Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(Nguồn số liệu: Niêm Giám thống kê 2011; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2011)

(Nguồn số liệu: Niêm Giám thống kê 2011; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2011)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

2.2.



Hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại xã Đồng Phúc – Yên Dũng – Bắc

Giang.



2.2.1. Khái quát hiện trạng môi trường huyện Yên Dũng – tỉnh Bắc Giang.

Nhìn chung mơi trường sinh thái của huyện còn tương đối tốt. Tuy nhiên, do sự gia

tăng dân số, phát triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đơ thị hố đã làm ảnh hưởng

khơng nhỏ đến môi trường.

Môi trường tự nhiên của huyện đang bị suy thối: đất canh tác bạc màu, nguồn

nước và khơng khí tại một số khu vực có dấu hiệu bị ơ nhiễm.

Môi trường đô thị:

Môi trường nước và chất lượng nước ở tại một số nơi nguy cơ suy giảm do nước

thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt không được xử lý mà thải vào hệ thống nước

chung gây ô nhiễm tầng nước mặt, thấm xuống đất gây ô nhiễm tầng nước ngầm.

Vấn đề cấp, thốt nước, rác thải, khí thải,... ở các thị trấn đã ảnh hưởng đến môi

trường đất, mơi trường khơng khí là những vấn đề bức xúc ảnh hưởng đến cảnh quan

mơi trường đơ thị cần có những biện pháp cụ thể để xử lý.

2.2.2. Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt.

Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình: chủ yếu là các loại rau, củ,

quả, giấy, lá cây, chai lọ, thức ăn thừa, xương động vật, than, thuỷ tinh, kim loại, vỏ

hoa quả, nhựa.

Các cơ sở kinh doanh tại địa bàn nghiên cứu hiện chủ yếu là kinh doanh các loại

mặt hàng phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dân như: bán hàng tạp hoá, bán

hàng nước, bán hàng thực phẩm nên thành phần chất thải rắn sinh hoạt từ các cơ sở

này chủ yếu là: túi bóng, hộp giấy, xương động vật, các loại rau củ quả... Trong các

cửa hàng may có thêm vải vụn, chỉ. Trên địa bàn nghiên cứu có rất nhiều cửa hàng sửa

chữa xe máy, ôtô chất thải rắn hàng ngày từ các cửa hàng này chủ yếu là: kim loại,

nhựa, rẻ lau dính dầu, lốp xe. Các cửa hàng ăn sáng chất thải rắn chủ yếu là: giấy ăn,

xương động vật, thức ăn thừa, than nấu ăn.

Có thể thấy hiện nay chất thải từ các hộ gia đình, cơ sở kinh doanh chủ yếu là chất

thải hữu cơ, ngồi ra còn có thêm chất thải vơ cơ như là: gạch ngói, giấy, kim loại,

than xỷ

Ngồi ra, trên dịa bàn nghiên cứu còn có:

a)Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các trụ sở cơ quan: thành phần chất thải rắn

trường học chủ yếu là: giấy, thước kẻ, phấn, bụi đất, bút viết hỏng, túi nilon, lá cây.

Văn phòng nhà trường có thêm vỏ hoa quả, bã chè, thức ăn thừa. Trong các trường

mầm non chất thải rắn hàng ngày có thêm thức ăn, giấy, đổ chơi hỏng.

Chất thải phát sinh từ các trụ sở cơ quan có thành phần chủ yếu là: giấy, báo, vỏ

hộp, bã chè, bụi, lá cây, đầu thuốc lá. Tại các trạm y tế thành phần chất thải rắn là: vỏ

hộp thuốc, thức ăn, chai nhựa, bông, kim tiêm.

b)Chất thải rắn phát sinh từ các khu chợ: các khu chợ kinh doanh các mặt hàng

chủ yếu phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dân do vậy mà thành phần chất thải

rắn là: rau, củ, quả, túi nilon, xương động vật, các loại bao bì, rơm, rác, lá cây, đất cát,

lông gà, lông vịt…

c)Chất thải rắn phát sinh từ trạm y tế: Do điều kiện vật chất cho nên trạm y tế tại

16



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

nơi nghiên cứu chuyên đề chủ yếu hoạt động khám, chữa bệnh đơn giản, không phẫu

thuật nhiều. Tuy nhiên, chất thải rắn tại đây vẫn bao gồm : chất thải nguy hại, túi nilon,

thực phẩm, thức ăn thừa, rác vườn…

2.2.3. Khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt.

Theo số liệu điều tra tại địa bàn xã Đồng Phúc năm 2011 của Phòng Tài ngun và

mơi trường huyện n Dũng thì lượng chất thải rắn phát sinh theo đầu người của xã

Đồng Phúc hiện nay là 0,52 kg/ng.ngày.

