Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo bảng 3.10, tỷ lệ thiếu máu ở PNCT có trình độ văn hóa bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông lần lượt là: 20%; 12,1% và 12,3%. Sự khác nhau về tỷ lệ thiếu máu giữa các nhóm PNCT không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Theo bảng 3.10, tỷ lệ thiếu máu ở PNCT có trình độ văn hóa bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông lần lượt là: 20%; 12,1% và 12,3%. Sự khác nhau về tỷ lệ thiếu máu giữa các nhóm PNCT không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Tải bản đầy đủ - 0trang

35

ở PNCT trình độ THCS trở xuống là 22,2%, ở PNCT trình độ THPT trở lên là

19,9%[8], sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

4.3.3. Liên quan nghề nghiệp của PNCT với thiếu máu

Theo bảng 3.11, có mối liên quan giữa nghề nghiệp và tỷ lệ thiếu máu,

tỷ lệ thiếu máu giữa PNCT thuộc nhóm cán bộ, nhóm lao động tự do thấp hơn

nhóm nơng dân và cơng nhân với p < 0,05. Nhóm cơng nhân, tỷ lệ thiếu máu

là 16,2%; nhóm nơng dân tỷ lệ thiếu máu là 27,8%, nhóm cán bộ tỷ lệ thiếu

máu là 5,1%, nhóm lao động tự do tỷ lệ thiếu máu là 8,5%.

Nhóm cán bộ là những người có cơng việc và thu nhập ổn định, có chế

độ khám và quản lý thai định kì, có tỷ lệ thiếu máu thấp nhất: 5,1%. Nhóm

cơng nhân và nơng dân có tỷ lệ thiếu máu là 16,2% và 27,8%. Nhóm lao động

tự do là những người có cơng việc tự chủ, phần lớn sống trong khu vực làng

nghề truyền thống hoặc kinh doanh, nhóm này cũng có thu nhập ổn định và

thời gian khơng gò bó nên việc khám thai, tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân

và thai nhi tốt, vì vậy tỷ lệ thiếu máu cũng khơng cao: 8,5%.

So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Viết Trung, tác giả cũng cho thấy

có sự khác biệt về tỷ lệ thiếu máu giữa nhóm cán bộ với nhóm qn nhân và

nơng dân (31,5% và 48,21%), tỷ lệ thiếu máu trong nhóm PNCT là cán bộ

thấp hơn với p < 0,05[17].

4.3.3. Liên quan số lần đẻ với thiếu máu

Theo bảng 3.12, tỷ lệ thiếu máu ở PNCT chưa đẻ con nào, đẻ một con

và đẻ từ 2 con trở lên là: 13,6%; 11,7%; và 11,2%. Tỷ lệ thiếu máu ở các

nhóm PNCT đã đẻ con hay chưa đẻ con nào là như nhau với p > 0,05.

Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả tương đương nghiên cứu

của Nguyễn Thị Lan Hương và cộng sự khi nghiên cứu 853 PNCT tại bệnh



36

viện phụ sản trung ương năm 2017, tỷ lệ thiếu máu của các PNCT chưa đẻ

con, đẻ một con và hai con trở lên là như nhau: 15,3%; 15,5; và 15,1%[9].

4.3.4. Liên quan số lần mang thai với thiếu máu

Trong nghiên cứu của chúng tơi, theo bảng 3.13, khơng có sự liên quan

giữa số lần có thai với thiếu máu. Tỷ lệ thiếu máu trong nhóm có thai 1 lần, 2

lần và 3 lần trở lên lần lượt là: 13,5%, 10,7% và 13,0%. Ba tỷ lệ này khơng có

sự khác biệt với p > 0,05.

Kết quả của chúng tôi cũng tương đương kết quả của tác giả Nguyễn

Viết Trung khi nghiên cứu 416 PNCT, tỷ lệ thiếu máu ở nhóm có thai lần 1 là

37,4%, ở nhóm có thai lần 2 là 36,84%, khơng có sự khác biệt giữa 2 nhóm

với p > 0,05[17].

