Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng2.2: Thành phần CTRSH trên địa bàn nghiên cứu

Bảng2.2: Thành phần CTRSH trên địa bàn nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015



2.2.4. Thực trạng quản lý chất thải rắn xã Đồng Phúc – Yên Dũng – Bắc Giang.

a) Cơ cấu tổ chức quản lý

Hiện nay, phòng Tài ngun và Mơi trường đang là cơ quan pháp lý quản lý môi

trường và đất đai trên địa bàn huyện. Hiện tại, phòng Tài ngun và Mơi trường có 29

cán bộ trong đó có 4 cán bộ phụ trách môi trường, các xã và thị trấn đều cán bộ môi

trường. Nhưng do điều kiện cơ sở vật chất nên hiện nay công tác thu gom chất thải rắn

mới chỉ dừng lại ở việc thu gom không thường xuyên của một số thôn và tại khu vực

trung tâm xã hoặc thu gom theo nhóm hộ gia đình một cách tự phát, nhỏ lẻ.

Qua quá trình đi thực tế, phỏng vấn người dân và ông Trần Văn Ngữ - cán bộ môi

trường xã Đồng Phúc tôi được biết :

Theo ông Trần Văn Ngữ thì : “ Do điều kiện về cơ sở vật chất cũng như điều kiện

kinh tế của địa phương nên hoạt động quản lý chất thải rắn tại xã Đồng Phúc còn gặp

rất nhiều khó khăn ”



Hình 2.1: Ủy ban nhân dân xã Đồng Phúc.

UBND huyện

(Chủ tịch huyện)



Cơng ty Cổ phần Mơi trường đơ

thị huyện n Dũng



Phòng Tài nguyên và Môi

trường

18



UBND xã (cán bộ môi trường)



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

UBND huyện

(Chủ tịch huyện)



Công ty Cổ phần Mơi trường đơ

thị huyện n Dũng



Phòng Tài ngun và Môi

trường



UBND xã (cán bộ môi trường)



Hợp tác xã môi trường



Hộ gia đình



Tổ vệ sinh mơi trường



Cơ quan, cơng sở



Cơ sở sản xuất kinh

doanh



Chất thải rắn sinh hoạt



Hình 2.2: Sơ đồ quản lý CTRSH của huyện Yên Dũng.

2.2.5. Hiện trạng xử lý chất thải rắn tại xã Đồng Phúc – Yên Dũng – Bắc Giang.

Hiện tại các hình thức xử lý rác phổ biến nhất của các xã trên địa bàn huyện Yên

Dũng là: tự tiêu hủy, tái sử dụng, thu gom.

Tự tiêu hủy: đây là hình thức mà đại bộ phận người dân đang áp dụng với chất thải

sinh hoạt mà gia đình mình thải ra. Do diện tích vườn của các hộ gia đình là tương đối

rộng nên khả năng tự phân hủy rất nhanh. Người dân vẫn thường có thói quen vứt rác

ngay ra vườn nhà mình đó là với các chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy. Đối với các chất

thải vơ cơ như giấy, bìa và các chất thải hữu cơ khó phân hủy như túi bóng, chai nhựa

người dân có thói quen gom lại sau đó mang đi đốt cùng với các loại lá cây. Đại bộ phận

người dân vẫn thường tận dụng các khu đất chống trong vườn nhà mình làm khu tập trung

rác, khoảng 4 – 5 ngày lại tiến hành đốt rác một lần. Các hộ gia đình gần đường lại vứt rác

ngay ra ven đường sau đó đốt; các khu đất trống, kênh mương khơng có người quản lý

cũng trở bãi đổ rác của người dân.



19



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015



Hình 2.2: Con đường liên huyện xã Đồng Phúc.



Hình 2.3: Mương tưới, tiêu tại Thôn Việt Thắng – Xã Đồng Phúc.

20



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

Hiện nay, tại xã Đồng Phúc có 3 thơn : Cao Đồng, Đồng Nhân, Hoàng Phúc đã

tiến hành tổ chức thu gom chất thải rắn. Tuy nhiên, hoạt động này không thường xuyên

và chưa hiệu quả cao. Vì thu gom còn nhỏ lẻ theo thơn, xóm và chỉ chở đến bãi đất

trống rồi đổ, khơng có một hình thức xử lý nào.