Lượng chất thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình được tính bằng cách nhân

tổng số dân với lượng chất thải sinh hoạt trên đầu người.

Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh được tính theo cơng thức sau:

Ssinh hoạt = Tsinh hoạt x N

Trong đó:

- Ssinh hoạt : Chất thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày (kg/ngày)

- Tsinh hoạt : Mức phát sinh chất thải rắn hàng ngày (kg/người/ngày)

- N

: Dân số (người)

Vì vậy : Ssinh hoạt = Tsinh hoạt x N = 0,52 x 10103 = 5253,56 ( kg/ngày ).

Với dân số xã Đồng Phúc là 10103 người.

Giả sử, chất thải rắn có trọng lượng riêng là 508kg/m 3 ( giả định trên cơ sở đã

phân tích thành phần, tính trọng lượng riêng của chất thải rắn sinh hoạt trong quá trình

học tập). Như vậy, thể tích chất thải rắn phát sinh tại Xã Đồng Phúc là :

Vsinh hoạt = Ssinh hoạt : 508 = 5253,56 : 508 = 10,34 ( m3 / ngày đêm ).

Vậy số liệu điều tra và tính tốn ở trên có thể thấy hiện nay lượng chất thải rắn

sinh hoạt tại xã Đồng Phúc phát sinh hàng ngày là tương đối nhiều. Tuy nhiên, do địa

bàn rộng nên cơng tác thu gom gặp nhiều khó khăn.

Thành phần chất thải rắn hiện nay của các xã rất đa dạng, chủ yếu là chất thải

hữu cơ dễ phân hủy, bên cạnh đó có thêm chất thải vơ cơ.

Bảng2.2: Thành phần CTRSH trên địa bàn nghiên cứu

STT

Thành phần chất thải rắn sinh hoạt

Tỷ lệ (%)

1

Mùn đất

14÷25

2

Rác vụn

10÷15,5

3

Thức ăn thừa, cỏ cây, lá cây, bã chè

30÷48

4

Gạch vụn, đá, sỏi, sành, sứ

4÷8

5

Vỏ ốc, vỏ sò

3÷5

6

Túi nilon, cao su, nhựa, da

4÷7

7

Lơng gà, lơng vịt

0÷8

8

Giấy, bìa, giẻ rách,

0÷3

9

Gỗ vụn

3÷8

10

Thủy tinh

0÷1

11

Kim loại

1,5÷2

Nguồn: Số liệu Phòng TNMT huyện Yên Dũng.



17



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015



2.2.4. Thực trạng quản lý chất thải rắn xã Đồng Phúc – Yên Dũng – Bắc Giang.

a) Cơ cấu tổ chức quản lý

Hiện nay, phòng Tài ngun và Mơi trường đang là cơ quan pháp lý quản lý môi

trường và đất đai trên địa bàn huyện. Hiện tại, phòng Tài ngun và Mơi trường có 29

cán bộ trong đó có 4 cán bộ phụ trách môi trường, các xã và thị trấn đều cán bộ môi

trường. Nhưng do điều kiện cơ sở vật chất nên hiện nay công tác thu gom chất thải rắn

mới chỉ dừng lại ở việc thu gom không thường xuyên của một số thôn và tại khu vực

trung tâm xã hoặc thu gom theo nhóm hộ gia đình một cách tự phát, nhỏ lẻ.