4.3.5. Liên quan số lần nạo, hút, sảy thai với thiếu máu

Theo bảng 3.14, tỷ lệ thiếu máu ở PNCT có tiền sử nạo, hút, sảy thai là

18,2%. Nhóm PNCT khơng có tiền sử nạo, hút, sảy thai tỷ lệ thiếu máu là

11,3%. So sánh tỷ lệ thiếu máu giữa hai nhóm này, chúng tơi thấy khơng có

sự khác biệt với p = 0,15( > 0,05).

Nghiên cứu của Đặng Thị Hà cho kết quả tỷ lệ thiếu máu ở PNCT có

tiền sử sảy, nạo thai cao hơn kết quả của chúng tơi: 26,1%, nhóm khơng có

tiền sử sảy, nạo thai thì tỷ lệ thiếu máu là 30,9%. Nhưng tỷ lệ thiếu máu giữa

hai nhóm này cũng khơng có sự khác biệt với p > 0,05[8].

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy cho kết quả tương đương nghiên cứu

của chúng tơi, tỷ lệ thiếu máu ở nhóm PNCT khơng có tiền sử nạo, hút, sảy

thai là 11,7%, ở nhóm có tiền sử nạo, hút, sảy thai là 17,0%[16].

Điều này có thể lý giải những PNCT sau khi nạo, hút, sảy thai, họ tăng

cường chế độ dinh dưỡng hợp lí, uống bổ xung viên sắt đầy đủ, nghỉ theo chế độ

nên sức khỏe hồi phục, vì vậy khơng làm tăng tỷ lệ thiếu máu ở lần có thai sau.



37

4.3.6. Liên quan giữa thiếu máu ở PNCT với uống viên sắt hàng ngày

trong thai kì

Theo bảng 3.15, tỷ lệ thiếu máu ở nhóm PNCT uống viên sắt hàng ngày

là 2,4%. Tỷ lệ thiếu máu ở nhóm PNCT uống viên sắt khơng đều là 62,1%.

Như vậy tỷ lệ thiếu máu ở nhóm PNCT uống viên sắt hàng ngày thấp hơn

nhóm PNCT uống viên sắt không đều, p < 0,01.

Hai tỷ lệ này là khác biệt với p < 0,01.

Nhiều nghiên cứu về bổ sung sắt bằng đường uống viên sắt hoặc sử dụng

các dạng thực phẩm tăng cường sắt, đều cho kết quả làm giảm đáng kể tình

trạng thiếu máu[8].

Trong nghiên cứu của Đặng Thị Hà cho thấy hiệu quả của việc uống viên

sắt bổ xung trong thai kì, sau một thời gian uống viên sắt đều đặn, được theo

dõi, kiểm soát, đánh giá lại thấy tỷ lệ thiếu máu giảm rõ rệt. Trong ba tháng

cuối của thai kì, tỷ lệ thiếu máu ở nhóm uống viên sắt chỉ còn 17,2% trong khi

tỷ lệ này ở nhóm chứng là 28,2%[8].

Trong khn khổ nghiên cứu hạn hẹp về thời gian và điều kiện, chúng

tôi chỉ làm mô tả cắt ngang, cũng nhận thấy có sự khác biệt giữa nhóm uống

viên sắt đều đặn và nhóm uống khơng đều. Tất cả 400 PNCT trong nghiên

cứu của chúng tôi đều được khám thai, được tư vấn uống sắt. Tuy nhiên một

số người do công việc làm ca đêm, do triệu chứng nơn gây khó chịu hoặc

chưa nhận thức đầy đủ giá trị của viên sắt nên uống không đều

4.3.7. Liên quan giữa thiếu máu ở PNCT với chế độ dinh dưỡng giàu sắt

Trong nghiên cứu của chúng tơi, theo bảng 3.16, PNCT có chế độ dinh

dưỡng đầy đủ và cân bằng các thành phần, tỷ lệ thiếu máu thấp (6,2%). Trong

khi đó tỷ lệ này ở nhóm chế độ dinh dưỡng nghèo sắt cao hơn (96,3%). Sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.



