Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ 4.14: Diễn biến anh hưởng của đất đến các phương thức canh tác khác nhau

Biểu đồ 4.14: Diễn biến anh hưởng của đất đến các phương thức canh tác khác nhau

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Cây hồ tiêu là một cây công nghiệp lâu năm có giá tr ị kinh t ế cao, giữ vị trí

quan trọng trong cơ cấu cây trồng của nước ta. Vi ệt Nam hi ện nay là m ột trong

những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu, chiếm tới 40% thị phần hồ

tiêu xuất khẩu trên toàn thế giới. Theo s ố liệu hiệp h ội h ồ tiêu Vi ệt Nam (VPA),

diện tích hồ tiêu canh tác của nước ta năm 2010 đạt 51 ngàn ha. T ập trung ch ủ

yếu ở các tỉnh Tây Nguyên và miền Đơng Nam Bộ. Vì vậy, cây h ồ tiêu là m ột

trong những cây trồng mang lại nguồn thu nhập quan tr ọng cho nhi ều địa

phương trong cả nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đ ời

sống cho bà con nông dân.

Huyện Cư Kuin là huyện trồng tiêu phổ biến và phát tri ển tại Đăk Lak

song lại bị ảnh hưởng bởi nhiều loại bệnh hại , thậm chí nhiều thời điểm cây

tiêu chết hàng loạt do canh tác, bón phân khơng hợp lí , khơng chú trọng đến việc

cải tạo đất, khơng xử lý mầm bệnh. Một số diện tích tiêu tr ồng trên nh ững

vùng đất không phù hợp, không được chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thu ật,

giống tiêu khơng rõ nguồn gốc khiến tình hình sâu bệnh hại trên cây h ồ tiêu

ngày càng phát triển mạnh, nhất là bệnh chết nhanh cây tiêu do n ấm

Phytophthora capsici gây ra và bệnh chết chậm cây tiêu do nấm Pythium sp,

Fusarium sp, tuyến trùng và rệp sáp là ngun nhân chính dẫn đến sự khơng bền

vững trong sản xuất hồ tiêu, làm giảm năng suất cây tiêu và thu nh ập c ủa nông

dân.

Từ thực tế trên, tiến hành thực hiện đề tài : “Điều tra đánh giá ảnh hưởng

của một số biện pháp canh tác đến tình hình bệnh hại cây hồ tiêu t ại Cu

Kuin” là rất cần thiết.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu.

Xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp canh tác đến thành phần

và diễn biến một số bệnh hại chủ yếu trên cây hồ tiêu tại Huyện Cư Kuin.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể:



Xác định được hiện trạng sử dụng phân bón và hình thức tr ồng tiêu tại Cư

Kuin.

Xác định được ảnh hưởng của chế độ phân bón đến thành phần và di ễn

biến một số bệnh hại chủ yếu trên cây hồ tiêu tại Cư Kuin.

Xác định được ảnh hưởng của hình thức trồng đến thành phần và di ễn

biến một số bệnh hại chủ yếu trên cây hồ tiêu tại Cư Kuin.

1.3. Ý nghĩa khoa học:

Góp phần những nghiên cứu về bệnh hại trên cây tiêu tại địa phương.

1.4. Ý nghĩa thực tiễn:

Quản lí bệnh hại vườn cây hiệu quả, giữ sản lượng và tăng hiệu quả kinh

tế trong sản xuất hồ tiêu.



PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan về cây hồ tiêu

2.1.1. Vị trí và phân loại cây hồ tiêu

Cây hồ tiêu có tên khoa học là Piper Nigrum L., thuộc lớp Magnoliophyta,

bộ Piperales, thuộc họ Piperaceae, chi Piper là một chi quan trọng về kinh tế và

sinh thái học trong họ tiêu Piperaceae bao gồm khoảng 1000 đến 2000 loài cây

thân bụi, thân thảo và cây thân leo. Sự đa dạng trong chi này đ ược quan tâm

trong nghiên cứu và tìm hiểu sự tiến hóa của thực vật (Dyer L.A và palmer A.N,

2004).