Qua quá trình đi thực tế, phỏng vấn người dân và ông Trần Văn Ngữ - cán bộ môi

trường xã Đồng Phúc tôi được biết :

Theo ơng Trần Văn Ngữ thì : “ Do điều kiện về cơ sở vật chất cũng như điều kiện

kinh tế của địa phương nên hoạt động quản lý chất thải rắn tại xã Đồng Phúc còn gặp

rất nhiều khó khăn ”



Hình 2.1: Ủy ban nhân dân xã Đồng Phúc.

UBND huyện

(Chủ tịch huyện)



Công ty Cổ phần Môi trường đơ

thị huyện n Dũng



Phòng Tài ngun và Mơi

trường

18



UBND xã (cán bộ môi trường)



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

UBND huyện

(Chủ tịch huyện)



Công ty Cổ phần Môi trường đô

thị huyện Yên Dũng



Phòng Tài ngun và Mơi

trường



UBND xã (cán bộ mơi trường)



Hợp tác xã mơi trường



Hộ gia đình



Tổ vệ sinh mơi trường



Cơ quan, công sở



Cơ sở sản xuất kinh

doanh



Chất thải rắn sinh hoạt



Hình 2.2: Sơ đồ quản lý CTRSH của huyện Yên Dũng.

2.2.5. Hiện trạng xử lý chất thải rắn tại xã Đồng Phúc – Yên Dũng – Bắc Giang.

Hiện tại các hình thức xử lý rác phổ biến nhất của các xã trên địa bàn huyện Yên

Dũng là: tự tiêu hủy, tái sử dụng, thu gom.

Tự tiêu hủy: đây là hình thức mà đại bộ phận người dân đang áp dụng với chất thải

sinh hoạt mà gia đình mình thải ra. Do diện tích vườn của các hộ gia đình là tương đối

rộng nên khả năng tự phân hủy rất nhanh. Người dân vẫn thường có thói quen vứt rác

ngay ra vườn nhà mình đó là với các chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy. Đối với các chất

thải vô cơ như giấy, bìa và các chất thải hữu cơ khó phân hủy như túi bóng, chai nhựa

người dân có thói quen gom lại sau đó mang đi đốt cùng với các loại lá cây. Đại bộ phận

người dân vẫn thường tận dụng các khu đất chống trong vườn nhà mình làm khu tập trung

rác, khoảng 4 – 5 ngày lại tiến hành đốt rác một lần. Các hộ gia đình gần đường lại vứt rác

ngay ra ven đường sau đó đốt; các khu đất trống, kênh mương khơng có người quản lý

cũng trở bãi đổ rác của người dân.



19



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015



Hình 2.2: Con đường liên huyện xã Đồng Phúc.



Hình 2.3: Mương tưới, tiêu tại Thơn Việt Thắng – Xã Đồng Phúc.

20



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

Hiện nay, tại xã Đồng Phúc có 3 thơn : Cao Đồng, Đồng Nhân, Hoàng Phúc đã

tiến hành tổ chức thu gom chất thải rắn. Tuy nhiên, hoạt động này khơng thường xun

và chưa hiệu quả cao. Vì thu gom còn nhỏ lẻ theo thơn, xóm và chỉ chở đến bãi đất

trống rồi đổ, khơng có một hình thức xử lý nào.

Tái sử dụng: hình thức này áp dụng với những chất thải mà có khả năng sử dụng

lại như là rau, củ, quả, thức ăn thừa, người dân chuyển chúng sang mục đích chăn

ni. Đây là hình thức tái sử dụng mang tính tiết kiệm khơng những thế mà có thể

mang lại hiệu quả kinh tế. Tại các hộ gia đình chăn ni lớn đa số có hình thức làm

hầm biogas để tận dụng các chất thải từ chăn nuôi, chất thải hữu cơ dễ phân hủy. Các

vật liệu kim loại, chai thủy tinh, người dân tích lại sau đó bán cho những người thu

mua phế liệu. Tại các cửa hàng sửa chữa ô tô, xe máy những bình ác quy, sắt thép sẽ

được thu mua phục vụ cơng tác tái chế. Hình thức tái chế, tái sử dụng không những

mang lại hiệu quả trong công tác bảo vệ mơi trường mà còn tiết kiệm được một khoản

tiền khơng nhỏ đối với các hộ gia đình ở nơng thơn hiện nay.