38

Thiếu máu ở PNCT phổ biến là thiếu máu dinh dưỡng. Các yếu tố dinh

dưỡng chủ yếu liên quan quá trình tạo máu là: sắt, acid folic, vitamin B12, và

protein[17]. Thiếu máu do thiếu sắt bao gồm lượng sắt đưa vào giảm hoặc

giảm hấp thu do nôn làm giảm độ toan dịch vị. Các nghiên cứu đã chứng

minh PNCT thường thiếu nhiều loại vi chất dinh dưỡng do bữa ăn thành phần

chính là gạo, thức ăn nguồn gốc động vật thấp nên thiếu cùng lúc nhiều vi

chất dinh dưỡng như sắt, protein.

Phụ nữ mang thai có hồn cảnh kinh tế khá sẽ có điều kiện dinh dưỡng

đầy đủ hơn. Khi mang thai nhu cầu sắt tăng khoảng 6 lần so với bình thường,

do đó những thai phụ có kinh tế kém, với chế độ ăn ít đạm nhiều tinh bột sẽ

dẫn đến tình trạng giảm hấp thu sắt và tăng nguy cơ thiếu máu.



KẾT LUẬN

Qua khảo sát 400 PNCT có thai ba tháng cuối đến khám tại phòng

khám sản bệnh viện đa khoa Từ Sơn từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2017, chúng

tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Tỷ lệ và đặc điểm thiếu máu ở PNCT

- Tỷ lệ thiếu máu ở PNCT là 12,3%.

- Đa số là thiếu máu mức độ nhẹ (10%), thiếu máu mức độ trung bình

2,3%. Khơng có thiếu máu nặng.

- Các chỉ số HC, Hb, Hct, MCV, MCH, MCH ở PNCT thiếu máu đều

giảm so với PNCT không thiếu máu.

2. Các yếu tố liên quan đến thiếu máu ở PNCT

- Không có sự khác biệt về tình trạng thiếu máu liên quan đến tuổi, trình

độ văn hóa, số lần đẻ, số lần có thai, số lần sảy nạo hút thai.



39

- PNCT là cán bộ và người lao động tự do, tỷ lệ thiếu máu thấp hơn

nhóm PNCT là cơng nhân và nông dân.

- PNCT uống viên sắt hàng ngày tỷ lệ thiếu máu thấp hơn nhóm PNCT

uống viên sắt khơng đều (2,4% với 62,1%).

- PNCT có chế độ dinh dưỡng giàu sắt tỷ lệ thiếu máu thấp hơn (6,2%

với 96,3%).



KIẾN NGHỊ

• Trong cơng tác khám, quản lý thai định kì, nên xét nghiệm công thức

máu sớm từ lần khám thai đầu tiên để đánh giá tình trạng thiếu máu, điều trị

và theo dõi nhóm đối tượng này.

• Uống viên sắt đều đặn

• Thực hiện chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân đối các thành phần. Tư vấn

chế độ lao động hợp lí trong thời kì mang thai.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

1. Bộ môn Nội(1992), Bài giảng bệnh học Nội khoa, Trường đại học Y

Dược Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 475-495.

2.



Bộ môn Nội(2009), Triệu chứng học Nội khoa, Trường Đại học Y Dược

Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Y học, tr. 198-204.



3.



Bộ môn Phụ sản(2011), Sản phụ khoa, Trường đại học Y dược TP. Hồ

Chí Minh, tr. 85-89.



4.



Bộ Y tế (2006), Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam,

Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 41-44.



5.



Bộ Y tế (2008), Dinh dưỡng cộng đồng và an toàn vệ sinh thực phẩm,

Nhà xuất bản Giáo dục.



6.



Dương Thị Cương (1997), Vấn đề thiếu máu ở phụ nữ có thai, Hội nghị

dinh dưỡng đối với phụ nữ có thai và cho con bú.



7.



