Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo phương diện tổ chức

Theo phương diện tổ chức

Tải bản đầy đủ - 0trang

kho bạc Nhà nước, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, các cơng ty tài chính, các

tổ chức đồn thể xã hội, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trong

và ngồi nước, các chương trình, các dự án được thực hiện bằng nguồn vốn

tín dụng của chính phủ và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: Quỹ tiền

tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á

(ADB)…

Tín dụng khơng chính thống: Là tổ chức tín dụng cho các tổ chức, các cá

nhân nằm ngồi các tổ chức chính thống. Hiện nay có nhiều quan điểm khác

nhau xung quanh vấn đề này. Các nhà kinh tế Đức cho rằng tín dụng khơng

chính thống là : “Việc huy động các nguồn không thuộc ngân hàng giám sát

như bạn bè, họ hàng, hụi họ…., việc cung ứng vốn phi chính thống không

chịu sự quản lý của Nhà nước nhưng vẫn theo nguyên tắc nhất định”. Hầu hết

các nghiên cứu về tín dụng khơng chính thống rất phổ biến ở các nước Châu

á. Các nhà kinh tế Inđơnêxia cho rằng tín dụng khơng chính thống là hình

thức tín dụng chưa được thể chế hóa. Ở Việt Nam có tác giả cho rằng tín dụng

khơng chính thống là hình thức tín dụng hoạt động ngồi khn khổ luật định.

Tuy nhiên, hình thức tín dụng này có ý nghĩa to lớn trong việc cung ứng bổ

sung vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhất là ở trong nơng hộ khi thị trường vốn

chính thống chưa đủ mạnh. Hình thức này bao gồm việc cho vay nặng lãi,

chơi hụi họ, vay mượn bạn bè, người thân….

2.1.5 Hiệu quả sử dụng vớn tín dụng



Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại

và phát triển đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có lãi. Để đạt được kết quả cao

nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các hộ nông dân cần phải đưa ra

phương hướng mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện có sẵn

về các nguồn như: vốn, nguồn nhân tài, vật lực... Muốn vậy, các hộ nông dân

cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng



nhân tố đến kết quả sản xuất. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phân

tích và sử dụng hợp lý các nguồn sẵn có trong hoạt động sản xuất.

Mọi hoạt động kinh tế của hoạt động sản xuất đều nằm trong thế liên

hoàn với nhau. Bởi vây, chỉ có tiến hành phân tích hoạt động sản xuất nơng

nghiệp một cách tồn diện mới có thể giúp cho các hộ nông dân đánh giá đầy

đủ và sâu sắc trong hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng. Trên cơ

sở đó, nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hồn thành các mục tiêu nó được

biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật- tài chính của các hộ nơng dân.

Từ đó, có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong việc lập kế hoạch sản

xuất nơng nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vớn tín dụng.

2.1.6.1 Các yếu tố ngoại sinh.

- Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Vị trí địa lí của vùng nông thôn chủ yếu là ở xã trung tâm,

xã đường giao thông,… do vậy làm hạn chế việc chủ thể sử dụng vốn tiếp

cận được nguồn vốn và cũng làm khó khăn cho chủ thể cung vốn tới người

cần vốn.

Địa hình: Địa hình có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất như: đồi, núi cao,

dốc hoặc bằng phẳng, gần nguồn nước hay xa nguồn nước có ảnh hưởng đến

việc đầu tư vốn vào sản xuất trong nông nghiệp.

- Cơ chế chính sách

Chính sách của Nhà nước về TDCT là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và

khá rõ nét đối với sự tiếp cận TDCT của hộ nông dân. Bởi vì từ khi có chính

sách tín dụng ưu đãi, tín dụng hỗ trợ phát triển cho các hộ nơng dân thì người

nơng dân mới có cơ hội để vay vốn đầu tư sản xuất kinh doanh và mở rộng

quy mô sản xuất nhằm nâng cao thu nhập và năng suất lao động cho người lao

động trong nông thôn và từ đó chất lượng cuộc sống của người nơng dân dần



được cải thiện. Chính vì vậy mà Nhà nước ngày càng có những chính sách tín

dụng phù hợp hơn cho người dân và đặc biệt là ưu tiên nguồn vốn cho phát

triển nông nghiệp – nông thôn.

