Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Đau tức hay đau âm ỉ vùng hạ vị gặp trong 72,3% bệnh nhân, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu:

- Đau tức hay đau âm ỉ vùng hạ vị gặp trong 72,3% bệnh nhân, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ - 0trang

57

khơng có sự khác biệt về tỷ lệ thành cơng, thất bại giữa hai nhóm. Chúng tơi

cho rằng mức độ đau ít hay nhiều, còn phụ thuộc vào các yếu tố như cảm

nhận chủ quan của từng bệnh nhân, vị trí và mức độ tổn thương tại khối chửa.

Nên dấu hiệu đau có giá trị trong chẩn đốn sớm CNTC, nhưng chỉ là dấu

hiệu gợi ý trong tiên lượng điều trị bằng MTX. Theo Nguyễn Văn Học so

sánh sự thay đổi mức độ đau trước và sau tiêm thuốc, tăng hay giảm có giá trị

tiên lượng cho điều trị [21].

- Ra huyết bất thường đường âm đạo trước hoặc sau ngày kinh kiểu rong

huyết kéo dài máu thâm thường hết sau 7 đến 10 ngày điều trị, gặp trong

82,4% số bệnh nhân. Theo kết quả nghiên cứu của Vương Tiến Hoà ra huyết

bất thường là 92% [16], Nguyễn Thị Minh Nguyệt là 93,47% [23], Nguyễn

Thị Bích Thanh là 90,6% [26]. Như vậy, dấu hiệu ra huyết bất thường trong

nghiên cứu này có tỷ lệ này thấp hơn, do bệnh nhân điều trị CNTC nội khoa

bằng MTX thường được chẩn đoán sớm khi các triệu chứng lâm sàng chưa

đầy đủ.

- Không có sự khác biệt về kết quả điều trị giữa hai nhóm có rong huyết

và khơng có rong huyết với P > 0,05.

- Chậm kinh 302/425 trường hợp chiếm tỷ lệ 71,1% trong nghiên cứu

này, bệnh nhân chậm kinh lâu nhất là 35 ngày được đưa vào điều trị, kết quả

này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Học chậm kinh gặp trong

71,8% bệnh nhân [21].

- Có 123/42 bệnh nhân không chậm kinh chiếm tỷ lệ 28,9%, những

trường hợp này mặc dù chưa chậm kinh nhưng được vào điều trị với chẩn

đốn CNTC là vì ra huyết bất thường hoặc đau bụng kèm theo ra huyết bất

thường. Theo Vương Tiến Hoà những người ra huyết trước hoặc đúng ngày

dự kiến theo chu kỳ kinh, có nguy cơ bị CNTC cao gấp 10,45 lần so với



58

những người chỉ chậm kinh đơn thuần OR = 1,45 với p < 0,01 [17]. Khi vào

viện những bệnh nhân này cần được định lượng hCG, kết hợp siêu âm cho

chẩn đoán xác định.

- Khi so sánh kết quả điều trị của hai nhóm thì tỷ lệ thành cơng cao ở

nhóm khơng chậm kinh với tỷ lệ 92,7%, ở nhóm có chậm kinh điều trị thành

cơng với tỷ lệ 84,7% sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.

Như vậy dấu hiệu chậm kinh vừa có giá trị chẩn đốn vừa có giá trị tiên

lượng trong điều trị CNTC chưa vỡ bằng MTX.

4.2.2. Các dấu hiệu thực thể

- Thể tích tử cung khi khám lâm sàng được ghi nhận là bình thường

chiếm tỷ lệ 88,7%, thân tử cung to hơn bình thường chiếm tỷ lệ 12,3% trong

nghiên cứu này. So với nghiên cứu của Vương Tiến Hồ có 28% CNTC khi

khám lâm sàng kích thước tử cung to hơn bình thường [16], và của Cunninghan

F. Gary là 25% [40]. Tỷ lệ thể tích tử cung to hơn bình thường trong nghiên

cứu này thấp hơn, là vì bệnh nhân vào điều trị sớm hơn, khi khối chửa không

làm tổ trong buồng tử cung nên tử cung nhỏ hơn khi có thai bình thường, mặc

dù có sự đáp ứng của cơ tử cung với nội tiết của thai nghén nhưng tử cung to

lên không đáng kể.