2.1.2. Nguồn gốc và lịch sử phát triển

Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) có nguồn gốc từ Ấn Độ. Các tài li ệu của Ấn Độ

đã ghi chép lại việc sử dụng hạt tiêu cách đây 3000 năm. Đ ến đầu th ế k ỷ th ứ

XIII, cây tiêu mới được trồng rộng rải và sử dụng trong bữa ăn hàng ngày. Đến

thế kỷ thứ XVIII, cây tiêu được trồng ở Srilanka và ở Campuchia. Vào đầu th ế k ỷ

XX thì cây tiêu được trồng tiếp ở Châu Phi như:Congo, Nigieria,Madagasca vag

Châu Mỹ như: Brazil, Mexico,... Ngày nay hồ tiêu được trồng phổ bi ến ở m ột s ố

nước Đông Nam Á và Nam Á như: Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thái Lan,

Campuchia,......

Ở Việt Nam hồ tiêu mọc hoang được tìm thấy từ thế kỷ XVI, nhưng đến

thế kỷ XVII mới được đưa vào trồng (Chevarlier, 1925; Phan H ữu Trinh và

ctv,...1987). Đến cuối thế kỷ XIX, hồ tiêu được trồng với di ện tích tương đối khá

lớn ở Phú Quốc, Hà Tiên và một số ít được trồng ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Hi ện nay

hồ tiêu được trồng phổ biến ở Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đăk Nông), Đông

Nam Bộ (Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu), Miền Trung (Phú Yên, Qu ảng

Trị), vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Phú Quốc, Kiên Giang).

2.2. Đặc điểm thực vật học

Cây tiêu trồng quanh vườn hay trồng thành đồn đi ền có nhi ều gi ống khác

nhau, nhưng phần lớn có đặc tính thực vật gần giống nhau. Đó là loại dây leo,

thân mềm dẻo, có thể mọc dài đến 10 m nhưng ở vườn trồng người ta không để

vượt quá 3 - 4 m.

Hệ thống rễ: Thường có từ 3 - 6 rễ cái, một chùm rễ phụ ở dưới đ ất, trên



đốt thân có rễ bám. Rễ cọc chỉ có khi cây tiêu tr ồng b ằng hạt,có th ể ăn sâu đ ến

2,5 m, làm nhiệm vụ chính là hút nước. Rễ cái phát tri ển từ hom tiêu, có th ể ăn

sâu tới 2 m. Rễ phụ mọc thành chùm, phát tri ển theo chi ều ngang r ất dày đặc,

phân bố nhiều ở độ sâu 15 - 40 cm làm nhi ệm vụ hút n ước và ch ất dinh d ưỡng

cho cây. Rễ bám mọc từ đốt thân chính hoặc cành của cây h ồ tiêu, nhi ệm v ụ

chính là giữ cây bám chắc vào trụ. Khả năng hút nước và ch ất dinh d ưỡng khơng

đáng kể.

Cây hồ tiêu có ba loại cành chính: Cành tược, cành lươn, cành cho trái.

Cành tược: Mọc ra từ các mầm nách lá ở những cành tiêu nh ỏ h ơn 1 tu ổi.

Đối với cây trưởng thành, cành tược phát sinh từ các mầm nách trên khung cành

thân chính phía dưới thấp của trụ tiêu, và thường là cành cấp 1. Đặc đi ểm c ủa

cành tược là góc độ phân cành nhỏ, dưới 45O, cành mọc tương đối thẳng. Cành

tược có sức sinh trưởng mạnh, khỏe, thường được dùng để giâm cành nhân

giống.

Cành lươn: Cành phát sinh từ mầm nách gần sát gốc của bộ khung thân chính

của cây hồ tiêu trưởng thành. Đặc trưng của cành lươn là có dạng bò sát đất và các

lóng rất dài. Cành lươn cũng được dùng để nhân giống, có tỷ lệ sống trong vườn

ươm thấp và cây thường ra hoa quả chậm hơn so với cành tược nhưng tuổi thọ lại

dài và năng suất cao.

