khẳ năng dễ

dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn.





Tạo cho người dân khơng ngừng nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường



hoạch tốn kinh tế, lập kế hoạch sản xuất.

Hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất kinh doanh lời ăn lỗ chịu.

Do vậy bắt buộc bản thân hộ gia đình muốn phát triển thì phải đáp ứng được

những yêu cầu mới. Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển

đòi hỏi người nơng dân phải khơng ngừng nâng cao trình độ của mình.Kết

quả cuối cùng đã ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân và gia đình họ. Vì vậy

ngồi việc hăng say lao động, họ phải áp dụng những quy trình kỹ thuật mới

vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.



Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thơng đẩy nhanh tốc độ lưu

thơng hàng hóa, đẩy nhanh các giai đoạn biến hóa hình thái của hàng hóa sản

phẩm. Đẩy nhanh tốc độ lưu thông của tiền, giảm bớt khối lượng tiền tệ cần

thiết cho lưu thông, giảm bớt dự trữ bằng tiền mặt, đẩy nhanh được quá trình

tái sản xuất nói chung.





Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn

Kinh tế nông thôn là một hệ thống nhất của 3 ngành: nông nghiệp, công



nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Ba ngành kết hợp với nhau và có

mối quan hệ qua lại chặt chẽ tạo thành cơ cấu kinh tế nơng thơn. Theo quan

điểm hệ thống thì bất cứ một hệ thống nào cũng luôn thay đổi từ trạng thái

này sang trạng thái khác thể hiện thông qua sự biến đổi về lượng dẫn đến sự

thay đổi về chất. Đối với cơ cấu kinh tế nông thôn, sự chuyển dịch hay thay

đổi của 3 ngành trên theo chiều hướng khác nhau sẽ làm cho cơ cấu kinh tế

thay đổi. Một sự thay đổi cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo ra động lực cho nền

kinh tế phát triển. Để tạo ra sự thay đổi hợp lý đó, tín dụng có vai trò rất quan

trọng. Vai trò của tín dụng thể hiện theo hai chiều hướng:

- Theo hướng thứ nhất: Việc tăng đầu tư các nguồn vốn trong đó có tín

dụng vào lĩnh vực cơng nghiệp - tiều thủ công nghiệp và dịch vụ sẽ làm cho

bản thân hai ngành đó phát triển, nó sẽ thúc đẩy cho nơng nghiệp phát triển

theo xu hướng sản xuất hàng hố. Nơng nghiệp hàng hóa phát triển lại thúc

đẩy cơng nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển hơn nữa. Khi đầu

tư tăng, giá trị của cả ba ngành trên đều tăng, nhưng trong nông nghiệp đất đai

chỉ có giới hạn, khả năng tăng năng suất sinh học cũng chỉ có giới hạn nên

nơng nghiệp có xu hướng phát triển chậm hơn so với 2 ngành còn lại. Kết quả

là cơ cấu kinh tế nông thôn đã được thay đổi theo chiều hướng tăng tương đối

giá trị của ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ và giảm tương

đối giá trị của ngành nông nghiệp.



- Theo hướng thứ hai: Nếu tăng các nguồn vốn đầu tư, trong đó có nguồn

vốn tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp theo hướng phát huy thế mạnh của

tổng vùng, tổng loại cây trồng vật nuôi theo hướng tăng năng suất và hiệu quả

kinh tế sẽ dẫn đến cơ cấu ngành nông nghiệp thay đổi. Cơ cấu ngành nông nghiệp

thay đổi sẽ là cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý.

Trong giai đoạn hiện nay, việc dẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nhằm phát triển nông thôn nông nghiệp theo hướng cơng nghiệp hố,

hiện đại hố, hợp tác hố và dân chủ hoá là một trong những chủ trương của

Đảng và Nhà nước ta, “phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công

nghiệp chế biến, phát triển tồn diện kinh tế nơng thơn và xây dung nơng thôn

mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định kinh tế xã hội”.