Thu gom là hình thức mà hầu hết hiện nay người dân đều có mong muốn có hình

thức này tới tận các hộ gia đình. Nhưng do điều kiện tự nhiên, do cơ sở vật chất còn

nhiều thiếu thốn, nên hiện nay, tại xã Đồng Phúc có 3 thơn : Cao Đồng, Đồng Nhân,

Hồng Phúc đã tiến hành tổ chức thu gom chất thải rắn. Tuy nhiên, hoạt động này

khơng thường xun và chưa hiệu quả cao. Vì thu gom còn nhỏ lẻ theo thơn, xóm và

chỉ chở đến bãi đất trống rồi đổ, khơng có một hình thức xử lý nào.

Theo kế hoạch của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, các tổ vệ sinh tại các xã

sẽ được hỗ trợ kinh phí để mua trang thiết bị dụng cụ lao động phục vụ công tác thu gom

chất thải rắn sinh hoạt của xã mình. Các xã đang nghiên cứu và lập kế hoạch xây dựng bãi

rác thải cho riêng mình.

2.2.6. Đánh giá về sự quan tâm của người dân về vấn đề chất thải rắn sinh hoạt.

Theo kết quả điều tra trên địa bàn xã, có thể rút ra kết luận như sau :

- Hiện tại, sự hiểu biết về lĩnh vực môi trường của người dân còn chưa đồng

đều.

- Tuy nhiên, đa số các hộ dân được phỏng vấn đều mong muốn được thu

gom rác thải và chấp nhận trả phí.

Theo số liệu phỏng vấn tại các hộ gia đình, một số người dân có nhận xét chung là

tình hình mơi trường của huyện vẫn tốt, chưa có hiện tượng ơ nhiễm do vấn đề chất

thải rắn sinh hoạt. Nhưng một số hộ khác lại cho rằng hiện tượng ơ nhiễm đã có, đó là

ở các khu chợ trong địa bàn, các khu đất trống được xử dụng để đổ rác không hợp lý,

các con mương …

Trong các quan điểm của người dân về vấn đề ảnh hưởng của ô nhiễm rác thải như

thế nào: một bộ phận người dân cho rằng chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đại bộ

phận những người hiểu biết thì họ cho rằng nó ảnh hưởng tới cả ba: sản xuất kinh

doanh, sức khỏe con người, cảnh quan thơn xóm.

Một số hộ dân có ý kiến : “ chúng tôi rất muốn được thu gom rác thải và có hình

thức xử lý rác phù hợp hơn. Bây giờ là thời nông thôn mới rồi, đường làng đổ bê tơng

rồi, đổ rác ra đường thì bẩn lắm, nhưng tơi chẳng biết làm thế nào, đành cho vào bao

buộc lại chờ đội thanh niên xóm mỗi tháng đi thu 1,2 lần”.



21



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015



Hình 2.4: Chất thải rắn được người dân cho vào bao tải chờ ngày thu gom.

Các hình thức tun truyền bảo vệ mơi trường đa phần người dân đều tham gia hết

sức nhiệt tình. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cá nhân, gia đình còn chưa thực hiện được.



Hình 2.5: Những khó khăn trong cơng tác quản lý.



22



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

2.2.7. Dự báo lượng chất thải rắn sinh hoạt đến năm 2030.

Theo báo cáo Quy hoạch của Phòng Tài ngun và Mơi trường huyện Yên Dũng

năm 2011 :

Thu gom và xử lý 100% rác thải sinh hoạt ở thị trấn và trên 80% rác thải sinh hoạt

ở nông thôn với khối lượng 0,8 kg/ng.ngđ.