Cành cho trái: Đó là cành mang trái, thường phát sinh từ m ầm nách trên

cây hồ tiêu lớn hơn 1 năm tuổi. Đặc trưng của cành ác là góc đ ộ phân cành l ớn,

mọc ngang, độ dài của cành thường ngắn hơn 1 m, cành khúc khu ỷu và lóng r ất

ngắn, cành cho trái trên bộ khung cây hồ tiêu đa số là cành cấp 2 tr ở lên. Cành

cho quả nếu đem giâm cành cũng ra rễ, cho quả r ất s ớm. Tuy v ậy, cây phát tri ển

chậm, khơng leo mà mọc thành bụi vì lóng đốt khơng có r ễ bám ho ặc r ất ít nên

tuổi thọ thấp.

Lá tiêu thuộc loại lá đơn, có nhiều dạng: Bầu tròn, thn dài, hình tr ứng.

Gân lá chìm hay nổi, nhiều hay ít tùy thuộc theo giống.

Hoa tiêu thuộc loại hoa đơn tính hoặc lưỡng tính. Cây h ồ tiêu ra hoa d ưới

dạng hoa tự hình gié, treo lủng lẳng, gié hoa dài 7 - 12 cm, tùy gi ống h ồ tiêu và

tùy điều kiện chăm sóc. Trên gié hoa có trung bình 20 - 60 hoa x ếp thành hình



xoắn ốc, hoa hồ tiêu lưỡng tính hay đơn tính. Quả hồ tiêu thuộc loại trái h ạch,

khơng có cuống, mang 1 hạt hình cầu. Hoa tự xuất hiện đầy đủ đ ến khi hoa n ở

thụ phấn 1,0 - 1,5 tháng. Thụ phấn, phát triển thành quả (4,0 - 5,5 tháng) giai

đoạn này quả lớn nhanh về kích thước và đạt độ lớn tối đa. Đây là giai đoạn cây

hồ tiêu cần nước và dinh dưỡng nhất.

Quả hồ tiêu thuộc loại quả mọng, lúc non màu xanh, khi chín chuy ển sang

vàng và đỏ. Quả hồ tiêu thường chín tập trung vào các tháng 1 - 2 trong năm, đôi

khi kéo dài đến các tháng 4 - 5 do các lứa hoa ra mu ộn và cũng tùy theo đ ặc đi ểm

của giống.



 Tổng quan khu vưc nghiên cứu



Cây hồ tiêu là loại cây cơng nghiệp nhiệt đới có u cầu cao về đi ều ki ện sinh

thái mới có thể phát triển tốt và cho năng suất cao.

Nhiệt độ: nhiệt độ từ 18 - 27oC là khoảng nhiệt độ tối ưu giúp cây hồ tiêu

sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Cây hồ tiêu chịu được nhiệt độ tối thi ểu là

10oC và tối đa là 40oC, ở nhiệt dộ từ 6 - 10oC sec khiến cây bị nám lá non và rụng

lá, ở nhiệt độ 15oC cây tiêu sẽ ngừng sinh trưởng, nếu nhiệt độ trên 40 oC sẽ gây

ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của cây tiêu. Nếu s ống trong

một thời gian quá dài ở nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp thì cây sẽ héo và ch ết.

Ánh sáng: hồ tiêu là loại cây ưa bóng ở mức độ nhất định. Ánh sáng tán xạ

nhẹ phù hợp với nhu cầu sinh lý về sinh trưởng và phát dục, ra hoa đậu qu ả của

cây hồ tiêu và kéo dài tuổi thọ của vườn cây. Do đó người trồng cần chú ý đi ều

tiết ánh sáng trong vườn tiêu thích hợp để cây có đủ ánh sáng tán x ạ mà v ẫn

đảm bảo vườn được thơng thống.