- Khi so sánh kết quả điều trị, khơng có sự khác nhau về tỷ lệ thành cơng

của hai nhóm thể tích tử cung bình thường hay to hơn bình thường. Với kết

quả này thì sự đánh giá thể tích tử cung trên khám lâm sàng chỉ có ý nghĩa

tham khảo cho chẩn đốn, nhưng khơng giúp cho tiên lượng điều trị CNTC

theo phương pháp nội khoa.

- Phần phụ có khối nề khi khám lâm sàng có 154/425 bệnh nhân

chiếm tỷ lệ 36,3%. So với nghiên cứu của Phan Viết Tâm là 61,5% [25],



59

Nguyễn Thị Bích Thanh là 57,8% [26], tỷ lệ sờ thấy khối nề ở phần phụ

thấp hơn vì trong nghiên cứu này chỉ đánh giá trên những bệnh nhân được

chẩn đốn sớm, khối chửa còn nhỏ. Hơn nữa khám lâm sàng để xác định

tình trạng phần phụ còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của thầy thuốc, tình

trạng thành bụng của bệnh nhân.

- Tuy nhiên khi so sánh kết quả điều trị của hai nhóm, tỷ lệ thành cơng

của nhóm khám thấy khối ở phần phụ với tỷ lệ là 82,4%, thấp hơn nhóm

khơng sờ thấy khối ở phần phụ thành công với tỷ lệ 89,6%. Sự khác biệt về

kết quả điều trị của hai nhóm có ý nghĩa thống kê (P < 0,05), điều này cân

nhắc sự theo dõi chặt chẽ trong điều trị vì nhóm khám có khối nề cạnh tử

cung có nguy cơ thất bại cao hơn.

- Cùng đồ đau khi khám có 131/425 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 31,8%. Kết

quả này phù hợp với nhiên cứu của Nguyễn Thị Hòa CNTC có túi cùng đau

trong chẩn đoán sớm là 33,9% [14]. Cùng đồ đau khi khám là do máu rỉ ra từ

khối chửa đọng lại ở túi cùng, gây tăng cảm ứng phúc mạc vùng cùng đồ gây

đau khi có kích thích.

- Tỷ lệ điều trị thành cơng ở nhóm khơng đau cùng đồ khi khám là

89,4%, cao hơn nhóm cùng đồ đau điều trị thành công với tỷ lệ 81,7%. Sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Theo chúng tôi dấu hiệu đau

cùng đồ khi khám có giá trị cả trong chẩn đốn sớm, theo dõi và tiên lượng

điều trị CNTC chưa vỡ bằng MTX.

- Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy các dấu hiệu lâm sàng giúp cho



chẩn đoán sớm CNTC và lựa chọn bệnh nhân vào điều trị. Đặc biệt các dấu

hiệu: chậm kinh, khám có khối nề ở phần phụ, cùng đồ đau khi khám còn là

yếu tố để theo dõi và tiên lượng điều trị nội khoa.

- Từ kết quả nghiên cứu (bảng 3.6; bảng 3.8; bảng 3.9) chúng tơi phân

tích hồi quy logistic để nhằm tiên lượng trong điều trị CNTC chưa vỡ bằng



60

MTX, khi có ba dấu hiệu (chậm kinh, cùng đồ đau, phần phụ có khối khi

khám lâm sàng).



