Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều trị tia xạ và kết hợp với hóa chất.

Điều trị tia xạ và kết hợp với hóa chất.

Tải bản đầy đủ - 0trang

30

Hàng rào giải phẫu: sụn, màng sụn dây chằng.

Sự phân bố mạch máu và mạch bạch huyết của vùng.

Thượng thanh mơn

Thượng thanh mơn có nguồn gốc phơi thai học khác với phần còn lại

của thanh quản, sự dẫn lưu bạch huyết cũng tách biệt. Phần lớn khối u thường

xuất phát từ sụn nắp và từ đó lan tới nẹp phễu thanh thiệt, băng thanh thất,

buồng thanh thất.

Thanh môn

- Các khối u bờ tự do của dây thanh thường lan theo các hướng sau: Ra phía

trước có thể thâm nhiễm sâu vào mép trước để vào sụn giáp (T4), nhưng đa số

các trường hợp u chỉ lướt qua mép trước mà sang bên đối diện (T1b). Ra phía

sau để xâm lấn vào mấu thanh. Lan sang bên vào thanh thất Morgagni. Xuống

hạ thanh môn, nhưng chỉ ở bề mặt.

- U vùng mép trước thường nhanh chóng xuất ngoại ra ngồi thanh quản qua

màng giáp nhẫn hoặc ra hạch trước thanh quản.

Hạ thanh môn

Khối u xuất phát từ hạ thanh môn rất hiếm, chúng thường lan tràn

xuống dưới tới khí quản hoặc ra trước qua màng nhẫn giáp vào vùng cổ.

Nguy cơ lan tràn theo đường bạch huyết thấp hơn tầng thượng thanh môn

nhưng cao hơn tầng thanh môn.

1.2. Sinh thiết tức thì

1.2.1. Định nghĩa

Sinh thiết tức thì (Frozen section) hay còn gọi là cắt lạnh, là phương

pháp xét nghiệm mô bệnh học nhanh, phân tích mẫu bệnh phẩm dưới kính

hiển vi. Nó thường được sử dụng trong phẫu thuật ung thư [30].

1.2.2. Lịch sử

Lịch sử của phương pháp cắt lạnh gắn liền với sự phát triển của bệnh

học lâm sàng. William Halsted, trưởng khoa ngoại của bệnh viện Johns



31

Hopkins mới đã lần đầu tiên yêu cầu cắt lạnh trong khi phẫu thuật và điều này

được thực hiện bởi chuyên gia bệnh học William Welch năm 1891 [31].

Welch đã nghiên cứu bệnh học rộng rãi ở châu Âu và đã thành lập được

phòng xét nghiệm bệnh học đầu tiên ở bệnh viện trung tâm Bellevue, New

York, trước khi trở thành thành viên mới của bệnh viện Johns Hopkins.

Mặc dù ngoài phương pháp của Welch, một vài phương pháp cắt lạnh

khác cũng được mô tả ở châu Âu nhưng mọi người đều thừa nhận rằng

phương pháp cắt lạnh chuẩn ngày nay được Louis Wilson công bố lần đầu

tiên trong tờ JAMA năm 1905 [32]. Wilson đã sử dụng dung dịch Dextrin bao

phủ mô và cắt vi phẫu bằng carbon dioxid lạnh. Bằng việc sử dụng Xanh

methylene và đọc các lát cắt mà không gắn cố định chúng nên kỹ thuật này có

thể thực hiện trong vài phút, ngắn hơn nhiều so với khoảng 1 giờ của phương

pháp Cullen. Phương pháp này rất nhanh chóng trở thành thường quy tại

Mayo clinic và được lựa chọn bởi nhiều trung tâm lâm sàng khác. Hầu hết các

trung tâm ngày nay đều sử dụng cố định nhanh trước khi nhuộm bằng

Hematoxylin và Eosin (nhuộm HE) cho phép cố định lâu dài, nhưng kỹ thuật

chủ yếu thì hầu như không thay đổi [33].

Một người đề xướng mạnh mẽ STTT là Joseph Bloodgood, một phẫu

thuật viên của bệnh viện Johns Hopkins. Trước những năm 1920, ơng còn

nghi ngờ STTT và cho rằng các phẫu thuật viên có kinh nghiệm có thể phát

hiện trạng thái của khối u chỉ bằng mắt thường. Nhưng từ năm 1927,

Bloodgood bắt đầu chiến dịch vận động cho STTT như là 1 phương pháp

chuẩn của y học [34]. Năm 1929, trong một bài luận, Bloodgood cho rằng sự

phát triển của thời đại đòi hỏi ung thư phải được chẩn đoán dựa trên STTT và

sự cần thiết phải đào tạo các nhà bệnh học đặc biệt cho phương pháp chẩn

đốn nhanh thơng qua kính hiển vi này.