Để tạo tán cho vườn tiêu thì người trồng tiêu thường chọn những loại cây

trụ có tán rộng như cây muồng, cây keo,.... hoặc tr ồng xen kẽ thêm nh ững lo ại

cây có bóng che để tạo môi trường tốt nhất cho cây tiêu sinh trưởng và phát

triển tốt nhất.



Lượng mưa cần thiết để cây tiêu phát triển tốt là từ 1500 - 2500 mm. Đ ộ

ẩm khơng khí dạt 70 - 90% là đạt tiêu chuẩn cần thi ết để tăng kh ả năng th ụ

phấn trên cây.

Cây tiêu cần được phân bố lượng nước thích hợp vào từng thời kỳ thì m ới

có thể phát triển hạt tối đa và cho năng xuất hiệu qu ả. C ụ th ể sau th ời gian thu

hoạch và bắt đầu phân hóa mầm hoa thì đ ể cây khơ hạn từ 15 - 20 ngày sau đó

mới thực hiện tưới tiêu để ra hoa đồng loạt và thời điểm thu hoạch đồng đều

hơn. Chú ý cần bổ sung lượng nước thích hợp vì cây tiêu khơng ch ịu đ ược ng ập

úng trong thời gian nhiều giờ.

Thời tiết nhiều gió sẽ làm cây tiêu bị gãy nhiều nhánh, phát triển chậm. Do

đó để làm cây tiêu phát triển tốt cần chú ý đến hệ thống đất đai rừng chắn gió, có

thể kết hợp với việc tạo bóng râm cho cây tiêu và chắn gió để tạo ra điều kiện

sinh thái hợp lý.

Đất đai: cây hồ tiêu có thể phát tri ển trên nhiều loại đất khác nhau như:

đất đỏ bazan, đất sét pha cát, đất phù sa bồi, đ ất xám, đ ất d ể thoát n ước không

ngập úng. Đất giàu mùn tơi xốp thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, giàu

dinh dưỡng, độ pH thấp nhất là 4,5 tốt nhất từ 5,5 - 6 đất không quá giàu ki ềm,

tầng đất canh tác trên 70 cm và tầng nước ngầm sâu h ơn 2m d ể giúp r ễ ph ụ d ể

phát triển và không bị ngập rễ cái.

Điều cần chú ý là tiêu có bộ rễ yếu nên đất trồng tiêu khơng đ ược có đ ộ

dốc quá lớn hơn 5% và tránh đất bị ngập úng.

2.3. Tổng quan nghiên cứu bệnh hại trên cây hồ tiêu.

Tiêu là một cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, nhưng bên cạnh đó

thành phần sâu bệnh hại trên cây hồ tiêu rất đa dạng và phong phú, nên đã có rất

nhiều nghiên cứu về bệnh hại trên cây hồ tiêu ở trên thế giới và trong nước.

2.3.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Anandaraj và Samar (1995), trên cây h ồ tiêu có 17 lo ại b ệnh trong đó

bệnh chết nhanh do Phytopthora ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh tế

của cây hồ tiêu.

Ở bang Kerala (Ấn Độ), hai loại bệnh virus phát tri ển gây hại trên cây tiêu,

dòng virus gây khảm cây dưa leo ( Cucumber mosaic virus, CMV-Pn) và virus mốc



vàng (Pepper yellow mottle virus, PYMV). Hai loại virus này làm cho cây sinh

trưởng chậm và cho năng suất kém. Bệnh có thể truyền qua dịch cây, các đ ộng

tác cắt ghép, dụng cụ, và qua côn trùng vectơ như rầy mềm ( Aphis gossypii) đối

với virus CMV-Pn, và rệp sáp Planococcus citri và Ferrisia virgata đối với virus

PYMV (Govindan và ctv, 2003).

Anith và cộng sự (2002) đã thành cơng trong việc phân lập dòng vi khuẩn

kháng với Phytophthora capsici từ vùng rễ cây tiêu, đã chọn được được chủng

PN-026 có khả năng hạn chế Phytophthora capsici gây héo cây trong vườn ươm.