Engene Bramn Wold (1994), Các nguyên lý Y học Nội khoa, Harrison,

Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tập 1, tr. 466-471.



8.



Đặng Thị Hà (2014), Nghiên cứu thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai

tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh và hiệu quả một số biện pháp

can thiệp, Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.



9.



Nguyễn Thị Lan Hương, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Hà Bảo

Vân(2017), “Nhận xét tình trạng thiếu máu và một số yếu tố liên quan đến

tình trạng thiếu máu khi mang thai của sản phụ sau đẻ nằm tại khoa sản

thường bệnh viện phụ sản trung ương”, Hội nghị Sản phụ khoa Việt Pháp,

Hà Nội 15 - 16/05/2017, tr 131- 137.



10. Phạm Văn Hoan (2001), Mối liên quan giữa an ninh thực phẩm hộ gia

đình và tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ trẻ em nông thôn miền Bắckhuyến nghị một số biện pháp khả thi, Luận án tiến sĩ y học, Viện Vệ

sinh Dich tễ trung ương, Hà Nội, tr.25 – 27



11. Nguyễn Cơng Khẩn, Nguyễn Chí Tâm và cộng sự (2002), Tình hình

thiếu máu dinh dưỡng ở Việt Nam qua điều tra đại diện cho các vùng

sinh thái trong toàn quốc năm 2000, Y học thực hành 7.

12. Võ Thị Thu Nguyệt, Bành Thanh Lan,Trần Thị Lợi và cộng sự (2008),

Khảo sát tình trạng thiếu máu thiếu sắt trong 3 tháng giữa thai kỳ và các

yếu tố liên quan tại bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh,

Vol.12 – Supplement of No 1 – 2008, pp 162 – 170.

13. Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự (2006), Thực trạng thiếu máu và một số

yếu tố liên quan ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ em tại một số xã/phường Hà

Nội năm 2006, Dinh dưỡng và Thực phẩm 3 (4).

14. Đỗ Trung Phấn (2003), Hằng số sinh học Huyết học Người Việt Nam,

Bệnh lý tế bào nguồn tạo máu, Chẩn đoán phân loại và điều trị, Nhà xuất

bản Y Học, Hà Nội, 440.

15. Đặng Oanh và cộng sự (2009), Tình trạng thiếu máu dinh dưỡng của phụ

nữ có thai người dân tộc thiểu số tại tỉnh Đăk Lăk năm 2008, Dinh

dưỡng và Thực phẩm, 5 (2).

16. Nguyễn Thị Thủy (2013), Nghiên cứu đặc điểm thiếu máu của phụ nữ có

thai đến khám tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2012 – 2013, Luận văn

thạc sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.

17. Nguyễn Viết Trung (2003), Một số yếu tố liên quan đến nguyên nhân và cơ

chế gây thiếu máu ở phụ nữ có thai, Luận án tiến sĩ y học, Học viện Quân y.

18. Phạm Quang Vinh (2012), Thiếu máu: phân loại và điều trị thiếu máu,

Bài giảng Bệnh học Nội Khoa, tập 2, Các Bộ môn Nội Trường Đại học Y

Hà Nội, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, 389, 391 - 396.

19. Nguyễn Thị Minh n (2002), Tình hình thiếu máu ở Phụ nữ có thai

đến đẻ tại viện Bảo vệ bà mẹ trẻ sơ sinh và ảnh hưởng đối với trẻ sơ

sinh, Trường đại học Y Hà Nội, Hà Nội.



TIẾNG ANH

20. Karim S.A et al. (1994), Anaemia in pregnancy its cause in the

underprivileged class of Karachi, JPMA Journal of the Medical

Association of Pakistan,44 (4), 90 - 92.

21. National Institutes of Health (2012),Dietary Supplement fact sheet:

Folate - Health professional Fact Sheet, Guidelines for Americans, pp.

57-58.