Tái sử dụng: hình thức này áp dụng với những chất thải mà có khả năng sử dụng

lại như là rau, củ, quả, thức ăn thừa, người dân chuyển chúng sang mục đích chăn

ni. Đây là hình thức tái sử dụng mang tính tiết kiệm khơng những thế mà có thể

mang lại hiệu quả kinh tế. Tại các hộ gia đình chăn ni lớn đa số có hình thức làm

hầm biogas để tận dụng các chất thải từ chăn nuôi, chất thải hữu cơ dễ phân hủy. Các

vật liệu kim loại, chai thủy tinh, người dân tích lại sau đó bán cho những người thu

mua phế liệu. Tại các cửa hàng sửa chữa ơ tơ, xe máy những bình ác quy, sắt thép sẽ

được thu mua phục vụ công tác tái chế. Hình thức tái chế, tái sử dụng khơng những

mang lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường mà còn tiết kiệm được một khoản

tiền khơng nhỏ đối với các hộ gia đình ở nơng thơn hiện nay.

Thu gom là hình thức mà hầu hết hiện nay người dân đều có mong muốn có hình

thức này tới tận các hộ gia đình. Nhưng do điều kiện tự nhiên, do cơ sở vật chất còn

nhiều thiếu thốn, nên hiện nay, tại xã Đồng Phúc có 3 thơn : Cao Đồng, Đồng Nhân,

Hoàng Phúc đã tiến hành tổ chức thu gom chất thải rắn. Tuy nhiên, hoạt động này

không thường xuyên và chưa hiệu quả cao. Vì thu gom còn nhỏ lẻ theo thơn, xóm và

chỉ chở đến bãi đất trống rồi đổ, khơng có một hình thức xử lý nào.

Theo kế hoạch của Phòng Tài ngun và Mơi trường huyện, các tổ vệ sinh tại các xã

sẽ được hỗ trợ kinh phí để mua trang thiết bị dụng cụ lao động phục vụ công tác thu gom

chất thải rắn sinh hoạt của xã mình. Các xã đang nghiên cứu và lập kế hoạch xây dựng bãi

rác thải cho riêng mình.

2.2.6. Đánh giá về sự quan tâm của người dân về vấn đề chất thải rắn sinh hoạt.

Theo kết quả điều tra trên địa bàn xã, có thể rút ra kết luận như sau :

- Hiện tại, sự hiểu biết về lĩnh vực mơi trường của người dân còn chưa đồng

đều.

- Tuy nhiên, đa số các hộ dân được phỏng vấn đều mong muốn được thu

gom rác thải và chấp nhận trả phí.

Theo số liệu phỏng vấn tại các hộ gia đình, một số người dân có nhận xét chung là

tình hình mơi trường của huyện vẫn tốt, chưa có hiện tượng ô nhiễm do vấn đề chất

thải rắn sinh hoạt. Nhưng một số hộ khác lại cho rằng hiện tượng ô nhiễm đã có, đó là

ở các khu chợ trong địa bàn, các khu đất trống được xử dụng để đổ rác không hợp lý,

các con mương …

Trong các quan điểm của người dân về vấn đề ảnh hưởng của ô nhiễm rác thải như

thế nào: một bộ phận người dân cho rằng chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đại bộ

phận những người hiểu biết thì họ cho rằng nó ảnh hưởng tới cả ba: sản xuất kinh

doanh, sức khỏe con người, cảnh quan thơn xóm.

Một số hộ dân có ý kiến : “ chúng tơi rất muốn được thu gom rác thải và có hình

thức xử lý rác phù hợp hơn. Bây giờ là thời nông thôn mới rồi, đường làng đổ bê tông

rồi, đổ rác ra đường thì bẩn lắm, nhưng tơi chẳng biết làm thế nào, đành cho vào bao

buộc lại chờ đội thanh niên xóm mỗi tháng đi thu 1,2 lần”.



21



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015



Hình 2.4: Chất thải rắn được người dân cho vào bao tải chờ ngày thu gom.

Các hình thức tuyên truyền bảo vệ môi trường đa phần người dân đều tham gia hết

sức nhiệt tình. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cá nhân, gia đình còn chưa thực hiện được.



Hình 2.5: Những khó khăn trong cơng tác quản lý.