Theo Wonoto (1972) ở Sarawak, Malaysia bệnh vàng lá biểu hiện lá mất

diệp lục, cây còi cọc và có triệu chứng thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng. Triệu chứng

bệnh tăng thêm khi có sự kết hợp giữa tuyến trùng Meloidogyne incognita và

Fusarium solani, trong điều kiện khô hạn và đất nghèo dinh dưỡng.

Theo Ramana và Eapen (2000), bệnh tuyến trùng là m ột trong các lo ại

bệnh gây hại quan trọng trên cây tiêu, chủ yếu là Meloidogyne inconita và

Radopholus similis gây ra. Sundararaju và ctv (1979) ghi nhận có 48 lồi tuy ến

trùng thuộc 29 giống gây hại trên cây tiêu. Trong khi đó Ramana và Eapen (2000)

ghi nhận được có 30 giống và 54 loài gây hại cho cây tiêu.

Shahnazi và ctv (2014), khẳng định bệnh vàng lá di nấm Fusarium solani

gây hại nghiêm trọng đến năng xuất cây hồ tiêu tại Malaysia. Nghiên cứu cũng

đã xac định được 34 chủng nấm Fusarium solani trên vườn tiêu đen bằng

phương pháp sinh học phân tử.

Theo Anandaraj (2005), để kiểm soát bệnh chết nhanh cần ph ải áp d ụng

tổng hợp các biện pháp như canh tác, giốn chống chịu, sinh h ọc, hóa h ọc. Bi ện

pháp canh tác như tạo bóng mát, bố trí hệ thống thốt nước và bón phân hửu c ơ

có vai trò rất lớn trong kiểm sốt bệnh chết nhanh.

Bridge (1978) phân lập được bao gồm tuyến trùng Radopholus simila,

M.incognita và nấm Fusarium oxysporum, F.solani từ những rễ cây tiêu bị bệnh ở

Indonesia. Dựa trên những điều tìm thấy, ơng cho rằng bệnh vàng lá có ngun nhân

rất phức tạp, không chỉ do một tác nhân gây bệnh: Một loài tuyến trùng hay một loài

nấm, mà nguyên nhân do sự tương tác giữa tuyến trùng và nấm.

2.3.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước



Cây hồ tiêu là cây công nghiệp mũi nhọn của nước ta. Sản xuất hồ tiêu

theo hướng tập trung, sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài mang nhiều lợi nhuận

cho người lao động và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều loại cây khác. V ấn đ ề

làm giảm năng suất, diện tích và chất lượng hồ tiêu đối v ới nước ta hi ện nay là

bệnh hại tiêu. Những nghiên cứu về bệnh hại tiêu ở việt nam vẫn còn ít. Tuy

nhiên bước đầu cũng đạt được những thành tựu đáng kể trong cơng tác tr ồng,

chăm sóc, phòng trừ bệnh hại tiêu.

Theo đánh giá của Cục Bảo Vệ Thực Vật (2007), trên cây tiêu có 17 lo ại

bệnh gây hại, trong đó bệnh: Thán thư, cháy đen lá, mốc h ồng, tuy ến trùng,

virus, chết nhanh, chết chậm gây hại nặng và khá ph ổ bi ến ở nhi ều vùng. Các

bệnh khác như nấm mạng nhện, tảo đỏ, rụng gié, chết thân, th ối rễ do vi khu ẩn,

khô vằn là những bệnh tuy có xuất hiện nhưng tác hại khơng lớn.

Theo Nguyễn Đăng Tơn và Bùi Chí Bảo (2011), thành phần bệnh h ại trên

cây hồ tiêu bao gồm: chết nhanh (Phytopthora capsici), tuyến trùng

(Meloidogyne inconita và Radopholus similis), xoăn lá (PYMV, CMV,TMV, virus),

thối rễ,...

