Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Tụ cầu vàng (S. aureus) : là nguyên nhân hàng đầu trong các tác nhân gây nhiễm khuẩn bỏng, tỉ lệ phân lập được tại vết bỏng dao động từ 25-70% [21], [26]. Chúng có nhiều độc tố và yếu tố độc lực giúp cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể và gây tác hại nghiê

- Tụ cầu vàng (S. aureus) : là nguyên nhân hàng đầu trong các tác nhân gây nhiễm khuẩn bỏng, tỉ lệ phân lập được tại vết bỏng dao động từ 25-70% [21], [26]. Chúng có nhiều độc tố và yếu tố độc lực giúp cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể và gây tác hại nghiê

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



[21], [26]. Chúng có nhiều độc tố và yếu tố độc lực giúp cho vi khuẩn xâm

nhập vào cơ thể và gây tác hại nghiêm trọng [27], [28].

- Trực khuẩn mủ xanh (P.aeruginosa) : là nguyên nhân hàng đầu gây

nhiễm khuẩn bệnh viện. Những nhiễm khuẩn này rất khó điều trị vì trực

khuẩn mủ xanh kháng lại hầu hết các kháng sinh thông thường với mức độ

kháng rất cao [29], [30].

- Các trực khuẩn đường ruột gây nhiễm khuẩn bỏng thường gặp là

E.coli, K.pneumoniae…[29].

Ngoài nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân bỏng có thể nhiễm nấm, hay gặp nhất

trên vết thương bỏng là Candida, trong đó Candida albicans phổ biến nhất

[1], [31].

1.5. CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG BỎNG

Hiện nay có các nhóm thuốc điều trị bỏng như sau:

- Nhóm dịch truyền nhằm bù chất điện giải, được dùng trong trường hợp

bỏng sâu, diện rộng.

- Nhóm thuốc kháng sinh, dùng khi nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn

tồn thân.

- Nhóm thuốc điều trị tại chỗ vết thương bỏng.

- Nhóm thuốc điều trị bỏng theo kinh nghiệm dân gian.

Tổn thương bỏng là nguồn gốc của mọi rối loạn bệnh lý trong bệnh

bỏng. Dùng thuốc điều trị tại chỗ vết thương bỏng nhằm hạn chế hoặc cắt bỏ

yếu tố bệnh lý này. Hơn nữa, việc sử dụng các hoá chất, kháng sinh kéo dài đã

xuất hiện hiện tượng kháng thuốc, gây khó khăn trong điều trị. Vì vậy dùng

thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng có một vị trí rất quan trọng. Nhóm thuốc điều

trị tại chỗ vết bỏng gồm các thuốc sau:

1.5.1. Thuốc làm rụng hoại tử



16



Giúp loại trừ nhanh mô hoại tử, hạn chế nhiễm khuẩn. Nhóm này gồm

các enzyme tiêu huỷ protein. Các enzyme có nguồn gốc từ động vật (như

pepsin, Chymotripsin), từ thực vật (như men paparin từ mủ quả đu đủ), từ vi

sinh vật (như streptokinase) [1], [8].

1.5.2. Thuốc kháng khuẩn, sát khuẩn

Yêu cầu của một thuốc kháng khuẩn sử dụng trong điều trị bỏng là phải

có tác dụng với các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết bỏng với tỷ lệ kháng thuốc

thấp, khơng hoặc ít gây hoại tử mơ lành và tế bào lành, khơng hoặc ít tác dụng

khơng mong muốn, có khả năng thấm sâu vào các mơ. Nhóm này gồm các thuốc

điển hình như: mỡ mudaxin, acid boric, bạc nitrat, kem Chitosan 2%...

Acid boric là acid yếu, chỉ được dùng cho trường họp bỏng nhiễm trực

khuẩn mủ xanh hoặc bỏng do vơi tơi nóng và diện tích bỏng nhỏ hơn 10 %

diện tích cơ thể. Bạc nitrat chỉ dùng với bỏng nhiễm trực khuẩn mủ xanh và

diện tích bỏng nhỏ hơn 10 % diện tích cơ thể.

Mỡ mudaxin là thuốc mỡ màu nâu đen được nấu từ lá của cây sến.

Mudaxin được nghiên cứu bào chế từ năm 1990-1995 (Lê Thế Trung, Nguyễn

Liêm, Trần Xuân Vận). Đây là thuốc chữa nhiễm khuẩn vết bỏng có hiệu quả

với S.aureus, P.aeruginosa và E.coli. Thuốc còn có tác dụng kích thích biểu

mơ hố ở bỏng nơng và tạo mơ hạt ở bỏng sâu, thuốc có tác dụng tốt với

bỏng vơi. Nhược điểm là gây đau cho bệnh nhân, làm đen vải trải và tạo thành

vảy mỏng gây trở ngại một phần cho chẩn đoán độ sâu bỏng [5].

Theo tác giả Vũ Thị Ngọc Thanh (2003), kem Chitosan 2% được chiết

xuất từ vỏ tơm có tác dụng điều trị tại chỗ vết thương bỏng nhiệt trên thỏ thực

nghiệm do có tác dụng ức chế vi khuẩn chủ yếu gây nhiễm khuẩn bỏng và

kích thích q trình tái tạo biểu mơ [8].