22



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

2.2.7. Dự báo lượng chất thải rắn sinh hoạt đến năm 2030.

Theo báo cáo Quy hoạch của Phòng Tài ngun và Mơi trường huyện n Dũng

năm 2011 :

Thu gom và xử lý 100% rác thải sinh hoạt ở thị trấn và trên 80% rác thải sinh hoạt

ở nông thôn với khối lượng 0,8 kg/ng.ngđ.

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính:

Hạng mục

Đợt đầu (năm 20132020)

- Đất ở

45 50 m2/người

- Đất cơng trình cơng cộng

3 3,5 m2/người

- Đất cây xanh

≥4m2/người

Các chỉ tiêu HTKT

- Tiêu chuẩn cấp điện sinh hoạt

170w/người

- Cơng trình cơng cộng

- Khu cơng nghiệp

- Cấp nước

80 l/người/ng.đ cấp cho 80% dân

- Thốt nước bẩn, vệ sinh mơi trường

+ Thốt nước

72l/người/ng.đ (lấy bằng 90% tiêu

chuẩn cấp nước)

+ Rác thải

0,8kg/người/ngày

- Giao thông đô thị đảm bảo

+ Tỷ lệ giao thông /đất ĐT

≥13%

+ Mật độ mạng lưới đường

6,58km/km2



23



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

Đất để xử lý, chơn lấp chất thải nguy hại: Diện tích cần tăng thêm để đảm bảo cho

việc thu gom, xử lý chất thải trên địa bàn huyện đến năm 2020 là 26,15 ha. Phân bổ

cho các xã và thị trấn như sau:

Diện tích đất

Diện tích đất

Tên ĐVHC cấp

Tên ĐVHC cấp

TT

bãi thải, xử lý TT

bãi thải, xử lý





chất thải (ha)

chất thải (ha)

1



TT Neo



0,43



12



Xã Tân Liễu



1,07



2



TT Tân Dân



2,00



13



Xã Yên Lư



0,30



3



Xã Cảnh Thụy



1,00



14



Xã Nham Sơn



7,20



4



Xã Thắng Cương



0,30



15



Xã Lão Hộ



0,50



5



Xã Tư Mại



0,95



16



Xã Tân An



1,00



6



Xã Tiến Dũng



1,62



17



Xã Hương Gián



1,10



7



Xã Đức Giang



1,07



18



Xã Xuân Phú



1,35



8



Xã Đồng Việt



0,80



19



Xã Quỳnh Sơn



1,00



9



Xã Đồng Phúc



1,50



20



Xã Lãng Sơn



1,51



10



Xã Nội Hồng



0,50



21



Xã Trí n



0,50



11



Xã Tiền Phong



0,45



2.2.8. Những khó khăn trong cơng tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt.

Địa bàn nghiên cứu có diện tích tự nhiên khá lớn, cư dân định cư theo làng, xóm

nên cơng tác bảo vệ mơi trường chưa đáp ứng hoàn chỉnh nhu cầu đặt ra. Đặc biệt là

các xã xa trung tâm cơng tác tun truyền còn gặp nhiều hạn chế, ý thức của các hộ

kinh doanh dịch vụ chưa cao. Họ hiểu pháp luật nhưng mà cho rằng với hình thức kinh

doanh nhỏ lẻ của gia đình mình thì khơng thể ảnh hưởng tới mơi trường. Nên việc vứt

rác không đúng nơi quy định họ vẫn tiếp tục làm.

Kinh phí phục vụ cho việc bảo vệ mơi trường còn gặp nhiều hạn chế, nên việc thu

gom chất thải rắn sinh hoạt của từng xã còn gặp nhiều khó khăn.

2.3.



Đề xuất giải pháp.

“Phát triển bền vững” hiện nay đang là chiến lược hàng đầu của quốc gia. Cùng

với phát triển kinh tế, chất lượng cuộc sống càng được nâng cao thì lượng rác thải

cũng tăng nhanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường và sức khoẻ

con người. Rác thải sinh hoạt luôn là một trong những vấn đề môi trường trầm trọng

nhất mà con người dù ở bất cứ đâu cũng phải tìm cách để đối phó.

Để cụ thể hố cho quan điểm trên, theo tôi cần thực hiện một số biện pháp sau :

1. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức người dân.

Theo tôi, đây là giải pháp nên được thực hiện đầu tiên, nó có ý nghĩa quyết định

đến hiệu quả của các giải pháp sau này.