- Pháp luật

Phát triển thị trường tín dụng nơng thơn phải dựa trên cở sở pháp luật của

Nhà nước, đặc biệt là luật các tổ chức tín dụng. Nhà nước quản lý xã hội bằng

pháp luật, vì thế mọi hoạt động xã hội đều phải dựa trên cơ sở hệ thống pháp

luật của Nhà nước. Trong lĩnh vực tín dụng, Nhà nước đã ban hàng luật các tổ

chức tín dụng được Quốc hội thơng qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 đã quy

định rõ về tổ chức, điều hành, nội dung hoạt động quyền lợi, nghĩa vụ và

trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, quản lý Nhà nước đối với các tổ chức

tín dụng. Chính vì thế pháp luật đã góp phần giúp cho các chính sách tín dụng

của Nhà nước được triển khai tốt hơn và có hiệu quả hơn.

Từng bước đẩy mạnh hoạt động cho vay và sử dụng vốn vay có hiệu quả

nguồn vốn vay trong các hộ nơng dân nói riêng và trong nơng nghiệp, nơng

thơn nói chung.

2.1.6.2 Các yếu tố nội sinh

- Trình độ văn hóa của chủ hộ

Trình độ văn hóa của người dân là một yếu tố quan trọng tác động tới sự

tiếp cận nguồn TDCT của người nơng dân. Khi người nơng dân có văn hóa

càng cao thì nhận thức về việc vay vốn đầu tư phát triển sản xuất và sử dụng

vốn của họ chắc chắn sẽ càng tốt. Từ đó họ sẽ có những tính tốn, lập dự án

sản xuất cụ thể và đi đến quyết định vay vốn để sản xuất. Ngược lại, với

những hộ nơng dân còn hạn chế về trình độ văn hóa thì họ sẽ rất khó khăn

trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng đặc biệt là nguồn vốn TDCT vì để

vay được vốn từ các tổ chức này thì các hộ cần phải làm các thủ tục xin vay

vốn, phải hiểu, viết và ký một số giấy tờ cần thiết. Ngồi ra, các hộ có trình



độ văn hóa thấp thường khơng tự tin, khơng dám mạo hiểm đầu tư sản xuất,

ln sợ rủi ro.

- Giới tính của chủ hộ

Chủ hộ là nam thường mạnh dạn hơn những chủ hộ là nữ. Nam giới quyết

đoán và mạo hiểm hơn, dám làm dám chịu. Nữ giới thận trọng hơn và có quan

điểm lấy cơng làm lãi, khơng dám mạo hiểm mở rộng sản xuất. Đặc biệt là

trong nông thơn hiện nay ở một số nơi vẫn còn tồn tại tư tưởng “trọng nam

khinh nữ” nên người phụ nữ trong gia đình khơng được coi trọng trong nhiều

lĩnh vực, họ khơng có quyền quyết định có nên vay vốn hay không để sản

xuất. Như vậy chủ hộ là nữ thường khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn

vốn TDCT so với những chủ hộ là nam.

- Điều kiện kinh tế của hộ

Những hộ giàu và trung bình thường vay vốn nhiều hơn hộ nghèo thậm chí

họ còn thường xun vay vốn để sản xuất kinh doanh. Với những hộ có điều

kiện kinh tế, họ có tài sản giá trị để thế chấp vay vốn. Ngược lại với những hộ

đã nghèo phần vì khơng có tài sản thế chấp giá trị để vay thì họ sẽ khơng

được vay vốn. Mặc khác các hộ nghèo thường hay mặc cảm, họ sợ vay vốn

mà không làm ăn được sẽ không trả được nợ.

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Thực trạng sử dụng vốn tín dụng ở một số nước trên thế giới

Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng giúp người nghèo vượt khó bằng cách

ni sống các hoạt động tạo thu nhập. Trong nhiều thập niên qua chiến lược

phát triển của các nước đang phát triển dành nhiều ưu tiên cho các chương

trình xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở khu vực nơng thơn. Một trong nội

dung chính là cung cấp dịch vụ tài chính có chi phí phù hợp với kỹ năng của

người nông dân nông thôn để tăng sản xuất, tăng thu nhập và nhờ đó vượt ra

khỏi vòng đói nghèo .