Phạm Ngọc Dung (2013), đã xác định được 7 loài bệnh hại h ồ tiêu ở

quảng trị trong đó bệnh vàng lá chết chậm do tuyến trùng Meloidogyne inconita

là tác nhân chính kết hợp với một số nấm rễ khác gây hại rất phổ bi ến. Bệnh

chết nhanh do nấm Phytopthora sp. gây hại phổ biến, nguy hiểm và ảnh hưởng

nghiêm trọng đến năng xuất cây hồ tiêu.

Theo Võ Thị Thu Oanh (2000), để hạn chế bệnh hại tiêu, khơng lấy hom

giống trong vườn có cây bị bệnh, đặc biệt là bệnh tiêu điên. Tuy ển ch ọn các

giống tốt, sạch bệnh để nhân giống, nên trồng gi ống kháng bệnh nh ư Lada

Belantoeng. Để hạn chế sự phát triển bệnh chết nhanh cần gi ống kháng b ệnh

và không bị bệnh, đặc biệt là những vùng có nguy c ơ nhi ễm bệnh cao. Tr ước khi

trồng 2-3 tuần, nên để cây ở nơi riêng và phun thu ốc trừ nấm lên toàn b ộ cây và

bầu đất để xử lí nguồn bệnh.

Theo Nguyễn Văn Nam (1996) khi nghiên cứu một s ố loại Fusarium gây

hại trên một số cây trồng chính đã cho rằng Fusarium solani là một trong những

nguyên nhân lâm cây tiêu suy yếu, lá vàng và rụng ch ỉ còn tr ơ b ộ x ương trên c ọc.

Fusarium solani là một loại nấm ký sinh yếu, khơng có khả năng xâm nh ập và



gây hại độc lập song chúng có thể phối hợp với Fusarium oxysporum, Fomes,

Rhizoctonia bataticola.

Theo Ngơ Vĩnh Viễn (2007), trên hồ tiêu có 3 nhóm dịch hại có ý nghĩa

kinh tế và cần được quan tâm nghiên cứu giải quyết là: 1. Bệnh ch ết nhanh; 2.

Bệnh chết chậm; 3. Bệnh virus. Tác giả cũng cho rằng bệnh ch ết nhanh là

nguyên nhân gây suy thoái vườn tiêu của nhiều địa phương nh ư Cam L ộ (Qu ảng

Trị), Chư Sê (Gia Lai), Xuân Lộc (Đồng Nai), Phú Quốc (Kiên Giang). Về nguyên

nhân gây bệnh chết nhanh, tác giả cho rằng do hai nhóm n ấm Phytopthora và

Pythium gây ra bao gồm P. capsici, P. nicotianae, P. cinnamomi và Pythium sp. Về

bệnh chết chậm do tác động cộng hưởng của nhiều tác nhân như: tuy ến trùng,

nấm Fusarium, Pythium, rệp sáp và mối. Khi nghiên cứu về biện pháp phòng trừ,

tác giả cho rằng thuốc Agrifos-400 có tác động tốt đối với bệnh chết nhanh, h ạn

chế sự lây lan của bệnh, và phân hữu cơ đa chức năng MT1 có hiệu qu ả hạn ch ế

tác hại của bệnh chết chậm, tăng năng suất hồ tiêu tại Đăk Nông và Qu ảng Tr ị

(Ngô Vĩnh Viễn, 2007).

Bệnh hại nghiêm trọng nhất hiện nay đối với hồ tiêu là bệnh ch ết nhanh,

nguyên nhân gây bệnh là do lồi nấm Phytophthora palmivora (Nguyễn Đăng

Long, 1987-1988) kí sinh trên rễ và thân ngầm gây ra. Theo nh ận xét c ủa tác gi ả

bệnh phụ thuộc rất nhiều vào q trình tích luỹ của nấm bệnh ở trong đất, nếu

có thêm những tác nhân từ bên ngồi tác động vào, bệnh sẽ dễ dàng phát tri ển

thành dịch. Khi dịch đã phát sinh, sự lây lan nhanh chóng c ủa b ệnh theo ki ểu v ết

dầu loang do nước mưa chảy tràn. Bằng những cơng trình nghiên cứu gần đây

nhất cho thấy bệnh chết nhanh trên cây tiêu do loài nấm Phytopthora capsici gây

nên. Ở một số quốc gia khác như: Ấn Độ, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan,

Philippines còn xuất hiện thêm lồi nấm

P. nicotianae và lồi nấm P. palmivora còn xuất hiện ở Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan,

Trung Quốc, Brazil (Đoàn Nhân Ái, 2007).

