Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sự thay đổi lớn về nồng độ hCG chủ yếu trong 2 tuần đầu của quá trình điều trị.

Sự thay đổi lớn về nồng độ hCG chủ yếu trong 2 tuần đầu của quá trình điều trị.

Tải bản đầy đủ - 0trang

51



Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ thành công theo số liều

Dùng 1 liều MTX chiếm tỷ lệ 70,5%. Dùng 2 liều chiếm tỷ lệ 21,6%.

Dùng 3 liều chiếm tỷ lệ 7,8% trong tổng số điều trị thành công.

3.4.2. Số liều methotrexat

Bảng 3.26. Số liều methotrexat

Số liều



n



Tỷ lệ (%)



1



290



68,2



2



97



22,8



3



38



8,9



Tổng số



425



100



Có 68,2% bệnh nhân điều trị một liều MTX, điều trị 2 liều chiếm tỷ lệ

22,8%, chỉ có 8,9% bệnh nhân tiêm 3 liều MTX.



52



Biểu đồ 3.7. Kết quả điều trị và số liều.

Nhóm dùng một liều điều trị thành cơng với tỷ lệ 90%, nhóm dùng hai liều

điều trị thành cơng 82,5%, tỷ lệ điều trị thành cơng ở nhóm dùng ba liều là 76,3%.

Tỷ lệ điều trị thành công và thất bại của các liều khác biệt có ý nghĩa

thống kê với P < 0,05.

3.4.3. Triệu chứng không mong muốn sau khi tiêm thuốc

Bảng 3.27. Tác dụng phụ của MTX

Triệu chứng

Đau đầu

Buồn nơn







Khơng



Tổng số



n



4



421



425



%



0,9



99,1



100%



n



5



420



425



%



1,2



98,8



100%



Trong số 425 bệnh nhân điều trị MTX chỉ có 4 trường hợp đau đầu nhẹ,

và 5 bệnh nhân buồn nơn (khơng có nơn), các triệu chứng này giảm dần và tự

hết sau 2 đến 3 ngày, không cần dùng thuốc.



53

3.4.4. Thời gian theo dõi điều trị

Bảng 3.28. Trung bình ngày theo dõi (thành cơng và thất bại)

Kết quả

Thành cơng

Thất bại



Trung bình ngày



Tổng ngày theo



theo dõi

19 ngày

18 ngày



dõi

7026 ngày

983 ngày



Số bệnh nhân

370

55



P= 0,14

Trong nhóm thành cơng, bệnh nhân theo dõi điều trị ngắn nhất là 11

ngày, bệnh nhân theo dõi điều trị lâu nhất là 75 ngày với 3 liều MTX.

Sự khác biệt giữa trung bình ngày theo dõi của hai nhóm khơng có ý

nghĩa thống kê.

Bảng 3.29. Trung bình ngày theo dõi theo số liều (Thành cơng)

Tổng ngày theo



Trung bình ngày



dõi



theo dõi



261



4173



16



2



80



1902



23,8



3



29



951



32,8



Tổng số



370



7026



Số liều



Số bệnh nhân



1



P < 0,01

Trung bình ngày theo dõi tăng tỷ lệ thuận với số liều tiêm.Sự khác biệt

này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.



Chương 4

BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1.1. Tỷ lệ điều trị CNTC chưa vỡ bằng MTX



54

Nghiên cứu này được tiến hành trên những bệnh nhân được chẩn

đoán là CNTC chưa vỡ và điều trị bảo tồn bằng MTX tại khoa phụ 1 Bệnh

viện Phụ Sản Trung Ương, trong năm 2009 tổng số CNTC là 1768 bệnh nhân

vào điều trị bao gồm: mổ nội soi, mổ mở, điều trị nội khoa đơn thuần và điều

trị nội khoa sau mổ nội soi bảo tồn. Trong đó điều trị bằng phương pháp phẫu

thuật nội soi có 1285 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 72,7%, mổ mở 58 bệnh nhân

chiếm tỷ lệ 3,3%, điều trị nội khoa 425 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 24%.

Trong nghiên cứu này, điều trị CNTC bằng phương pháp nội khoa

bảo tồn chiếm 24% trên tổng số điều trị CNTC là một tỷ lệ không nhỏ. So với

năm 2008 cũng tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương tỷ lệ điều trị bằng MTX

chiếm tỷ lệ 9,9% trên tổng số bệnh nhân vào điều trị CNTC [34].