Bảng 4.2. Phân tích hồi quy tìm yếu tố nguy cơ thất bại trong điều trị

CNTC bằng MTX

Số

TT



Yếu tố nguy Hệ số hồi





quy B



Giá trị



Tỷ suất



xác suất P chênh OR



Khoảng tin cậy

95% của OR



1



Chậm kinh



0,812



0,036



2,253



1,045 - 4,814



2



Cùng đồ đau



0,468



0,041



1,626



1,061 - 2,943



0,042



1,832



3

4



Khám



phần



phụ có khối

Hệ số chặn



0,605



1,022 - 3,284



-2,957



Cơng thức xác suất tổng quát của phân tích hồi qui logistic được xây

dựng từ kết quả nghiên cứu nhằm dự báo nguy cơ thất bại của trong điều trị

CNTC chưa vỡ bằng MTX:

1

P (thất bại) = ------------------------------------------------------------------1 + exp [- (- 2,957 + 0,812 CK + 0,468 CĐ + 0,605PP)]

Xác định giá trị hàm số mũ cơ số e và biểu thức trên, ta có P(thất bại)=

29,9%

Như vậy:

+ Sau khi loại trừ ảnh hưởng của yếu tố cùng đồ đau và phần phụ có khối

khi khám, ta thấy bệnh nhân chậm kinh có nguy cơ điều trị thất bại gấp 2,253

lần so với bệnh nhân không chậm kinh (OR= 2,253; 95%CI: 1,054 - 4,814).

+ Sau khi loại trừ ảnh hưởng của chậm kinh và phần phụ có khối, ta thấy

bệnh nhân có cùng đồ đau khi khám có nguy cơ điều trị thất bại gấp 1,626



61

lần bệnh nhân khơng có cùng đồ đau khi khám (OR= 1262; 95%CI: 1,0612,943).

+ Sau khi loại trừ ảnh hưởng của chậm kinh và cùng đồ đau, ta thấy khi

bệnh nhân có khối ở phần phụ nguy cơ thất bại gấp 1,823 lần bệnh nhân

khơng có khối nề ở phần phụ khi khám (OR= 1,832; 95% CI: 1,022 - 3,284).

* Từ công thức xác suất tổng quát của phân tích hồi quy logistic cho

thấy: nếu một bệnh nhân có đủ ba dấu hiệu chậm kinh, cùng đồ đau và phần

phụ có khối khi khám thì khả năng thất bại trong điều trị CNTC chưa vỡ bằng

MTX là 29,9%.

Vậy nên khi lựa chọn điều trị nội khoa cho những bệnh nhân có biểu hiện

của ba triệu chứng nguy cơ đã nêu trên, cần có sự cân nhắc thật kỹ lưỡng và

được theo dõi sát tại bệnh phòng.

Các nghiên cứu trước đây theo dõi và tiên lượng điều trị chủ yếu dựa vào

các yếu tố cận lâm sàng, nhưng với kết quả của nghiên cứu này tiên lượng cho

điều trị nội khoa CNTC chưa vỡ bằng MTX có thể dựa vào các dấu hiệu lâm

sàng kết hợp với cận lâm sàng.

4.3. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.3.1. Kích thước khối chửa trên siêu âm

Siêu âm trong chẩn đốn sớm chửa ngồi tử cung: siêu âm là một phương

tiện khơng thể thiếu trong chẩn đốn và theo dõi điều trị CNTC. Độ chuẩn xác

của siêu âm còn tuỳ thuộc vào người sử dụng, loại đầu dò. Theo Trần Danh

Cường chẩn đốn sớm chửa ngồi tử cung bằng đầu dò ổ bụng độ chính xác

chỉ là 48,3%, nhưng khi kết hợp giữa siêu âm đầu dò âm đạo và định lượng

hCG thì độ chính xác là 97% [5].

Trong nghiên cứu này tất cả các bệnh nhân đều được siêu âm đầu dò âm

đạo để xác định khối âm vang cạnh tử cung (khối thai), cho kết quả 83,3% có



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Đau tức hay đau âm ỉ vùng hạ vị gặp trong 72,3% bệnh nhân, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×