Bangladesh



Chỉ có Grameem bank là tổ chức tín dụng duy nhất làm dịch vụ Ngân

hàng ở nông thôn. Hoạt động của Grameen Bank được quốc hội Bangladesh

thông qua thành một bộ luật riêng. Giấy phép hoạt động do ngân hàng nhà

nước cấp theo quy chế riêng, không áp dụng quy chế của các ngân hàng

thương mại ở Bangladesh.

Về mạng lưới hoạt động Grameen Bank có trụ sở chính đặt tại thủ đô

datka và các văn phong đại diện, các chi nhánh tại các bang, vùng, mỗi chi

nhánh phục vụ từ 12 đến 22 làng với số nhân viên tồn hệ thống 13000 người.

Về vốn điều lệ có 150 triệu kata (3.75 triệu USD) trong đó vốn góp cổ

phần của nhà nước 18 triệu Kata, phần còn lại là vốn cổ phần của các cổ đông

và phát hành trái phiếu.

Người vay vốn tự nguyện tập hợp nhóm 5 người và tự quyết định cho 2

người vay, 2 người trả xong nợ đến 2 người tiếp theo. Trưởng nhóm vay cuối

cùng khi các thành viên trả xong nợ. Các nhóm hoạt đọng trong khuân khổ

một trung tâm mỗi trung tâm tối đa 10 nhóm. Hàng tuần trưởng trung tâm chủ

trì cuộc họp để phổ biến thực hiện các vấn đề xã hội: Xóa mù chữ kế hoạch

gia đình, vệ sinh môi trường … Nhân viên Grameen Bank sẽ tiến hành các

giao dịch cho vay, thu nợ và huy động tiết kiệm tại các cuộc họp này. Việc

cho vay khơng đòi hỏi phải có tài sản thế chấp và trả góp nên rất phù hợp với

các hộ nghèo ở cùng nông thơn Bangladesh.





Trung Q́c

Trung Quốc hiện nay có 1,3 tỷ dân, trong đó số dân sống ở các vùng



nơng thơn rất đơng chiếm khoảng 70% dân số. Vì vậy, nơng nghiệp đóng một

vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội

của Trung Quốc. Sau 30 năm cùng với tiến trình cải cách mở cửa (1978 –

2008), nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo

hướng hiện đại hóa và bền vững. Trước tình trạng giá lương thực trong nước



leo thang, khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày

càng lớn, Trung Quốc đang tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng

tham gia vào hoạt động cấp vốn cho nông dân… Chính phủ Trung Quốc thực

hiện những nỗ lực đưa vốn đến vùng nông thôn trong lúc lạm phát ở nước này

đang chạm mức 8,5%, cao nhất trong vong 12 năm qua, mà nguyên nhân

chính là do giá lương thực leo thang. Tháng 4/2008 giá lương thực ở Trung

Quốc tăng 22% so với năm 2007. Mặt khác, việc Trung Quốc chuyển bốn

ngân hàng quốc doanh lớn thành ngân hàng thương mại trong những năm gần

đây đã buộc các ngân hàng này phải tập trung cắt giảm chi phí, tăng lợi nhuận

và giảm bớt sự hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn. Người

nông dân phải lệ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn vay từ các hợp tác xã tín

dụng nơng thơn. Các tổ chức này hiện đang chiếm khoảng 10% trong tổng số

tiền gửi 42.900 tỷ nhân dân tệ trong các ngân hàng và các định chế tài chính ở

Trung Quốc và chủ yếu cung cấp các khoản vay nhỏ có giá trị từ 500 – 20.000

nhân dân tệ cho các hộ nông dân. Giải pháp này giúp khoảng 700 triệu nơng

dân Trung Quốc có thể tiếp cận các nguồn vay dễ dàng hơn, từ đó đẩy mạng

sản xuất, gia tăng sản lượng nông nghiệp và tạo thêm động lực cho nền kinh

tế vốn đang tăng trưởng nhanh của nước này. Tính đến năm 2006, nơng

nghiệp cùng với các ngành kinh tế chủ lực khác như lâm nghiệp, chăn nuôi

chiếm gần 12% tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Trung Quốc. Việc nơng

dân có thể tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn cũng sẽ giúp hạn chế tình trạng lao