4.1.2. Tuổi

Trong nghiên cứu này, những bệnh nhân được điều trị CNTC chưa vỡ

bằng MTX có độ tuổi từ 18 tuổi đến 47 tuổi. Trong đó nhóm 25 tuổi đến 29

tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (28,2%), tương tự với kết quả nghiên cứu của

Nguyễn văn Học [21] và Vũ Thanh Vân [33]. Đây là nhóm bệnh nhân đang

trong độ tuổi sinh đẻ, nên tỷ lệ CNTC cũng như nhu cầu điều trị bảo tồn VTC

cao hơn ở các độ tuổi khác.

Nhóm tuổi có tỷ lệ thấp trong nghiên cứu này là từ 40 đến 47 tuổi với tỷ

lệ 3,3% và 18 đến 19 tuổi với tỷ lệ 4,7%. Theo chúng tơi hai nhóm này hoặc

chưa muốn có thai, hoặc đã hết nhu cầu sinh con nên tỷ lệ có thai và CNTC

thấp hơn so với các độ tuổi khác.

Các nghiên cứu khác: Stovall và Ling nghiên cứu 68 bệnh nhân có độ

tuổi từ 18 đến 41 tuổi [71]. Elson J nghiên cứu 243 bệnh nhân từ 18 đến 44

tuổi [44], các tác giả này không giới hạn tuổi mà chỉ quan tâm tới tiêu chuẩn

điều trị nội khoa.



55

Theo kết quả này, tất cả các độ tuổi đều có nhu cầu điều trị CNTC

bằng MTX. Tuổi bệnh nhân không liên quan đến việc chỉ định và tiên

lượng cho điều trị CNTC chưa vỡ bằng MTX.

4.1.3. Địa dư

Trong số 425 bệnh nhân được điều trị CNTC chưa vỡ bằng MTX tại

khoa phụ 1 BVPSTƯ trong năm 2009, bệnh nhân có địa chỉ thuộc địa phận

Hà Nội chiếm tỷ lệ 50,1%, bệnh nhân thuộc các tỉnh khác chiếm tỷ lệ 49,9%.

Như vậy nhu cầu điều trị CNTC chưa vỡ bằng MTX là không nhỏ và

nằm rải rác ở khắp các tỉnh, nhưng do một số tuyến tỉnh chưa đáp ứng dịch vụ

này, nên mặc dù ở xa như Thanh hoá, Lào cai, Lạng sơn ... bệnh nhân cũng

phải đến BVPSTƯ để điều trị. Trong khi phương pháp điều trị này cần theo

dõi nhiều ngày và xen kẽ những lần theo dõi qua thăm khám lâm sàng cũng

như làm các thăm dò cận lâm sàng như siêu âm, xét nghiệm máu, định lượng

nồng độ hCG, bệnh nhân có thể được cho về nghỉ tại nhà, đó cũng là khó

khăn cho cả thầy thuốc và bệnh nhân trong quá trình theo dõi điều trị.

Vì vậy, việc triển khai áp dụng phương pháp điều trị CNTC chưa vỡ

bằng MTX cho tuyến tỉnh là rất cần thiết, để giúp cho cả thầy thuốc và bệnh

nhân có thêm lựa chọn phương pháp điều trị CNTC.

4.1.4. Tình trạng sinh đẻ, phẫu thuật

Trong số 425 bệnh nhân được nghiên cứu thì 37,7% bệnh nhân chưa có

con và 40,8% bệnh nhân mới có một con. Đây là những đối tượng còn nhu

cầu sinh con nên chiếm tỷ lệ cao với 78,5% và cần được ưu tiên chỉ định điều

trị nội khoa bảo tồn.

Tuy nhiên số bệnh nhân đã có 2 con chiếm tỷ lệ 20,5%, đã có 3 con

chiếm tỷ lệ 1,2% vào điều trị. Như vậy, có thể nói nhu cầu điều trị nội khoa

CNTC khơng chỉ là bảo tồn VTC vì mục tiêu sinh đẻ, mà còn là tránh được

phẫu thuật với những nguy cơ tai biến của nó, khơng ảnh hưởng đến thẩm mỹ



56

cũng là vấn đề rất được phái nữ quan tâm.