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính:

Hạng mục

Đợt đầu (năm 20132020)

- Đất ở

45 50 m2/người

- Đất cơng trình cơng cộng

3 3,5 m2/người

- Đất cây xanh

≥4m2/người

Các chỉ tiêu HTKT

- Tiêu chuẩn cấp điện sinh hoạt

170w/người

- Công trình cơng cộng

- Khu cơng nghiệp

- Cấp nước

80 l/người/ng.đ cấp cho 80% dân

- Thốt nước bẩn, vệ sinh mơi trường

+ Thoát nước

72l/người/ng.đ (lấy bằng 90% tiêu

chuẩn cấp nước)

+ Rác thải

0,8kg/người/ngày

- Giao thông đô thị đảm bảo

+ Tỷ lệ giao thông /đất ĐT

≥13%

+ Mật độ mạng lưới đường

6,58km/km2



23



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

Đất để xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại: Diện tích cần tăng thêm để đảm bảo cho

việc thu gom, xử lý chất thải trên địa bàn huyện đến năm 2020 là 26,15 ha. Phân bổ

cho các xã và thị trấn như sau:

Diện tích đất

Diện tích đất

Tên ĐVHC cấp

Tên ĐVHC cấp

TT

bãi thải, xử lý TT

bãi thải, xử lý





chất thải (ha)

chất thải (ha)

1



TT Neo



0,43



12



Xã Tân Liễu



1,07



2



TT Tân Dân



2,00



13



Xã Yên Lư



0,30



3



Xã Cảnh Thụy



1,00



14



Xã Nham Sơn



7,20



4



Xã Thắng Cương



0,30



15



Xã Lão Hộ



0,50



5



Xã Tư Mại



0,95



16



Xã Tân An



1,00



6



Xã Tiến Dũng



1,62



17



Xã Hương Gián



1,10



7



Xã Đức Giang



1,07



18



Xã Xuân Phú



1,35



8



Xã Đồng Việt



0,80



19



Xã Quỳnh Sơn



1,00



9



Xã Đồng Phúc



1,50



20



Xã Lãng Sơn



1,51



10



Xã Nội Hồng



0,50



21



Xã Trí n



0,50



11



Xã Tiền Phong



0,45



2.2.8. Những khó khăn trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt.

Địa bàn nghiên cứu có diện tích tự nhiên khá lớn, cư dân định cư theo làng, xóm

nên cơng tác bảo vệ mơi trường chưa đáp ứng hồn chỉnh nhu cầu đặt ra. Đặc biệt là

các xã xa trung tâm công tác tuyên truyền còn gặp nhiều hạn chế, ý thức của các hộ

kinh doanh dịch vụ chưa cao. Họ hiểu pháp luật nhưng mà cho rằng với hình thức kinh

doanh nhỏ lẻ của gia đình mình thì khơng thể ảnh hưởng tới môi trường. Nên việc vứt

rác không đúng nơi quy định họ vẫn tiếp tục làm.

Kinh phí phục vụ cho việc bảo vệ mơi trường còn gặp nhiều hạn chế, nên việc thu

gom chất thải rắn sinh hoạt của từng xã còn gặp nhiều khó khăn.

2.3.



Đề xuất giải pháp.

“Phát triển bền vững” hiện nay đang là chiến lược hàng đầu của quốc gia. Cùng

với phát triển kinh tế, chất lượng cuộc sống càng được nâng cao thì lượng rác thải

cũng tăng nhanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường và sức khoẻ

con người. Rác thải sinh hoạt luôn là một trong những vấn đề môi trường trầm trọng

nhất mà con người dù ở bất cứ đâu cũng phải tìm cách để đối phó.

Để cụ thể hố cho quan điểm trên, theo tôi cần thực hiện một số biện pháp sau :

1. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức người dân.

Theo tôi, đây là giải pháp nên được thực hiện đầu tiên, nó có ý nghĩa quyết định

đến hiệu quả của các giải pháp sau này.



24



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam ta ln mang trong mình trái tim u thương

mọi người, quê hương đất nước, gia đình. Vì vậy nếu cách thức tuyên truyền tinh tế,

đúng cách, phù hợp thì tơi nghĩ nó sẽ mang lại hiệu quả tương đối cao.

2. Tăng cường chất lượng của công tác quản lý.

Giải pháp này nên xuất phát từ việc đào taok đội ngũ cán bộ, nhân viên với những

kỹ năng chuyên môn cần thiết.

Thiết lập hệ thống pháp luật phục vụ cho công tác quản lý.

Quản lý trông qua các dự án, chương trình về mơi trường.