Bệnh chết nhanh gây hại trên tất cả các vùng trồng tiêu ở Việt Nam. Bệnh

thường được quan sát rõ và điển hình vào cuối mùa mưa và đầu mùa khơ. Ban

đầu các đầu chóp rễ biến màu và có màu nâu nhạt hay màu nâu th ấm n ước, sau

chuyển sang màu nâu đen, rễ bị thối và không cung c ấp đủ n ước và dinh d ưỡng

cho cây nên cây bị héo nhanh, mép lá hơi cong l ại và tr ở nên vàng tr ước khi r ụng,



sau khi lá rụng quả bắt đầu nhăn nheo và khô. Khi cây b ị hại thân lá có hi ện

tượng héo rũ nhanh, từ khi bệnh xuất hiện đến khi cây tiêu ch ết hồn tồn có

thể chỉ trong vòng vài ba tuần lễ. Trên cây bị bệnh thường quan sát th ấy m ạch

dẫn trong thân bị thâm đen. Bệnh có th ể quan sát th ấy trong mùa m ưa t ừng

nhánh cây bị héo xanh và có thể chết từng phần trên “nọc tiêu”, nhiều khi mùa

mưa bệnh cũng có thể gây thối chùm hoa, chùm quả. Cây sinh trưởng chậm, lá

nhạt màu và biến sang màu vàng, sau đó lá, hoa, trái rụng d ần từ d ưới g ốc lên

ngọn, các đốt rụng từ trên xuống và gốc bị thối. Bệnh chết nhanh là nguyên nhân

gây suy thoái vườn tiêu ở một số địa phương như: Cam Lộ - Quảng Tr ị, Chư Sê Gia Lai, Xuân Lộc - Đồng Nai, Phú Quốc - Kiên Giang,… các vùng tr ồng tiêu t ừ Đà

Nẵng trở vào thường biểu hiện bệnh chết nhanh rõ nhất vào cu ối tháng 12 và

đầu tháng giêng (lúc kết thúc mùa mưa và chuyển sang mùa khô), các tỉnh từ đèo

Hải Vân trở ra biểu hiện của bệnh lại rõ hơn ở cuối tháng 4 đ ầu tháng 5 khi gió

mùa đơng bắc khơng gây mưa ở vùng này (Phạm Ngọc Dung, 2011).

Hiện nay bệnh chết nhanh vẫn chưa có thuốc đặc trị cho nên bi ện pháp

chủ đạo hiện nay vẫn là phòng bệnh nhằm hạn chế tối đa ảnh h ưởng của b ệnh.

Việc vệ sinh sạch sẽ tại các khu vườn là yếu tố c ơ bản trong phòng ch ống b ệnh

hiệu quả. Lối đi và các trang thiết bị phải được giữ gìn sạch sẽ. Các khu v ườn

cũng cần được làm sạch khơng còn những mảnh vụn cây tr ồng bị th ối nát, đó là

những vật dễ mang mầm bệnh Phytophthora (Broadley, 1992).



Theo Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam bệnh thán th ư có

nguyên nhân là do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra. Trên lá có những

vết vằn lớn màu vàng nâu, xung quanh vết vằn có những qu ầng đen. N ếu v ết

bệnh lây sang cành, bơng thì làm rụng đốt, cành, h ạt khô đen và lép. Nh ững qu ả

ở gần cuối của chùm hoa phát triển cho đến chín mà khơng bị những v ết đốm

đen. Những hạt gần phần bị bệnh thì nhỏ hơn. Bệnh cũng gây ra một vết nứt

nhẹ trên một số quả và ảnh hưởng đến sự phát tri ển sau này của quả. Những

quả bị bệnh khô dần và vẫn tồn tại trên cuống quả như các quả hồ tiêu bị lép.