Có 30,1% bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật: mổ lấy thai chiếm tỷ lệ

14,4%, mổ CNTC chiếm tỷ lệ 13,6% trong đó có 9 bệnh nhân mổ 2 lần chiếm

tỷ lệ 2,1%. Điều trị nội khoa cho đối tượng này có lợi ích là tránh được nguy

cơ dính do lần mổ trước, tránh được tâm lý nặng nề cho bệnh nhân khi phải

mổ nhiều lần. Đặc biệt những bệnh nhân đã mổ CNTC mà còn nguyện vọng

sinh con thì việc điều trị nội khoa bảo tồn VTC là rất cần thiết.

4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các dấu hiệu lâm sàng luôn là yếu tố đưa bệnh nhân đến viện sớm hay muộn,

điều này càng quan trọng trong chẩn đoán sớm CNTC với việc chỉ định điều trị

nội khoa bảo tồn bằng MTX. Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy:



4.2.1. Các dấu hiệu cơ năng

- Đau tức hay đau âm ỉ vùng hạ vị gặp trong 72,3% bệnh nhân, kết quả

này phù hợp với các nghiên cứu:

Bảng 4.1. Kết quả nghiên cứu của một số tác

giả khác

Tác giả



Năm



Đau



Vương Tiến Hoà [16]



2002



73,30%



Nguyễn Văn Hà [10]



2004



72,00%



Nguyễn Thị Bích Thanh [26]



2006



73,96%



Hà Minh Tuấn



2009



72,3%



- Dấu hiệu đau thường hết sau một tuần điều trị ở nhóm thành cơng,

nhưng khi so sánh kết quả điều trị của hai nhóm có đau và khơng đau, thì



57

khơng có sự khác biệt về tỷ lệ thành cơng, thất bại giữa hai nhóm. Chúng tơi

cho rằng mức độ đau ít hay nhiều, còn phụ thuộc vào các yếu tố như cảm

nhận chủ quan của từng bệnh nhân, vị trí và mức độ tổn thương tại khối chửa.

Nên dấu hiệu đau có giá trị trong chẩn đốn sớm CNTC, nhưng chỉ là dấu

hiệu gợi ý trong tiên lượng điều trị bằng MTX. Theo Nguyễn Văn Học so

sánh sự thay đổi mức độ đau trước và sau tiêm thuốc, tăng hay giảm có giá trị

tiên lượng cho điều trị [21].

- Ra huyết bất thường đường âm đạo trước hoặc sau ngày kinh kiểu rong

huyết kéo dài máu thâm thường hết sau 7 đến 10 ngày điều trị, gặp trong

82,4% số bệnh nhân. Theo kết quả nghiên cứu của Vương Tiến Hoà ra huyết

bất thường là 92% [16], Nguyễn Thị Minh Nguyệt là 93,47% [23], Nguyễn

Thị Bích Thanh là 90,6% [26]. Như vậy, dấu hiệu ra huyết bất thường trong

nghiên cứu này có tỷ lệ này thấp hơn, do bệnh nhân điều trị CNTC nội khoa

bằng MTX thường được chẩn đoán sớm khi các triệu chứng lâm sàng chưa

đầy đủ.

- Khơng có sự khác biệt về kết quả điều trị giữa hai nhóm có rong huyết

và khơng có rong huyết với P > 0,05.

- Chậm kinh 302/425 trường hợp chiếm tỷ lệ 71,1% trong nghiên cứu

này, bệnh nhân chậm kinh lâu nhất là 35 ngày được đưa vào điều trị, kết quả

này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Học chậm kinh gặp trong

71,8% bệnh nhân [21].

- Có 123/42 bệnh nhân không chậm kinh chiếm tỷ lệ 28,9%, những

trường hợp này mặc dù chưa chậm kinh nhưng được vào điều trị với chẩn

đốn CNTC là vì ra huyết bất thường hoặc đau bụng kèm theo ra huyết bất

thường. Theo Vương Tiến Hoà những người ra huyết trước hoặc đúng ngày

dự kiến theo chu kỳ kinh, có nguy cơ bị CNTC cao gấp 10,45 lần so với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sự thay đổi lớn về nồng độ hCG chủ yếu trong 2 tuần đầu của quá trình điều trị.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×