Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bỏng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như do nhiệt, hóa chất, điện hay bức xạ…; trong đó bỏng do nhiệt là loại hay gặp nhất (84-94%) [1].

Bỏng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như do nhiệt, hóa chất, điện hay bức xạ…; trong đó bỏng do nhiệt là loại hay gặp nhất (84-94%) [1].

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



1.2.1.1. Bỏng do nhiệt khơ

Bỏng do nhiệt khơ có thể nguyên nhân do lửa, tiếp xúc trực tiếp với kim

loại nóng, tia lửa điện. Nhiệt độ gây bỏng có thể từ vài trăm đến hàng nghìn độ.

Tổn thương bỏng do nhiệt khơ thường nặng và sâu, khó hồi phục [1].

1.2.1.2. Bỏng do nhiệt ướt

Bỏng do nhiệt ướt thì nhiệt độ gây bỏng thường không cao như bỏng do

nhiệt khô: bỏng do nước sơi (100 oC), thức ăn nóng sơi (50-100 oC), dầu mỡ

sôi (180 oC), hơi nước từ các nồi áp suất, nồi hấp… Tuy nhiệt độ không quá

cao nhưng nếu tác dụng kéo dài trên da cũng gây bỏng sâu.

Đối với trẻ nhỏ, bỏng do nhiệt ướt là chủ yếu (67%). Còn đối với người

lớn, bỏng do nhiệt khơ lại chiếm phần lớn (64,7%) [1], [12].

1.2.1.3. Bỏng do nhiệt phối hợp tác nhân khác

-



Bỏng do hoá chất: acid mạnh, kiềm mạnh…



-



Bỏng do bức xạ nhiệt: tia cực tím, tia laser…



1.2.2. Mức độ tổn thương bỏng

Mức độ tổn thương bỏng tùy thuộc vào nhiệt độ, thời gian tiếp xúc và

diện tích tiếp xúc với nhiệt.Nhiệt độ càng cao, diện tích tiếp xúc bỏng càng

rộng và thời gian tiếp xúc càng lâu thì tổn thương bỏng càng nặng.

1.2.2.1. Diện tích bỏng

Có rất nhiều phương pháp tính diện tích bỏng. Một số phương pháp hay

được sử dụng trên lâm sàng như:

* Phương pháp dùng con số 9 của Pulaski E.J., Tennison C.W. (1949)

và Wallace A. (1951) [1]:

- Đầu mặt cổ: 9% diện tích cơ thể

- Một chi trên: 9% diện tích cơ thể

- Phía trước thân (ngực, bụng): 18% (9x2) diện tích cơ thể

- Phía sau thân (lưng, mơng): 18% (9x2) diện tích cơ thể



10



- Một chi dưới: 18% (đùi: 9%, cẳng chân và bàn chân: 9%)

- Bộ phận sinh dục và tầng sinh môn: 1%

Phương pháp này đơn giản, dễ sử dụng nên được dùng phổ biến để đánh

giá diện tích bỏng trên lâm sàng. Tuy nhiên, tỉ lệ các phần cơ thể thay đổi theo

tuổi nên phương pháp này không thực sự chính xác khi áp dụng ở trẻ em.

* Phương pháp sử dụng gan bàn tay của bệnh nhân của Blokhin N.N. và

Glumov I.I. (1953) [1]:

Mỗi gan bàn tay tương ứng với 1% đến 1,25% diện tích cơ thể. Phương

pháp này đánh giá chính xác hơn diện tích bỏng, tuy nhiên khó áp dụng trên

thực tế lâm sàng.

1.2.2.2. Phân loại độ sâu bỏng

Tác giả Lê Thế Trung (1965) đã phân loại độ sâu của bỏng ra 5

mức.Cách phân loại này đã và đang được áp dụng ở nhiều cơ sở điều trị bỏng

ở nước ta [1].

Bảng 1.1. Phân loại độ sâu của bỏng

Độ I

Viêm cấp

đỏ da do

bỏng



Bỏng nông

Độ III (Bỏng chân bì)

Độ II

Nơng

Sâu

Tổn thương

Tổn thương

Bỏng

lớp nhú (thân

lớp lưới

biểu bì,

và nang lơng,

(phần sâu

lớp đáy

tuyến mồ hơi

của tuyến

còn

còn)

mồ hơi còn)



Bỏng sâu

Độ IV



Độ V



Bỏng

toàn bộ

các lớp

da



Bỏng da và

các lớp

dưới da

(cơ,

xương)



Tùy theo mức độ tổn thương bỏng: diện tích bỏng, độ sâu bỏng, vị trí bị

bỏng và trạng thái cơ thể (người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ có thai, bệnh kết

hợp, chấn thương kèm theo…) mà phản ứng tại chỗ và toàn thân khác nhau.