3. Xuất phát từ ý tưởng.

Rác củng là hàng hố, cho nên rác cũng có thể buôn bán và sinh lợi nhuận. Hiện

nay, rác thải là nguồn nhiên liệu. Có thể dùng rác thải chế tạo beton lót đường, đê chắn

sóng. Nguồn kim loại thu hồi trong rác thải rất có giá trị, tái sử dụng là chúng có thể

giảm một lượng hao phí tài ngun khá lớn. Đó là bí quyết thành cơng trong việc xử lý

rác thải. Mở đường cho sản xuất sạch hơn và cơ chế phát triển sạch

 Các công ty thu gom, mua lại chai lọ mà đựng sản phẩm mà cơng ty đó đã bán

ra thị trường để tiến hành tái chế. Một việc làm có thể giúp làm giảm việc thải bỏ các

chai lọ sau khi sử dụng là khuyến khích người tiêu dùng mua về và đổ vào các chai lọ

có sẵn, so với việc thu gom, tái sử dụng chai lọ thì việc sử dụng bao bì giấy thuận tiện

hơn. Nhà nước nên có chính sách giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện tốt vấn đề

sản phẩm thân thiện với môi trường.

 Sản xuất nynon hữu cơ dễ phân huỷ, trong các hoạt động thương mại, nylon

không cho mà người tiêu dùng phải mua. Điều này khiến người tiêu dùng ý thức hơn

về việc sử dụng lại.

 Đối với các công ty sản xuất thiết bị tiêu dùng, sinh hoạt, buộc nhà sản xuất

phải có trách nhiệm với sản phẩm hàng hố của mình, trách nhiệm này được cụ thể

hoá bằng các luật, họ phải tìm cách cải thiện các sản phẩm của mình sản xuất ra sao

cho lắp đặt, phân loại, tái chế sau khi hết thời hạn sử dụng. Trong lĩnh vực quản lý thu

gom, xử lý chất thải sang hạch toán kinh doanh có hiệu quả, có ký kết hợp đồng, nâng

cao chất lượng dịch vụ, tránh tình trạng độc quyền khép kín. Điều này buộc cơng ty

hay doanh nghiệp phải suy nghĩ để thay đổi, nhìn chung có thể giúp nâng cao trình độ

cơng nghệ của thành phố khi các nghành sản xuất buộc phải sản xuất thân thiện với

môi trường.

4. Phân loại rác tại hộ gia đình.

Mục tiêu : Rác thải rắn mang tính hỗn hợp nên trong q trình xử lý rác gặp nhiều

khó khăn. Vì vậy, cần có sự triển khai phân loại rác thải ngay từ nguồn phát sinh.

Nhằm nâng cao hiệu quả của cá hoạt động tiếp theo, việc quản lý rác tốt hơn, hạn chế

sự ô nhiễm môi trường và cải thiện môi trường đô thị. Đồng thời giảm nhu cầu đất đai

do giảm chất thải buộc phải chôn lấp, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và

đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội.

 Khuyến khích tận dụng tối đa, triệt để những vật dụng còn sử dụng được trước

khi vướt bỏ ( chai, lọ, bao bì, giấy,…), giúp giảm nguồn thải.Hạn chế việc sử dụng

những đồ vật “dùng một lần”.

 Trong gia đình, sử dụng 2 thùng rác để chứa chất thải có thể tái chế và khơng

thể tái chế.Viêc sử dụng đó giúp tiện dụng trong phân loại chất thải.

 Tại các khu đơng dân cư, cần bố trí những khu vực đặc biệt, quy định giờ làm

việc cụ thể hàng ngày, mỗi người dân có trách nhiệm đến giờ phải mang rác đã phân

25



Báo cáo thực tập tốt nghiệp 2015

loại tới đó. Xung quanh đó có treo nhiều biển, băng-rôn… nhắc nhở mọi ngưởi phải

mang rác đến các điểm hẹn đúng giờ, phải đổ hết chất lỏng trong các chai lọ, tất cả

những vật sắc như kim may, dao cao, thuỷ tinh…có thể gây thương tích cho người dọn

rác, phải gói vào giấy và ghi ở bên ngồi chỉ được đựng rác vào các thùng nhựa hay

bao nhựa chắc chắn.