Xét trên quy mô cả nước thì cơ cấu về giá trị sản xuất nơng nghiệp trong

những năm qua thay đổi ít, trồng trọt và chăn nuôi chiếm 78%, thuỷ sản

chiếm 15%, lâm nghiệp chiếm 7%. Như vậy, sản xuất lâm nghiệp chưa phát

triển phù hợp với quỹ đất đai vốn có của nó.

Trong nơng thơn, mặc dù sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn còn nhiều

điểm bất hợp lý, nhưng bằng các chính sách về tín dụng của Nhà nước và

sự đầu tư từ các nguồn vốn khác đã góp phần làm cho cơ cấu nơng thơn nói

chung và cơ cấu nơng nghiệp nói riêng thay đổi theo hướng tích cực. Thể

hiện như tỷ trọng GDP trong nông nghiệp giảm từ 38,7% xuống 25%, công

nghiệp tăng từ 22,7% lên đến 43,5%, dịch vụ tăng từ 38,6% lên đến 40,5%

năm 2004.





Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Trong phát triển kinh tế nông thôn, vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng



nơng thơn có một ý nghĩa rất lớn. Thực tế đã kiểm nghiệm, nơi nào có cơ

sở hạ tầng phát triển thì nơi đó có nền kinh tế phát triển. Do đó việc đầu

tư để xây dung cơ sở hạ tầng nông thôn phải đi trước một bước so với các

lĩnh vực khác. Trong những năm qua, bằng nguồn vốn của Chương trình



135 của Nhà nước xã được đầu tư để xây dựng các cơ sở hạ tầng như

đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, điện, hệ thống thông tin liên lạc, trụ

sở làm việc chính của chính quyền, trạm y tế,… Đây là những tiền đề

quan trọng cho địa phương xây dựng chiến lược và thực hiện kế hoạch

phát triển kinh tế xã hội của huyện trong dài hạn.





Giải quyết tình trạng đói nghèo

Trong giải quyết vấn đề đói nghèo ở nơng thơn, giải pháp tín dụng



được coi như một “cái phao”, một trong những cách tốt nhất giúp cho

người nghèo có thể cải thiện được điều kiện cuộc sống, có thể thốt khỏi

tình trạng nghèo đói. Có rất nhiều ngun nhân dẫn đến tình trạng nghèo

đói ở nơng thơn: thiếu ruộng đất, thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất,

thiếu vốn, lười lao động, hoặc gặp phải rủi ro thiên tai, bệnh tật…nhưng

một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nghèo đói là do thiếu vốn,

thiếu hiểu biết làm ăn. Nếu có vốn người nghèo có thể đầu tư vào các yếu

tố sản xuất như: Phân bón, thuốc trừ sâu, cơng cụ sản xuất, giống vật nuôi

cây trồng tốt, thức ăn chăn nuôi, xây dung chuồng trại chăn nuôi…tất cả

những điều kiện trên sẽ tạo cho người nghèo có thể mở rộng được quy mô

sản xuất, sử dụng các nguồn lực trong gia đình hiệu quả hơn, tạo việc làm

và tăng thu nhập cải thiện cuộc sống, các điều kiện về ăn, mặc, ở, chăm

sóc y tế cũng được nâng cao, con cái họ và chính họ có điều kiện học tập

tốt hơn. Đó là những cơ sở giúp cho người nghèo tiếp cận được với những

tiến bộ khoa học kỹ thuật và áp dụng chúng vào cuộc sống, nâng cao hiệu

quả sản xuất.





Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển văn hố, y tế, giáo dục

Tín dụng và các nguồn đầu tư cho nơng thơn còn bao gồm các khoản đầu



tư cho giáo dục, y tế, văn hoá. Đây là chiến lược đúng đắn nhằm phát triển

nguồn nhân lực nơng thơn cả về thể lực và trí lực phục vụ tốt cho cơng cuộc

cơng nghiệp hố, hiện đại hố nơng nghiệp nơng thơn. Trong những năm qua,



Đảng và Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều ngân sách cho phát triển cơ sở hạ

tầng của giáo dục, y tế, văn hóa bằng các hoạt động cụ thể như: Kiên cố hoá

trường lớp, trạm y tế, xoá mù chữ, đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc y tế, các

hoạt động văn hoá thể thao,… Sự đầu tư cho các lĩnh vực này sẽ gián tiếp

thúc đẩy kinh tế nông thơn phát triển

2.1.4 Phân loại vớn tín dụng nơng thơn

Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy vào góc độ xem xét, tuy

vậy cách phân loại dựa theo thời gian, mục đích, tính chất và nguồn gốc cung

cấp tín dụng là những cách phân loại tín dụng phổ biến nhất đặc biệt là trong

tín dụng nơng thơn.