24



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam ta luôn mang trong mình trái tim yêu thương

mọi người, quê hương đất nước, gia đình. Vì vậy nếu cách thức tuyên truyền tinh tế,

đúng cách, phù hợp thì tơi nghĩ nó sẽ mang lại hiệu quả tương đối cao.

2. Tăng cường chất lượng của công tác quản lý.

Giải pháp này nên xuất phát từ việc đào taok đội ngũ cán bộ, nhân viên với những

kỹ năng chuyên môn cần thiết.

Thiết lập hệ thống pháp luật phục vụ cho công tác quản lý.

Quản lý trơng qua các dự án, chương trình về môi trường.

3. Xuất phát từ ý tưởng.

Rác củng là hàng hố, cho nên rác cũng có thể bn bán và sinh lợi nhuận. Hiện

nay, rác thải là nguồn nhiên liệu. Có thể dùng rác thải chế tạo beton lót đường, đê chắn

sóng. Nguồn kim loại thu hồi trong rác thải rất có giá trị, tái sử dụng là chúng có thể

giảm một lượng hao phí tài ngun khá lớn. Đó là bí quyết thành cơng trong việc xử lý

rác thải. Mở đường cho sản xuất sạch hơn và cơ chế phát triển sạch

 Các công ty thu gom, mua lại chai lọ mà đựng sản phẩm mà cơng ty đó đã bán

ra thị trường để tiến hành tái chế. Một việc làm có thể giúp làm giảm việc thải bỏ các

chai lọ sau khi sử dụng là khuyến khích người tiêu dùng mua về và đổ vào các chai lọ

có sẵn, so với việc thu gom, tái sử dụng chai lọ thì việc sử dụng bao bì giấy thuận tiện

hơn. Nhà nước nên có chính sách giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện tốt vấn đề

sản phẩm thân thiện với môi trường.

 Sản xuất nynon hữu cơ dễ phân huỷ, trong các hoạt động thương mại, nylon

không cho mà người tiêu dùng phải mua. Điều này khiến người tiêu dùng ý thức hơn

về việc sử dụng lại.

 Đối với các công ty sản xuất thiết bị tiêu dùng, sinh hoạt, buộc nhà sản xuất

phải có trách nhiệm với sản phẩm hàng hố của mình, trách nhiệm này được cụ thể

hố bằng các luật, họ phải tìm cách cải thiện các sản phẩm của mình sản xuất ra sao

cho lắp đặt, phân loại, tái chế sau khi hết thời hạn sử dụng. Trong lĩnh vực quản lý thu

gom, xử lý chất thải sang hạch tốn kinh doanh có hiệu quả, có ký kết hợp đồng, nâng

cao chất lượng dịch vụ, tránh tình trạng độc quyền khép kín. Điều này buộc công ty

hay doanh nghiệp phải suy nghĩ để thay đổi, nhìn chung có thể giúp nâng cao trình độ

cơng nghệ của thành phố khi các nghành sản xuất buộc phải sản xuất thân thiện với

môi trường.

4. Phân loại rác tại hộ gia đình.

Mục tiêu : Rác thải rắn mang tính hỗn hợp nên trong quá trình xử lý rác gặp nhiều

khó khăn. Vì vậy, cần có sự triển khai phân loại rác thải ngay từ nguồn phát sinh.

Nhằm nâng cao hiệu quả của cá hoạt động tiếp theo, việc quản lý rác tốt hơn, hạn chế

sự ô nhiễm môi trường và cải thiện môi trường đô thị. Đồng thời giảm nhu cầu đất đai

do giảm chất thải buộc phải chôn lấp, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và

đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội.

 Khuyến khích tận dụng tối đa, triệt để những vật dụng còn sử dụng được trước

khi vướt bỏ ( chai, lọ, bao bì, giấy,…), giúp giảm nguồn thải.Hạn chế việc sử dụng

những đồ vật “dùng một lần”.

 Trong gia đình, sử dụng 2 thùng rác để chứa chất thải có thể tái chế và khơng

thể tái chế.Viêc sử dụng đó giúp tiện dụng trong phân loại chất thải.

 Tại các khu đơng dân cư, cần bố trí những khu vực đặc biệt, quy định giờ làm

việc cụ thể hàng ngày, mỗi người dân có trách nhiệm đến giờ phải mang rác đã phân

25



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

loại tới đó. Xung quanh đó có treo nhiều biển, băng-rơn… nhắc nhở mọi ngưởi phải

mang rác đến các điểm hẹn đúng giờ, phải đổ hết chất lỏng trong các chai lọ, tất cả

những vật sắc như kim may, dao cao, thuỷ tinh…có thể gây thương tích cho người dọn

rác, phải gói vào giấy và ghi ở bên ngoài chỉ được đựng rác vào các thùng nhựa hay

bao nhựa chắc chắn.

