Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đánh giá việc thực hiện quy trình rà soát và ký kết hợp đồng

Đánh giá việc thực hiện quy trình rà soát và ký kết hợp đồng

Tải bản đầy đủ - 0trang

− Phòng tránh những rủi ro khơng đáng có



Với mục đích phòng chống những rủi ro pháp lý và giúp lãnh đạo doanh nghiệp

nắm bắt kịp thời những quy định của pháp luật để vận dụng những chính sách đó vào

q trình kinh doanh của doanh nghiệp, ngồi việc hỗ trợ, tư vấn pháp lý cho doanh

nghiệp của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp cần có bộ phận “gác cổng”, bảo vệ

tham mưu, tư vấn, giúp lãnh đạo doanh nghiệp về những vấn đề pháp lý liên quan đến

tổ chức,

3.2.Hạn chế và nguyên nhân:

Để có được kết quả khả quan như trên, Ban pháp chế cùng các Bộ phận khác đã

đáp ứng được yêu cầu thực tế, luôn trau dồi, cập nhật kiến thức chuyên môn nghiệp vụ

cùng với tinh thần làm việc nhiệt tình, trách nhiệm cao. Mặt khác, bộ phận nghiệp vụ

đã biết rút ra những kinh nghiệm quý báu của người đi trước cùng sự giúp đỡ của

Tổng công ty nên hạn chế và giảm thiểu sai sót, rủi ro có thể xảy ra.

Tuy vậy, với đặc thù ngành nghề Công nghệ thông tin cần trang bị những trang thiết

bị cơng nghệ cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải mua những vật tư này từ nước ngoài.

Việc mua sắm quốc tế lại rất phức tạp và luôn biến động. Rủi ro trong hoạt động mua

bán hàng hóa quốc tế thường xuất phát từ việc thỏa thuận chọn luật, phương thức giao

hàng, phương thức thanh toán và những nguyên nhân khách quan khác. Những vi

phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại quốc tế của công ty trong thời gian qua

chủ yếu là vi phạm về việc chọn luật áp dụng cho hợp đồng, ký kết hợp đồng điện tử,

số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng và phương thức thanh toán,...

− Đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử



Với số lượng đối tác nước ngoài ngày một tăng, phương thức ký kết hợp đồng điện

tử được sử dụng nhiều hơn khi giao dịch tiềm ẩn những rủi ro bất lợi cho công ty khi

pháp luật quy định về vấn đề giao dịch điện tử chưa quy định rõ ràng khái niệm “đề

nghị giao kết hợp đồng” và “chấp nhận hợp đồng”. Thực tế, trong nội dung các hợp

đồng tại công ty không có điều khoản quy định rõ cả hai vấn đề này, mặc dù chưa ghi

nhận trường hợp sai phạm nhưng việc bổ sung điều khoản nói trên để khắc phục thiếu

sót của luật là cần thiết.

21



− Chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế



Trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng

thương mại có yếu tố nước ngồi, hoặc có chọn nhưng không nắm rõ nội dung các

quy định của luật được chọn, sẽ có dẫn đến hậu quả hiểu sai hoặc viện dẫn sai các

điều luật, theo đó khơng phù hợp để giải quyết các vấn đề phát sinh, từ đó quyền và

lợi ích hợp pháp của cơng ty có thể bị xâm phạm. Ví dụ: Hợp đồng số 03272016/PTSCMC-TM/MHH-E ký kết vào ngày 03/05/2016, giá trị 160.146 USD để

mua tủ rack với các đặc tính sau: “tủ rack hồn chỉnh chuẩn Rack 42U-D800 có kích

thước W600xH2100xD800” với số lượng 100 cái, do có 2 loại giống hệt nhau về đặc

tính và chức năng nhưng một cái có tính chống ăn mòn thấp hơn loại còn lại nhưng

giá lại rẻ hơn. Do nhu cầu của dự án quá khẩn và trong q trình đàm phán khơng làm

rõ vấn đề này, cũng như hợp đồng được ký kết không chứa điều khoản thoả thuận luật

được áp dụng điều chỉnh, nên khi lô hàng nhập về không đáp ứng được yêu cầu cơng

việc. Sau đó hai bên đã thương lượng hồ giải mà khơng cần thơng qua khởi kiện,

theo đó cơng ty được đổi sang lô hàng đúng chất lượng yêu cầu và chịu 20% chi phí

phát sinh. Q trình giải quyết vấn đề đã làm tốn kém tiền bạc, chậm tiến độ thi cơng

dự án, gây ảnh hưởng đến uy tín của cơng ty.

− Phương thức thanh tốn trong hợp đồng thương mại quốc tế



Các vi phạm đến từ việc thông tin trên chứng từ không chuẩn xác, chậm giao chứng

từ cho ngân hàng, nội dung chứng từ không phù hợp với hợp đồng hoặc luật được

chọn áp dụng.

− Điều khoản giao hàng trong hợp đồng thương mại quốc tế



Quá trình giao hàng là quá trình tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, điều khoản về

giao hàng là điều khoản rất quan trọng và cần được soạn thảo, rà soát cẩn thận. Các

vấn đề dễ dẫn đến vi phạm bao gồm: thời gian giao hàng, địa điểm giao hàng, phương

thức giao hàng, giao hàng tồn bộ hay một phần, thơng báo về việc giao nhận hàng

hoá,… Trong trường hợp các vấn đề này không tường minh sẽ dẫn đến quyền lợi của

công ty bị ảnh hưởng.