 Theo thời hạn tín dụng

Nếu chú ý đến thời hạn của khoản nợ thì tín dụng có thể được phân

thành tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn.

Theo quy định hiện hành, nội dung cụ thể của phân loại tín dụng trong

kinh doanh nơng nghiệp và phát triển nơng thơn về thời hạn là:

- Tín dụng ngắn hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn trong vòng 1 năm

như tín dụng theo tháng ( 0 – 3 tháng), theo vụ ( 3 – 9 tháng)…

Tín dụng ngắn hạn dùng để bổ sung vốn lưu động, chi phí sản xuất; thời

hạn cho vay theo chu kỳ sản xuất, lưu thơng, dịch vụ…

-Tín dụng trung hạn (1 – 3 năm): Thường là những khoản vay để nuôi đại gia

súc, trồng cây lưu gốc, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học

vào sản xuất….

-Tín dụng dài hạn: Thời hạn của tín dụng dài hạn là trên 3 năm. Tín dụng dài

hạn trong nơng nghiệp dùng để trồng và chăm sóc cây dài ngày, cây lâm

nghiệp, chăn nuôi gia súc cơ bản, mua sắm tàu thuyền, máy móc thiết bị sản

xuất, chế biến nơng – lâm – thủy hải sản, mở rộng cơ sở sản xuất….

 Theo mục đích của khoản nợ



Căn cứ vào mục đích của nợ cũng có những điểm giống như thời hạn

vay. Tín dụng ngắn hạn nói chung được dùng để cung cấp “đầu vào” cho sản

xuất hàng năm. Tín dụng trung hạn dùng bổ sung tư liệu sản xuất nhỏ, còn tín

dụng dài hạn để mua sắm tài sản cố định hoặc thuê hay mua bất động sản.

Mục đích tín dụng thường có quan hệ chặt chẽ với thời hạn tín dụng.

Đây là cách phân loại dễ hiểu nhất vì mỗi khoản vay đều được gắn cho

một loại mục đích sử dụng. Những mục đích thơng thường là:

- Vay sản xuất (ngắn hạn, trung hạn): Là những khoản vay để mua các yếu tố

“đầu vào” cho sản xuất, trang trải chi phí sản xuất, đổi mới cơng nghệ sản

xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nuôi đại gia súc….

- Vay để hình thành tài sản cố định (dài hạn): Là những khoản vay để mua

máy móc, thiết bị, trồng cây lâu năm, nuôi gia súc cơ bản…. Đây là những

khoản vay nhằm tạo ra tài sản cố định trong các cơ sở kinh doanh nông

nghiệp.

Cách phân loại này có tác dụng trong phân tích lợi nhuận của những loại tín

dụng hoặc theo từng món nợ cũng như cung cấp các thơng tin khác trong

đánh giá tài chính.

 Theo mục đích sử dụng vớn vay

Tín dụng sản xuất, lưu thơng hàng hóa: Đây là những khoản vay để phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp hay trong lưu thơng hàng

hóa như buốn bán dịch vụ và thương mại.

Tín dụng tiêu dùng: Là những khoản vay dùng để xây dựng nhà cửa mua sắm…

Qua mục địch sử dụng vốn có thể đánh giá được hiểu quả của từng loại

tín dụng.

Theo tính chất mức độ tín nhiệm

Nếu căn cứ vào tính chất bảo đảm an tồn của khoản vay, có thể chia tín

dụng thành 2 loại:

- Tín dụng có bảo đảm an tồn là loại vay dựa trên cơ sở các đảm bảo cho

tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×