 Thu phí rác thải, mỗi người đều phải trả tiền cho việc phát thải của mình, tiền

này được sử dụng cho việc thu gom và xử lý rác. Có thể dùng hình thức thu phí để

khống chế rác thải, buộc người dân chỉ được thải ra một lượng rác nhất định, nếu vượt

q sẽ phải đóng phí phạt nặng đối với hành vi đổ rác thải bừa bải.

 Cần thiết phải xây dựng và phát triển những chương trình giáo dục cộng đồng

trên thơng tin đại chúng. Trong chương trình đó nêu rõ những tác hại của rác với mơi

trường và cộng đồng, những lợi ích mà mơi trường và cộng đồng sẽ thu được khi tiến

hành phân loại rác tại gia đình, những vấn đề mình đã làm được cho cộng đồng, chính

điều này, người dân, trong mỗi gia đình, cảm thấy vui vì mình đã làm một việc có ích

cho mọi người, và chình cảm giác này sẽ khuyến khích cho việc làm phân loại rác,

khơng chỉ tại gia đình mà còn ở những nơi khác như nơi cơng cộng cơ quan… Trong

những chương trình giáo duc cộng đồng đó nên phát kèm theo những kiến thức cơ chế

về phát triển sạch, năng xuất xanh…theo hướng đại chúng hố, để mọi người hiểu rõ,

tìm cách ứng dụng những gì mình nge vào cuộc sống. gây tác động vào tiềm thức lâu

dài, tác động đến hành động của mọi người. Ngồi ra giúp nâng cao trình độ chung của

xã hội.

 Cần tuyên truyền để thay đổi thói quen của người dân về tác hại của việc lạm

dụng sử dụng túi nylon đối với sức khoẻ và môi trường sống, kết hợp với việc tạo ra

và dần đưa vào sử dụng các loại bao bì bằng chất liệu an tồn với mơi trường. Việc

thay đổi thói quen của một cộng đồng là khơng đơn giản nhưng vẫn có thể thực hiện

được, nếu mỗi người trong chúng ta ý thức được trách nhiệm của mình đới với chính

cuộc sống của bản thân và công đồng.

5. Thu gom rác tại nguồn.

 Bố trí các thùng rác cơng cộng, vừa có vẻ mỹ quan nhưng phải đáp ứng được

nhu cầu bỏ rác, vì thực tế, tại Tp.MC việc tìm một thùng rác tại trung tâm thành phố

hay bên lề đường là hết sức khó khăn và hầu như là khơng.

 Tại các khu thương mại, vui chơi, chợ chi phí dịch vụ đều tính phí vệ sinh kèm

theo, bố trí các khu vực thu gom rác, rác được lấy đi vào cuối ngày.

6. Xây dựng nhà máy xử lý CTR.

Về đầu vào, rác thải sinh hoạt chưa có nhiều thành phần, trong đó có thể chia ra

thành 2 dạng : dạng có thể tái chế và khơng thể tái chế. Đối với dạng không thể tái chế,

thông thường là các loại rác có nguồn gốc hữu cơ, chúng ta có thể dùng đưa vào hầm ủ

phân compost, sản xuất phân bón, chi phí cho loại phân này khá rẻ, vì chỉ tốn chi phí

cho việc ủ rác thành phân bón và cơng chun chở, hầu như khơng tốn chi phí cho việc

ngun liệu đầu vào, ngồi gia để khuyến khích loại hình này, Nhà nước có thể ban

hành những chính sách giúp hỗ trợ công ty tham gia trong lĩnh vực này ( ưu đãi về

thuế, hỗ trợ về giá cả, thị trường, giúp đỡ trong khâu quảng cáo, đưa sản phẩm phân

bón vi sinh vật sạch đến tay người tiêu dùng…, điều này giúp khuyến khích cơng ty

càng tập trung hơn vào việc nghiên cứu công nghệ mới để giúp hoàn thiện hơn việc xử

lý đầu ra cho rác thải sinh hoạt nói riêng và các loại rác thải nói chung,.

Về tài chính : Kinh phí đầu tư xây dựng : có thể xin dự án, vay quỹ mơi trường.

26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(Nguồn số liệu: Niêm Giám thống kê 2011; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2011)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×