động trẻ từ nơng thơn di chuyển ra thành thị để tìm việc làm khiến các vùng

nơng thơn càng bị tụt lại phía sau so với các thành phố lớn do thiếu vốn đầu

tư và lao động.

Trung Quốc đã bắt đầu cho phép các cơng ty nước ngồi và các nhà đầu

tư trong nước được thành lập ngân hàng và công ty cho vay ở nông thôn từ

tháng 12 – 2006. Tuy nhiên, các ngân hàng nước ngoài vẫn phải giám sát hoạt

động của các đơn vị kinh doanh này thơng qua pháp nhân nước ngồi với các



nhóm làm việc độc lập cho từng đơn vị. Việc thay đổi luật lệ đã tạo điều kiện

cho các ngân hàng nước ngồi hoạt động thơng qua một đơn vị kinh doanh

duy nhất hay một công ty con được đăng ký pháp nhân ở Trung Quốc. Điều

này sẽ giúp các ngân hàng nước ngồi cắt giảm chi phí và giải quyết khó khăn

trong việc tìm kiếm đội ngũ các giám đốc quản lý chi nhánh có kinh nghiệm.

Năm 2006, Chính phủ Trung Quốc cũng đã mở rộng một kế hoạch thử

nghiệm thành lập bảy công ty cho vay nhỏ ở một số tỉnh nông nghiệp như

Sơn Tây, Tứ Xuyên. Đến này, số công ty cho vay nhỏ ở các tỉnh này đã tăng

lên đến khoảng 300. Ủy ban Pháp chế ngân hàng của Trung Quốc (CBRC) và

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã ban hành một số hướng dẫn

nhằm bỏ bớt một số rào cản xung quanh việc xác định loại hình cơng ty cho

vay ở nơng thơn, các nguồn vốn huy động của các tổ chức này và các vấn đề

khác như quy trình xử lý tình trạng phá sản chẳng hạn. Theo các hướng dẫn

mới này, các công ty cho vay nhỏ có thể huy động vốn từ hai ngân hàng trở

lên bên cạnh các kênh huy động truyền thống như cổ đông và các nguồn viện

trợ. Để khuyến khích các cơng ty cho vay nhỏ ấn định lãi suất cho vay phù

hợp với rủi ro tín dụng, Chính phủ Trung Quốc cũng cho phép các cơng ty

này có thể thu lãi cho vay cao hơn chi phí huy động đến bốn lần và tối thiểu

bằng 0,9 lần mức lãi suất cho vay thời hạn một năm do PBoC ấn định (hiện

nay là 7,47%, mức cao nhất trong chín năm trở lại đây). Nhờ đó, UA Easy

Lenders, một trong những công ty cho vay nhỏ thử nghiệm đầu tiên ở Trung

Quốc, hiện đang cho vay với lãi suất 27,6% năm.





Thái Lan

Ngân hàng nhà nước và hợp tác xã tín dụng (BAAC – Bank for



agriculture And Agriculture Cooperative) là ngân hàng thương mại quốc

doanh do chính phủ bổ nhiệm hội đồng quản trị, bộ trưởn bộ tài chính là chủ

tịch.

Về vốn : Chính phủ cấp 100% vốn tự có, các ngân hàng thương mại khác

phải dành 20% số dư tiền gửi để cho vay nông nghiệp vốn huy động của

BAAC chiếm 90% tổng nguần vốn. Ngồi ra BAAC còn được hưởng các

khoản vay ưu đãi đặc biệt do chính phủ ký hiệp định với nước ngoài,do tổ



chức ngân hàng, tài chính quốc tế World Bank(WB), Asian Development

Bank(ADB), Ovesea Economic corporation fund (OECF) cấp lãi suất thấp.