22



Phần III. Một số kiến nghị hồn thiện quy trình rà sốt và ký kết hợp đồng tại

công ty Cổ phần Hạ tầng viễn thông CMC Telecom

1. Định hướng hồn thiện quy trình

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang phát triển một cách mạnh mẽ, việc ổn

định phong thái làm việc “nhanh và chuyên nghiệp” đòi hỏi doanh nghiệp phải hồn

thiện cung cách làm việc từ những yêu cầu nhỏ nhất để đáp ứng những yêu cầu ngày

một khắt khe của đối tác cũng như khách hàng trong khuôn khổ tuân thủ pháp luật.

Việc hồn thiện một quy trình giao kết hợp đồng chuẩn xác, khép kín góp phần rút

ngắn thời gian đàm phán vàt thực hiện giao dịch, đồng thời tiết kiệm chi phí giao dịch.

Tuy nhiên, để dạt được mục tiêu này cần sự nỗ lực trau dồi kiến thức, nghiệp vụ

không ngừng của khơng chỉ riêng Ban Pháp chế mà còn các Bộ Phận tham gia ký kết

hợp đồng của công ty. Dưới đây là một vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý khi tham gia ký

kết hợp đồng:

− Về đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử



Luật Giao dịnh điện tử năm 2005 không quy định cụ thể về lời mời “đề nghị giao

kết hợp đồng” và “chấp nhận giao kết hợp đồng” mà được đề cập qua hoạt động gửi

nhận thông điệp dữ liệu.

Pháp luật về thương mại điện tử hiện hành không quy định cụ thể về lời mời “đề

nghị giao kết hợp đồng”, “chấp nhận giao kết hợp đồng” mà được đề cập thông qua

hoạt động gửi nhận thông điệp dữ liệu. Việc giao kết hợp đồng nói chung cũng như

việc giao kết hợp đồng điện tử, về nguyên tắc, cùng bao gồm hai hoạt động nói trên.

Tuy nhiên, hai văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh vấn đề này là Luật Giao dịch

điện tử năm 2005 và Nghị đinh 52/2013/NĐ-CP lại không sử dụng thuật ngữ này,

nhưng trong giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên

website (tại mục 2 Nghị định 52/2013/NĐ-CP) lại dùng sử dụng thuật ngữ “đề nghị

giao kết”, “chấp nhận giao kết” mà không thông qua thông điệp dữ liệu điện tử. Việc

quy định thuật ngữ thiếu đồng nhất giữa văn bản luật và nghị định hướng dẫn hay

trong cùng nghị định là thiếu hợp lý.

23



Hơn nữa, thời điểm hợp đồng điện tử được coi là đã giao kết cũng không được xác

định rõ trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Luật này chỉ quy định về thời điểm,

địa chỉ gửi, địa chỉ nhận thông điệp dữ liệu tại Điều 17, 18, 19 mà khơng có quy định

cụ thể nào đề cập việc nhận một thông điệp dữ liệu như thế nào thì được coi là chấp

nhận chào hàng và từ đó hình thành hợp đồng điện tử. Thời điểm ký hợp đồng là một

trong những điều kiện xác định hiệu lực của hợp đồng, vì vậy việc xác định rõ thời

điểm này có ý nghĩa rất quan trọng. Có thể thấy, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và

các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành cũng không quy định nào về điều kiện có

hiệu lực của hợp đồng điện tử, cũng như không quy định các trường hợp hợp đồng

điện tử bị coi là vô hiệu, hậu quả pháp lý của hợp đồng điện tử vô hiệu. Đây là thiếu

sót của Luật mà khi tham gia giao kết hợp đồng các bên cần lưu ý.

− Về vấn đề lựa chọn pháp luật cho hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngồi:



Bộ Luật dân sự 2015 đã thừa nhận quyền tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp

đồng có yếu tố nước ngồi. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 683, các bên trong quan hệ hợp

đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng trừ những trường

hợp quy định theo pháp luật. Đồng thời, khi có nhu cầu thay đổi pháp luật áp dụng,

các bên có thể thoả thuận lại sao cho thay đổi đó khơng ảnh hưởng trực tiếp đến

quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp

dung, trừ trường hợp người thứ ba đông ý (khoản 6 Điều 683 Luật này). Như vậy, khi

giao kết hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngồi, doanh nghiệp hồn tồn có thể

thoả thuận với bên ký kết để lựa chọn pháp luật áp dụng.

− Về vấn đề phương thức thanh toán và giao hàng khi giao kết hợp đồng thương mại có



yếu tố nước ngồi:

Nhìn chung, từ những phân tích trên có thể thấy nguyên nhân dẫn đến những hạn

chế này chủ yếu là ngun nhân chủ quan, hồn tồn có thể khắc phục được trong quá

trình soạn thảo, đàm phán hợp đồng. Nội dung hợp đồng chặt chẽ, phù hợp, tuân thủ

theo pháp luật trực tiếp điều chỉnh hợp đồng đó, là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền với

lợi ích của doanh nghiệp tham gia giao kết.



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá việc thực hiện quy trình rà soát và ký kết hợp đồng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×