 Thu phí rác thải, mỗi người đều phải trả tiền cho việc phát thải của mình, tiền

này được sử dụng cho việc thu gom và xử lý rác. Có thể dùng hình thức thu phí để

khống chế rác thải, buộc người dân chỉ được thải ra một lượng rác nhất định, nếu vượt

q sẽ phải đóng phí phạt nặng đối với hành vi đổ rác thải bừa bải.

 Cần thiết phải xây dựng và phát triển những chương trình giáo dục cộng đồng

trên thơng tin đại chúng. Trong chương trình đó nêu rõ những tác hại của rác với môi

trường và cộng đồng, những lợi ích mà mơi trường và cộng đồng sẽ thu được khi tiến

hành phân loại rác tại gia đình, những vấn đề mình đã làm được cho cộng đồng, chính

điều này, người dân, trong mỗi gia đình, cảm thấy vui vì mình đã làm một việc có ích

cho mọi người, và chình cảm giác này sẽ khuyến khích cho việc làm phân loại rác,

khơng chỉ tại gia đình mà còn ở những nơi khác như nơi cơng cộng cơ quan… Trong

những chương trình giáo duc cộng đồng đó nên phát kèm theo những kiến thức cơ chế

về phát triển sạch, năng xuất xanh…theo hướng đại chúng hoá, để mọi người hiểu rõ,

tìm cách ứng dụng những gì mình nge vào cuộc sống. gây tác động vào tiềm thức lâu

dài, tác động đến hành động của mọi người. Ngoài ra giúp nâng cao trình độ chung của

xã hội.

 Cần tuyên truyền để thay đổi thói quen của người dân về tác hại của việc lạm

dụng sử dụng túi nylon đối với sức khoẻ và môi trường sống, kết hợp với việc tạo ra

và dần đưa vào sử dụng các loại bao bì bằng chất liệu an tồn với mơi trường. Việc

thay đổi thói quen của một cộng đồng là khơng đơn giản nhưng vẫn có thể thực hiện

được, nếu mỗi người trong chúng ta ý thức được trách nhiệm của mình đới với chính

cuộc sống của bản thân và cơng đồng.

5. Thu gom rác tại nguồn.

 Bố trí các thùng rác cơng cộng, vừa có vẻ mỹ quan nhưng phải đáp ứng được

nhu cầu bỏ rác, vì thực tế, tại Tp.MC việc tìm một thùng rác tại trung tâm thành phố

hay bên lề đường là hết sức khó khăn và hầu như là không.

 Tại các khu thương mại, vui chơi, chợ chi phí dịch vụ đều tính phí vệ sinh kèm

theo, bố trí các khu vực thu gom rác, rác được lấy đi vào cuối ngày.

6. Xây dựng nhà máy xử lý CTR.

Về đầu vào, rác thải sinh hoạt chưa có nhiều thành phần, trong đó có thể chia ra

thành 2 dạng : dạng có thể tái chế và không thể tái chế. Đối với dạng không thể tái chế,

thơng thường là các loại rác có nguồn gốc hữu cơ, chúng ta có thể dùng đưa vào hầm ủ

phân compost, sản xuất phân bón, chi phí cho loại phân này khá rẻ, vì chỉ tốn chi phí

cho việc ủ rác thành phân bón và cơng chun chở, hầu như khơng tốn chi phí cho việc

ngun liệu đầu vào, ngồi gia để khuyến khích loại hình này, Nhà nước có thể ban

hành những chính sách giúp hỗ trợ cơng ty tham gia trong lĩnh vực này ( ưu đãi về

thuế, hỗ trợ về giá cả, thị trường, giúp đỡ trong khâu quảng cáo, đưa sản phẩm phân

bón vi sinh vật sạch đến tay người tiêu dùng…, điều này giúp khuyến khích cơng ty

càng tập trung hơn vào việc nghiên cứu cơng nghệ mới để giúp hồn thiện hơn việc xử

lý đầu ra cho rác thải sinh hoạt nói riêng và các loại rác thải nói chung,.