Trong tổng dư nợ của BAA có 30% cho vay trung hạn 70% cho vay dài hạn

(gồm 87% cho vay trực tiếp, 13% cho vay qua nhóm hộ hợp tác xã)

Hoạt động tín dụng của BAAC gồm hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông

thôn thực hiện kiểm sốt tín dụng thuộc nguần vn chính phủ cấp cho nông

nghiệp, cho vay hoạt động sản xuất, tiêu thụ nông sản và hoạt động liên quan

nông nghiệp.







Philippin

Hệ thống TDCT cung cấp vốn tín dụng cho khu vực nông nghiệp nông



thôn ở Philippin bao gồm các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đặc

biệt của Chính phủ. Hệ thống các ngân hàng nông thôn, ngân hàng tiết kiệm

và ngân hàng thương mại bao gồm của Nhà nước và của tư nhân có các chi

nhánh xuống tận làng xã ở khắp cả nước. Trong đó, ngân hàng nơng thôn là tổ

chức TDCT lớn nhất, trong tổng số dư tiền cho vay của ngân hàng nơng thơn

thì có tới 97% là cho vay nơng nghiệp. Chính phủ Philippin đã có những

chính sách tín dụng phục vụ cho phát triển nông nghiệp nông thôn như bắt

buộc tất cả các ngân hàng thương mại phải dành tối thiểu 25% quỹ tiền vay

của họ cho nơng nghiệp, chính phủ có một ngân hàng đặc biệt cung cấp tín

dụng cho nơng nghiệp nơng thơn lớn nhất đó là ngân hàng đất đai của

Philippin. Ngân hàng này đã dành tới 60% số vốn huy động để cho vay phát

triển nông nghiệp nông thôn. Đặc biệt ở Philippin cũng có những ngân hàng,

những cơng ty được coi là thành công trong việc cho hộ nông dân nghèo vay

vốn. Đó là cơng ty TulayPag-unlad (TSPI), ngân hàng Philippin (BPI-Bank of

the Philipines Islands). Công ty này đã đi thẳng đến người nghèo với những

khoản tín dụng nhỏ khoảng 20-80 đôla, cho những phụ nữ nghèo và các chủ

doanh nghiệp nhỏ vay những vốn nhỏ để mở rộng sản xuất. Đối với những

phụ nữ nghèo, nông dân nghèo, Công ty TulayPag-unlad cũng tổ chức thành

mạng lưới mang những khoản tiền vay đến tận tay họ. Với lãi suất tối thiểu bằng

trên thị trường 40%/năm. Ngoài ra, ngân hàng BPI-Bank of the Philipines Islands

cũng đã cung cấp một khoản tín dụng lớn cho người nghèo vay.

Như vậy, ở Philippin không chỉ các hộ khá được tiếp cận đầy đủ với

nguồn vốn TDCT mà ngay cả các hộ nghèo cũng rất được quan tâm cho vay

vốn để yên tâm sản xuất.

2.2.2 Thực trạng sử dụng vớn tín dụng ở Việt Nam

2.2.2.1 Đồng bằng sơng Hồng

Tính đến hết tháng 6/2006 tổng nguồn vốn huy động của hệ thống ngân

hàng và của các tổ chức tín dụng khác tại vùng Đồng bằng sông Hồng khoảng



230.000 tỷ đồng. NHNN&PTNT huy động khoảng 170.000 tỷ đồng. Hình

thức huy động tín dụng chủ yếu là tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm xây dựng

nhà ở, tiền gửi tiết kiệm có đảm bảo bằng vàng ... Riêng giai đoạn 2004 –

2006, NHNN&PTNT huy động số vốn là 94.010 tỷ đồng, cao nhất so với 7

vùng kinh tế khác. Các chi nhánh NHNN&PTNT ở các địa phương vùng

Đồng bằng sông Hồng, do làm tốt các công tác tổ chức, tiếp thị … đã huy

động vốn với số lượng cao nhất là: Hà Nội, Hà Tây, Nam Định. Hà Nam là

một tỉnh nghèo, mới tái lập, số vốn huy động là rất nhỏ bé. Phần lớn số vốn

huy động từ dân cư. NHCSXH huy động vốn từ nhiều nguồn, song chủ lực là

từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, vốn ủy thác của Ngân hàng

thương mại nông nghiệp, vốn tài trợ. Năm 2003, huy động được 7.015 tỷ

đồng. Năm 2004 tăng lên 15.345 tỷ đồng và năm 2005 là 20.109 tỷ đồng.