1.5.3. Thuốc kích thích tái tạo vết bỏng



17



Kích thích biểu mơ, tái tạo mơ hạt. Trong nhóm thuốc này có nhiều

loại thuốc như: các thuốc mỡ (dầu gan cá thu, dầu gấc có chứa các vitamin A,

D), thuốc mỡ chế từ rau má, thuốc kem nghệ [33].

1.5.4. Thuốc làm se khô, tạo màng che phủ

Thành phần của thuốc có tannin tác dụng làm đông dịch vết thương,

kết tủa protein, liên kết các tơ collagen tạo thành màng. Một số thuốc nam có

tác dụng làm se khô và tạo màng thuốc như cao đặc lá sim, cao lá tràm, chè

dây. Đặc biệt thuốc bỏng chế từ vỏ cây xoan trà (B76) là thuốc được nghiên

cứu và sử dụng nhiều ở nước ta. Thuốc có nhược điểm là gây đau, xót trong

15-30 phút sau phun thuốc và không dùng được với bỏng sâu, bỏng đã nhiễm

khuẩn hoặc ô nhiễm nặng, bỏng do kiềm.

Hiện nay, tại Việt Nam sulfadiazine bạc 1% đang được dùng khá phổ

biến. Nó là sự kết hợp của ion bạc với sulfadiazine, được sản xuất từ năm

1960 dưới dạng cream 1%, có phổ kháng khuẩn rộng với nhiều loại vi khuẩn

như S.aureus, E.coli, P.aeruginosa và nấm Candida. Thuốc có nhược điểm là

ít thấm sâu vào mơ hoại tử nên khó kiểm soát được nhiễm khuẩn ở vểt bỏng

sâu [2], hơn nữa do dùng phổ biến và kéo dài nên đã có thông báo về hiện

tượng nhờn thuốc của một số vi khuẩn với loại thuốc này [2]. Ở vết bỏng

thuốc có thể tách làm 2 pha, bạc và sulfadiazine phần bạc có thể tích luỹ ở

gan, thận, niêm mạc gây nhiễm độc.

1.6. TỔNG QUAN VỀ CH 1701

CH1701 là chế phẩm tổng hợp có thành phần gồm 25 g dưới dạng

Nano Sol- Gel. Thành phần dược chất gồm Curcumin: 55,3mg chiết xuất từ

nghệ vàng và Rutin: 16,8mg chiết xuất từ hoa hòe. Rutin và Curcumin trong

CH 1701 tồn tại dưới dạng sol-gel, cấu tạo hạt siêu nhỏ 5-6 nm, có thể tan

trong nước và trong dầu. Tá dược gồm Chitosan, Ethylalcohol, dầu khuynh

diệp, nước tinh khiết. CH 1701 có tác dụng:



18



* Bảo vệ da lành khỏi tác dụng phụ của tia xạ theo các cơ chế:

- Dọn sạch các gốc tự do hoặc oxi hóa

- Làm tăng hoạt động của các enzyme chống oxi hóa

- Giảm lipid peroxide – là ezym làm tổn thương một số hệ thống trao

đổi chất, đẩy nhanh q trình lão hóa tế bào.

- Tăng sửa chữa DNA và giảm tổn thương DNA

- kiểm soát chu kỳ tế bào

* Làm lành các tổn thương ngoài da: trợt loét, ban đỏ, sẩn ngứa… theo các cơ

chế sau:

- Chống viêm và thu dọn các gốc tự do

- Thúc đẩy quá trình tái tạo biểu mơ, ngăn ngừa suy giảm glutathione –

một tripeptid nội sinh có tác dụng chống oxi hóa và lão hóa rất mạnh.

- Giúp các tế bào sừng, nguyên bào sợi phục hồi sau tổn thương do oxi hóa

- Tăng sinh mạch máu mới tại các vết thương do tăng sản xuất TGF-β

* Chống viêm, giảm đau

1.6.1. Nguồn gốc, cấu tạo và vai trò của curcumin

1.6.1.1. Nguồn gốc, cấu tạo

Curcumin có nhiều trong nghệ vàng. Nghệ là cây thân thảo thuộc bộ

Zingiberales, họ Zingiberaceae, chi Curcuma, loài Curcumin longa, có nguồn

gốc ở vùng nhiệt đới Tamil Nadu, phía đông nam Ấn Độ. Trong Y học cổ

truyền, thân rễ cây nghệ được gọi là khương hoàng và rễ củ được gọi là uất

kim. Nghệ vàng (Curcuma longa L.; Zingiberaceae) gồm các thành phần

chính: chất màu (3,5 – 4%), curcumin tinh khiết (1,5 – 2%); trong đó có

curcumin I 60%, curcumin II 24%, curcumin III 14%), ngồi ra, còn

dihydrocurcumin [34], [35], [36], [37], [38], [39]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Tụ cầu vàng (S. aureus) : là nguyên nhân hàng đầu trong các tác nhân gây nhiễm khuẩn bỏng, tỉ lệ phân lập được tại vết bỏng dao động từ 25-70% [21], [26]. Chúng có nhiều độc tố và yếu tố độc lực giúp cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể và gây tác hại nghiê

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×