22. Sant-Rayn Pasricha, Sonia R. Caruana, Tran Q. Phuc(2008),“Anemia,

Iron Deficiency, Meat Consumption, and Hookworm Infection in

Women of Reproductive Age In Northwest Vietnam”, Am.J.Trop. Med.

Hy., 78(3), pp. 375-381.

23. Sullivan K.M., Mei Z., Grummer Strawn L., Parvanta I. (2008),

“Haemoglobin adjustments to define anaemia”, Trop. Med. Int. Health,

13(10), pp. 1267-71.

24. Toteja GS, Singh P. (2006), Prevalence of anemia among pregnant

women and aldolescent girls in 16 districts of India,Food Nutri Bull. 27

(4),311 - 315.

25. UNICEF (1992), Guidelines for monitoing progress in the reduction of

maternal mortality, United Nations Children's Fund, pp. 11-12.

26. WHO(2008), “Worldwide prevalence of anaemia 1993-2005”, WHO

Global Database on Anaemia, pp. 7-34.

27. WHO (2011), Haemoglobin concentrations for the dianogsis of anemia

and asaessment of severity, Vitamin and Mineral Nutrition Information

Syste. (WHO/NMH/NHD/MNM/11.1).

28. WHO-United Nations University-UNICEF (2001), Iron deficiency

anaemia, assessment, prevention and control: a guide for programme

managers, WHO/NHD/01-3, pp. 37-46.



29. Worlwide prevalence of anemia 1993- 2005, WHO global database on

anemia, pp.26-29.

30. Abdul - Kareem Al - Momen, Abdulaziz Al - Meshari, Lulu Al - Nuaim

et al (1996), “Intravenous iron sucrose complex in the treatment of iron

deficiency anemia during pregnancy”, European Journal of Obstetrics &

Gynecology and Reproductive Biology, 69(2), pp. 121-124.



PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU

Số phiếu...

Đề tài: "Thực trạng tình trạng thiếu máu ở phụ nữ có thai ba tháng

cuối đến khám tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn năm 2017 và một số yếu tố

liên quan".

A. Thông tin hành chính:

1. Họ và tên:



2. Ngày tháng năm sinh:



3. Địa chỉ:



4. Số ĐT di động:



5. Trình độ học vấn: Tiểu học [ ] Trung học cơ sở [ ] Trung học phổ thông []

Khác[

6. Nghề nghiệp:



]



Công nhân [ ]



nông dân [ ]



Lao động tự do [ ]



cán bộ [ ]



Khác[



]



B. Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan.

Tiền sử sản khoa

7. Có thai lần thứ:

8. Nạo/ hút/ sẩy thai: 1. Có



Số lần:



2. Khơng



9. Số con hiện có: [ ]

10. Khám thai

Ngày đầu kỳ kinh cuối:



Tuổi thai hiện tại:



Số thai:



Tần số tim thai



11. Đã uống viên sắt: 11a. Chưa [ ]



11b. Có [ ]



11b1. Uống hàng ngày [ ]



11b2. Uống khơng đều [ ]



12. Khám thai định kì: Có [ ]



Khơng [ ]



13. Đã được tư vấn uống sắt: Có [ ]



Khơng [ ]



14. Chế độ dinh dưỡng ăn thức ăn giàu sắt: Có [ ]



Khơng [ ]



C. Kết quả xét nghiệm

Stt

1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.



Xét nghiệm

RBC

HGB

HCT

MCV

MCH

MCHC

RDW

WBC

PLT



Kết quả



Giá trị bình

thường[11]

4,66 ± 0,36

135 ± 5

0,41 ± 0,03

87 ± 4

29 ± 2

336 ± 15

12 – 15

8,1 ± 2

274 ± 63



Đơn vị

T/l

g/l

l/l

Fl

Pg

g/l

%

G/l

G/l



Ngày……tháng ……..năm 2017.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo bảng 3.10, tỷ lệ thiếu máu ở PNCT có trình độ văn hóa bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông lần lượt là: 20%; 12,1% và 12,3%. Sự khác nhau về tỷ lệ thiếu máu giữa các nhóm PNCT không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×