Về tài chính : Kinh phí đầu tư xây dựng : có thể xin dự án, vay quỹ môi trường.

26



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

Kinh phí vận hành do người dân đóng phí và sự hỗ trợ của nhà nước.

7. Phát triển và quản lý dịch vụ thu gom rác tư nhân, tao được động lực cạnh

tranh với các công ty hay doanh nghiệp khác.

8. Lồng ghép yêu cầu về bảo vệ môi trường trong quy hoạch xây dựng đô thị.

 Đẩy mạnh cơng tác quy hoạch hệ thống cơng trình hạ tầng kỹ thuật đô thị.

 Lồng ghép nội dung bảo vệ mơi trường trong các hoạt động có tính phong trào

của các ngành, tổ chức đoàn thể trong quản lý các vấn đề về môi trường liên ngành,

liên vùng để triển khai ngày càng hiệu quả hơn, đạt được mục tiêu đề ra.

Nhận xét:

Để phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương đồng thời khắc phục được những

nhược của hiện trạng chất thải rắn cũng như đáp ứng nhu cầu của người dân xã Đồng

Phúc theo tôi :

- Xã Đồng Phúc nên tập trung thu gom chất thải của tồn xã hoặc có thể phối hợp

cùng các xã lân cận để việc thu gom và xử lý được tập trung, hiệu quả và kinh tế hơn.

- Do điều kiện kinh tế cũng như cơ sở hạ tầng tại địa phương còn thấp vì vậy Xã

Đồng Phúc nên chọn giải pháp chôn lấp hợp vệ sinh để xử lý chất thải.



27



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

 Tính tốn mạng lưới thu gom chất thải rắn cho xã Đồng Phúc:

- Tính khối lượng, thể tích chất thải rắn được thu gom.

Trong đó:

 Lượng chất thải rắn phát sinh trung bình tại xã Đồng Phúc là 0,52 kg/ng.ngđ.

 Tỉ lệ thu gom : 80%.

 Khối lượng CTR thu gom = Dân số x Lượng CTR phát sinh x Tỉ lệ thu gom.

 Thể tích CTR = Khối lượng CTR thu gom : Trọng lượng riêng của CTR.

 Trọng lượng riêng của CTR : 508 kg/m3.

Bảng 2.4: Bảng tính khối lượng chất thải rắn.

Khối lượng

Lượng CTR

Thể tích

Dân số

Tỉ lệ thu

CTR thu

STT

Thơn

phát sinh

CTR thu

( người)

gom ( % )

gom

( kg/ng.ngđ )

gom ( m3)

(kg/ngđ)

1

Việt Thắng

1934

0,52

80

804,544 1,583748031

2

Đồng Nhân

1745

0,52

80

725,92 1,428976378

3

Hoàng Phúc

824

0,52

80

342,784 0,674771654

4

Cao Đồng

1754

0,52

80

729,664 1,436346457

5

Bắc Sơn

615

0,52

80

255,84 0,503622047

6

Hạ Nàng

354

0,52

80

147,264 0,289889764

7

Nam Sơn

2089

0,52

80

869,024 1,710677165

8

Cựu Trên

476

0,52

80

198,016 0,389795276

9

Cựu Dưới

312

0,52

80

129,792 0,255496063

10 Tổng

10103

4202,848 8,273322835

- Chọn hệ vận chuyển : Do dân cư sinh sống theo thơn, xóm, mật độ dân số thấp (

575 người/km2 ), vì vậy, để tiết kiệm chi phí vận chuyển việc thu gom sẽ được thực

hiện 2 ngày 1 lần. Để tiết kiệm chi phí và phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất tại địa

phương, việc thu gom chất thải rắn được thực hiện như sau :

 Tại các ngã ba, ngã tư đặt thùng rác có thể tích 120 (l).



Các ngõ nhỏ, chất thải được thu gom bằng xe đẩy tay có thể tích 400 (l)

và tập kết tại các ngã ba, ngã tư ( nơi đặt thùng rác ).

 Xe chở rác có thể tích 2 m2.

- Thiết kế mạng lưới thu gom:

 Chất thải rắn được thu gom theo từng thôn và tập kết về bãi chôn lấp chung của

cả xã Đồng Phúc.

 Số thùng, số xe thu rác, số xe đẩy tay được tính tốn và thể hiện trong bảng sau:



28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng2.2: Thành phần CTRSH trên địa bàn nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×