Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG VỐN TÍN DỤNG

Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG VỐN TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm về vớn tín dụng và tín dụng hộ nơng dân

 Vớn

Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về vốn ở những góc độ khác nhau.

Về bản chất “vốn” bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế được đưa vào chu

chuyển như: tiền, lao động, tài nguyên, vật tư, máy móc, thiết bị, ruộng đất,

giá trị của những tài sản vơ hình như: vị trí đất đai, cơng nghệ, quyền phát

minh, sáng chế, thương hiệu,…

Trong nền kinh tế thị trường thì tài sản vơ hình ngày càng có vai trò quan

trọng trong cơ cấu vốn.

Ngồi ra đối với các nhà kinh tế “vốn” là một trong ba yếu tố đầu vào

phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai và vốn ), là yếu tố thứ ba của sản xuất

được kết hợp lại để sản xuất hàng hóa dịch vụ.

Các Mác cũng đã nghiên cứu vốn thông qua phạm trù “tư bản” và đã đi

đến kết luận: vốn là phạm trù kinh tế. Ngày nay cùng với sự phát triển, vốn

không những là yếu tố quan trọng đối với q trình sản xuất kinh doanh của

các nước có nền kinh tế phát triển mà còn là yếu tố khan hiếm đối với các

quốc gia đang và kém phát triển trên thế giới. Vì vậy, phạm trù “vốn” ln

được các nhà kinh tế học hiện đại quan tâm nghiên cứu và họ đã đưa ra những

khái niệm về vốn như:

- “Vốn” là một loại nhân tố “đầu vào” đồng thời bản thân nó lại là kết quả

“đầu ra” của hoạt động kinh tế.

- “Vốn” là tiền bỏ ra lúc đầu, dung trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lời.

Ngoài ra vốn còn được định nghĩa là khoản tích lũy, tức là một phần thu

nhập chưa được sử dụng và vốn cũng bao gồm các khoản máy móc, thiết bị,



nhà xưởng, các cơng trình hạ tầng, các loại ngun liệu, các sản phẩm trung

gian, các thành phẩm,… Các loại vốn vơ hình ( các bằng phát minh, sánh chế,

vị trí kinh doanh, thương hiệu,…) không tồn tại dưới dạnh vật chất nhưng có

giá trị kinh tế và cũng là yếu tố vốn cần thiết cho q trình phát triển. Tóm lại,

chúng ta có thể cho rằng “vốn” là khoản tiền được đưa ra trong quá trình sản

xuất kinh doanh dưới dạng tài sản nhằm sinh lời, góp phần đẩy mạnh tăng

trưởng và phát triển kinh tế. Trong quá trình hoạt động của nền kinh tế, vốn

luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất cũng như từ hình thái vật

chất này sang hình thái tiền tệ và ngược lại.





Tín dụng

Xuất phát từ chữ Latinh Creditum, thuật ngữ “tín dụng” có nghĩa là tin



tưởng, tín nhiệm, trong tiếng Anh gọi là Credit. Theo ngơn ngữ dân gian Việt

Nam tín dụng có nghĩa là có sự vay mượn có tín nhiệm, tin tưởng nhất định.

Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế

hàng hóa, phản ánh mối quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế

theo nguyên tắc có hồn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có mục đích và bảo

đảm tiền vay. Tín dụng ra đời tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Khi

chế độ tư hữu hóa về tư liệu sản xuất xuất hiện, đồng thời xuất hiện quan hệ

trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay

mượn bằng hiện vật- hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển sanh hình thức

vay mượn bằng tiền tệ.

Theo đại từ điển kinh tế thị trường thì “tín dụng là những hành động vay

vốn bán chịu hàng hóa giữa những người sở hữu khác nhau. Tín dụng không

phải là hành động vay tiền đơn giản mà là họat động vay tiền có điều kiện, tức

là phải có bồi hồn và thanh tốn lợi ích. Tín dụng là hình thức đặc thù vận

động giá trị khác với lưu thơng hàng hóa đơn thuần. Vận động giá trị dẫn đến

phương thức mượn tài khoản bồi hoàn và quá trình thanh tốn”.



Tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát

triển mạnh mẽ, với các mối quan hệ cung cầu về tiền vốn như một dòi hỏi cần

thiết khách quan của nền kinh tế. Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh

trong điều kiện sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tín dụng khơng

chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà còn là một động lực

thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.

Nghiên cứu tín dụng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Các

Mác đã chỉ rõ bản chất của tín dụng:

Một là: Xuất hiên sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị từ

chủ thể cung tín dụng sang chủ thể cầu tín dụng.

Hai Là : sự chuyển nhượng quền sử dụng một lượng giá trị trong khoảng

thời gian xác định và mang tính tạm thời.

Ba là : chủ thể cầu tín dụng phải hồn trả gốc và lãi cho chủ thể cung tín

dụng.

Biểu hiện ra trên bề mặt xã hội của quan hệ tín dụng là sự vận động của

lượng giá trị vốn tín dụng, qua các giai đoạn phân phối vốn tín dụng, sử dụng

vốn tín dụng và hồn trả vốn tín dụng. Sự vận động của lượng giá trị tín dụng

khi quay về điểm xuất phát luôn đảm bảo giá trị và giá trị gia tăng thêm, dưới

hình thức lợi tức, thơng qua cơ chế điều tiết lãi suất. Tính hồn trả của tín

dụng là cơ sở khoa học để phân biệt pham trù tín dụng với phạm trù kinh tế

khác.

 Tín dụng hộ nông dân

Theo nhà khoa học Lê Đinh Thắng (1993): Hộ nông dân là tế bào kinh tế

xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nơng nghiệp và nơng thơn.

Theo giáo trình “Kinh tế hộ nơng dân”, nhà xuất bản Nơng nghiệp, 1996:

Hộ gia đình nơng dân (hộ nông dân) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích

kinh tế, các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động,



…) được góp vốn chung, cùng chung một ngân sách, cùng chung sống dưới

một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hướng phần thu thập và mọi quyết

định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia

đình.

Tác giả Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Hộ nông dân là những hộ chủ

yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá

và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.

Theo những khái niệm và quan điểm trên đây của các tác giả, chúng tôi

nhận thức rằng:

Hộ nông dân là những hộ gia đình sống ở nơng thơn, là một đơn vị kinh

tế cơ sở, cùng chung tài sản và các điều kiện sản xuất, chủ yếu hoạt động

nông nghiệp theo nghĩa rộng và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn;

Để đáp ứng nhu cho nhu cầu sản xuất kinh doanh theo hướng hàng hóa

quy mơ lớn hầu hết các hộ nơng dân đều có nhu cầu vay vốn tín dụng. vốn tín

dụng của hộ nơng dân bao gồm vốn tín dụng chính thức bán chính thức và phi

chính thức.

Tín dụng hộ nông dân là mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng và

hộ nơng dân, tổ chức tín dụng sẽ cung cấp vốn cho khách hàng (hộ nông

dân) để hoạt động sản xuất kinh doanh nếu khách hàng hội đủ được các

điều kiện của tổ chức tín dụng và thỏa mãn các điều kiện được kí kết

trong hợp đồng kí kết giữa hai bên.

2.1.1.2. Nguồn vốn tín dụng chính thức

 Khái niệm

Nguồn vốn tín dụng chính thức là hệ thống tín dụng thường thấy giữa

các cá nhân và các tổ chức tín dụng được pháp luật thừa nhận và hoạt động

dưới sự quản lý của pháp luật.

 Nguồn vớn tín dụng chính thức



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG VỐN TÍN DỤNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×