Theo Báo cáo dịch hại chính trên hồ tiêu và bi ện pháp phòng tr ừ c ủa Vi ện

Khoa học Nơng nghiệp Việt Nam thì bệnh chết chậm thường có tri ệu chứng



vàng lá từ từ, thời gian từ khi biểu hiện đến khi chết có thể kéo dài cả năm.

Bệnh làm chết cả khóm hoặc chết 1 - 2 dây. Cây bị bệnh kém phát tri ển, năng

suất thấp, bộ rễ thường bị hủy hoại quan sát thấy rễ có nhi ều mụn u s ưng, v ết

thâm đen trên rễ do tập đoàn tuyến trùng gây ra. Gốc thân, cổ rễ bị thâm đen,

thối khơ. Các bó mạch trong thân bị chuy ển màu thâm đen. Do b ộ r ễ b ị tổn h ại,

quá trình thoát nước, vận chuyển muối khoáng bị gián đoạn nên cây m ới b ị

bệnh có biểu hiện sinh trưởng kém, lá vàng và rụng dần dần, cây còn nh ỏ có th ể

bị chết khơ hồn tồn. Trường hợp cây tiêu bị bệnh nhẹ thì dây tiêu khơng ch ết

nhưng sinh trưởng khơng bình thường và cằn cỗi.

Có nhiều tác nhân tham gia gây bệnh chết chậm như tuy ến trùng vùng r ễ,

rệp sáp, mối, nấm Fusarium spp., Phytophthora, Pythium,…. Một số nghiên cứu

cho rằng, tuyến trùng ký sinh gây thương tổn cho bộ rễ, sau đó nấm Fusarium và

các loại nấm khác ký sinh theo là nguyên nhân gây hi ện tượng ch ết ch ậm. Ở

những vùng có mật độ rệp sáp hại rễ cao và mối gây hại sẽ làm cho tri ệu ch ứng

của bẹnh thêm rõ ràng và bệnh phát tri ển nhanh h ơn. (Báo cáo d ịch h ại chính

trên hồ tiêu và biện pháp phòng trừ. Viện Khoa học Nơng nghiệp Vi ệt Nam).

Bridge (1978) phân lập được bao gồm tuyến trùng Radopholus simila,

M.incognita và nấm Fusarium oxysporum, F.solani từ những rễ cây tiêu bị bệnh ở

Indonesia. Dựa trên những điều tìm thấy, ơng cho rằng bệnh vàng lá có nguyên nhân

rất phức tạp, không chỉ do một tác nhân gây bệnh: Một loài tuyến trùng hay một loài

nấm, mà nguyên nhân do sự tương tác giữa tuyến trùng và nấm.

Theo Winoto (1972) ở Sarawak, Malaysia bệnh vàng lá biểu hiện lá mất diệp

lục, cây còi cọc và có triệu chứng thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng. Triệu chứng

bệnh tăng thêm khi có sự kết hợp giữa tuyến trùng Meloidogyne incognita và

Fusarium solani, trong điều kiện khô hạn và đất nghèo dinh dưỡng.

Tác giả Nambiar và Sarma (1977) cho rằng nguyên nhân gây b ệnh vàng lá

chết chậm cây tiêu ở Ấn Độ bao gồm các loài n ấm nh ư Fusarium sp., Rhizoctonia

sp. và tuyến trùng như: Meloidogyne incognita. Tầm quan trọng của sự thiếu K

và P trong đất, sự thiếu nước cũng ảnh hưởng đến bệnh.

2.3.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu

a) Vị trí địa lí



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ 4.14: Diễn biến anh hưởng của đất đến các phương thức canh tác khác nhau

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×