1.3. SINH LÝ BỆNH BỎNG

1.3.1. Ảnh hưởng lên toàn thân của bỏng



11



Bỏng trực tiếp gây tổn thương các tế bào và tổ chức, dẫn đến rối loạn

chức phận, các phản ứng toàn thân để tự bảo vệ và phục hồi.Bỏng diễn biến

qua nhiều thời kỳ.theo tác giả Lê Thế Trung bệnh bỏng thường được chia

thành 4 thời kỳ [1]:

* Thời kỳ sốc bỏng: xuất hiện 2-3 ngày sau khi bị bỏng, gồm các phản

ứng bệnh lý cấp. Đặc trưng là trạng thái sốc bỏng. Có thể gặp các biến chứng

cấp tính trong giai đoạn này như: suy thận cấp, sốc giảm thể tích…

* Thời kỳ nhiễm trùng, nhiễm độc: xuất hiện từ ngày thứ 4-5 đến ngày

thứ 15-20 sau khi bị bỏng do hấp thu các chất độc từ vết bỏng, do hoại tử tan

rã tổ chức, do nhiễm khuẩn tại chỗ. Thời kỳ này có tỉ lệ biến chứng và tử

vong cao nhất.

* Thời kỳ suy mòn: sau khi vượt qua thời kỳ 2, thời kỳ này biểu hiện các

rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng tồn cơ thể, tại vết bỏng có các biến đổi

của bệnh lý mơ hạt

* Thời kỳ hơì phục: vết bỏng liền sẹo, các chức năng dần được phục hồi.

Trên thực tế lâm sàng, các hội chứng bệnh lý thường chồng chéo, ảnh

hưởng lẫn nhau nên khơng có một thời kỳ nào diễn ra riêng rẽ và biểu hiện

thành hội chứng rõ rệt [13], [14].

1.3.2. Quá trình liền vết thương da

Quá trình liền vết thương bỏng là một quá trình sinh học phức tạp, gồm

ba giai đoạn chồng gối lên nhau là giai đoạn viêm cấp, giai đoạn tăng sinh sữa

chữa vết thương và giai đoạn hình thành sẹo [1], [15], [16], [17].

1.3.2.1. Giai đoạn viêm cấp

Đặc trưng của giai đoạn này là các hiện tượng viêm cấp, xuất tiết, viêm

nhiễm khuẩn có mủ, rụng hoại tử, hoạt hóa tiểu cầu và hệ thống đông máu.

Khi bị tác động bởi nhiệt, thành các vi mạch bị tổn thương, đồng thời mô tế

bào bị tổn thương tiết ra các chất gây giãn mạch như prostaglamdin, histamin,

leucotrien, gây thoát dịch qua thành vi mạch vào khoảng kẽ và hình thành



12



dịch rỉ viêm. Dịch này còn chứa các chất trung gian gây viêm, gây đau như

chất P, prostaglandin E. Tiểu cầu được kích hoạt hình thành lưới fibrin khơng

tan, đóng vai trò là khn cho nguyên bào sợi di chuyển vào vùng tổn thương.

Các tế bào tham gia vào quá trình viêm như bạch cầu đa nhân trung tính, làm

nhiệm vụ thực bào, dọn sạch các mơ hoại tử. Đại thực bào có chức năng thực

bào và điều hòa chức năng của các tế bào khác trong q trình liền vết

thương. Lympho bào có vai trò quan trọng trong q trình sửa chữa phục hồi,

do chúng tiết ra nhiều loại lymphokin điều hòa các bước cơ bản trong quá

trình liền vết thương.

1.3.2.2. Giai đoạn tăng sinh

Đặc trưng bởi sự tăng sinh mạch máu, hình thành mơ mới. Q trình

này diễn ra sau giai đoạn viêm cấp. Sự hình thành quai mao mạch từ các tế

bào nội mơ còn sót lại, cùng thời gian đó các chất nền ngoại bào được hình

thành. Chất nền này gồm 5 yếu tố chính: collagen, màng đáy, glycoprotein

cấu trúc, sợi đàn hồi và proteoglycan. Tỉ lệ tăng sinh các đại thực bào và các

nguyên bào sợi là sự phản ánh của sức đề kháng và khả năng tái tạo thuận lơi

của vết thương. Khối liên kết tân mạch với chất nền ngoại bào được gọi là mô

hạt. Mô hạt bản chất là tổ chức liên kết non và các mạch máu tân tạo. Mơ hạt

đẹp: nền sạch, màu hồng bóng, đỏ tươi, biểu mơ hóa từ mép. Mơ hạt xấu là

mơ hạt phù nề, xuất huyết, xơ hóa, hoại tử. Hiện tượng biểu mơ hóa từ các tế

bào biểu mơ của lớp biểu bì tăng sinh sẽ lan phủ, che kín diện tích mơ hạt và

vết bỏng hình thành sẹo. nếu mô hạt không được che phủ bởi lớp biểu mơ thì

việc tiến triển liền sẹo của vết thương sẽ không thuận lợi, kéo dài, mô hạt sẽ

già và trở thành một khối xơ chắc, các mạch máu giảm dần, các sợi collagen

xơ hóa.

1.3.2.3. Giai đoạn sửa chữa vết thương và hình thành sẹo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bỏng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như do nhiệt, hóa chất, điện hay bức xạ…; trong đó bỏng do nhiệt là loại hay gặp nhất (84-94%) [1].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×