QTDND toàn vùng huy động lượng vốn không lớn. Năm 2001 là 803.284

triệu đồng, năm 2005 là 2.263.205 triệu đồng, tức trên 2 tỷ đồng.

Tình hình cung ứng vốn trên thị trường tín dụng nơng thơn ở Đồng

bằng sơng Hồng tính đến hết năm 2004, dư nợ cho vay của

NHNN&PTNT khoảng 32.540 tỷ đồng, năm 2005 là 38.482 tỷ đồng và

đến tháng 6/2006 là 40.450 tỷ đồng, cao gấp trên 1,3 lần vùng Đồng bằng

Sông cửu Long. Trong đó, cho vay vốn tín dụng ngắn hạn chiếm 59 –

63%; cho vay trung hạn và dài hạn khoảng 31 – 37%. NHCSXH cũng có

đóng góp ngày càng tích cực vào phục vụ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa

nơng thơn vùng Đồng bằng sơng Hồng thơng qua việc cung ứng tín dụng

nơng thơn. Dư nợ tín dụng của NHCSXH có xu hướng tăng từ 1.335 tỷ

đồng (2002) lên 1.514 tỷ đồng (2003), 1.999 tỷ đồng (2004) và 2.3882 tỷ

đồng (2005), đứng thứ tư trên 8 vùng kinh tế. Cung vốn tín dụng ngắn hạn

là chủ yếu, chiếm 59 – 60%, tín dụng trung hạn và dài hạn chỉ chiếm 39

-40%. Lãi suất của NHCSXH là thấp, để phù hợp với điều kiện phát triển

kinh tế khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng. QTDND vùng

Đồng bằng sơng Hồng cung ứng vốn phục vụ nơng thơn có xu hướng tăng

lên. Năm 2002, QTDND toàn vùng chỉ cho vay khoảng trên 1 tỷ đồng,

đến năm 2005 tăng lên trên 2 tỷ đồng. Cơ cấu vốn tín dụng cho vay trên



90% là vốn ngắn hạn; lãi suất cho vay là cao nhất so với các định chế tín

dụng khác ở vùng Đồng bằng sông Hồng.

2.2.1.2 Đồng bằng Sông cửu Long

Khu vực Đồng bằng Sơng cửu Long (ĐBSCL) ngồi hai ngân hàng đã

có thời gian hoạt động khá lâu trong lĩnh vực nơng nghiệp, nơng thơn – đó là

Agribank và Ngân hàng Chính sách Xã hội, thì hai ba năm gần đây, một số

ngân hàng thương mại (NHTM) khác đã mở rộng phạm vi hoạt động vào khu

vực này. Cùng với quá trình phát triển các kênh phân phối, các NHTM đã

từng bước chú ý đến việc đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng nhằm đáp

ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp và dân cư.

Một số các ngân hàng khác như: Lienviet Bank với đề án “Đầu tư phát

triển tín dụng nơng nghiệp, nơng thơn vùng ĐBSCL giai đoạn 2010 – 2013”,

theo đó ngân hàng sẽ dành ra một khoản tín dụng từ 3.000 – 5.000 tỷ đồng

cho vay. Một trong nhưng ngân hàng có tổng số dư nợ cho vay lĩnh vực nông

nghiệp, nông thôn với tỷ trọng lớn – Lienvietpostbank với 4000 tỷ đồng cho

vay khu vực nơng nghiệp nơng thơn trong đó trên 20.000 hộ nông dân ở

ĐBSCL được hưởng lợi gián tiếp từ đề án này. Ngồi ra còn có các ngân hàng

như Viettin Bank, ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL,…



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo phương diện tổ chức

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×