32

1.2.3. Nguyên tắc

Khi mẫu mô được làm lạnh, nước ở trong mơ chuyển thành đá và đóng

vai trò như chất trung gian giữ hình dạng (khung) của mơ, vì thế mơ trở nên

cứng và có thể cắt mỏng được.

1.2.4. Chỉ định

Một số chỉ định chính của STTT [35],[36]:

- Cung cấp chẩn đoán nhanh về bản chất của khối u để phẫu thuật viên

có thể quyết định ngay trong q trình phẫu thuật.

- Đánh giá vùng rìa khối u để tiến tới diện cắt âm tính.

1.2.5. Quy trình kĩ thuật STTT

Bệnh phẩm sau khi lấy khỏi cơ thể được đóng gói tươi nguyên mẫu

không cố định bằng các dung dịch giống giải phẫu bệnh sau mổ như bowin,

formol…Mô bệnh này sẽ được đưa vào máy đông lạnh ở nhiệt độ -30 oC tới

-20oC. Sau đó được cắt thành các lát mỏng từ 5 - 10µm, đưa lên các lam kính và

tiến hành nhuộm (thường là H.E). Sau khi nhuộm xong, lam kính chứa các lát cắt

mơ bệnh sẽ được quan sát dưới kính hiển vi để đánh giá mơ bệnh học [37].

Thời gian trung bình từ khi nhận được bệnh phẩm cho đến khi có kết

quả thay đổi tùy theo những trung tâm khác nhau, nhưng theo nghiên cứu của

Jaafar khoảng 20 phút [37].



33

1.2.6. Kết quả

Sinh thiết tức thì trả kết quả tùy thuộc vào yêu cầu của phẫu thuật viên.

Trong phẫu thuật UTTQ thường trả về dưới dạng 3 kết quả sau:

- Có tế bào u hay dương tính.

- Khơng có tế bào u hay âm tính.

- Tổn thương nghi ngờ.

1.2.7. Đánh giá hiệu quả của sinh thiết tức thì

Các mảnh cắt bằng phương pháp cắt lạnh này có giá trị thấp hơn so với

xét nghiệm mô bệnh học thường quy. Trong nhiều trường hợp kết quả có thể

giống nhau nhưng xét nghiệm mô bệnh học vẫn được tin tưởng trong nhiều

trường hợp vì khả năng chẩn đốn chính xác của nó.

Các nhà bệnh học gọi STTT là q trình hội chẩn trong mổ, nó khơng

chỉ bao gồm cắt lạnh mà còn đánh giá tổng thể về mẫu bệnh phẩm, kiểm tra

mô học của bệnh phẩm và thu thập thông tin bệnh phẩm cho một số nghiên

cứu đặc biệt. Các nhà mô bệnh học thường trả kết quả là lành tính hay ác tính

và thơng báo cho các bác sĩ phẫu thuật qua mạng điện thoại.

Một số hạn chế của phương pháp STTT:

- Thiết bị đắt tiền: không phải trung tâm Giải Phẫu Bệnh nào cũng có thể

triển khai được.

- Mẫu bệnh phẩm tươi phải được vận chuyển nhanh đến trung tâm Giải

Phẫu Bệnh.

- Vì yêu cầu thời gian chẩn đoán nhanh nên việc đọc và phân loại cụ thể

MBH còn nhiều hạn chế.



34

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.1. Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung

Ương năm 2016 - 2018. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm 2 nhóm:

Nhóm nghiên cứu hồi cứu: gồm các bệnh nhân từ tháng 1/2016

đến tháng 8/2017.

Nhóm nghiên cứu tiến cứu: gồm các bệnh nhân từ tháng 9/2017

đến tháng 8/2018.

Tất cả bệnh nhân đều được thống nhất về tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu

chuẩn loại trừ như sau:

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng, nội soi, chụp CLVT và sinh thiết

khối u làm xét nghiệm MBH.

- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là UTTQ biểu mô vảy bằng MBH.

- Bệnh nhân được phẫu thuật và có kết quả sinh thiết tức thì vùng rìa của khối

u.

- Có hồ sơ ghi chép đầy đủ.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân khơng có kết quả STTT vùng rìa khối u.

Hồ sơ bệnh án không đầy đủ.

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1. Địa điểm nghiên cứu

Tại khoa Ung bướu (B1) - Bệnh viên Tai Mũi Họng Trung Ương

2.2.2. Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 1/2016 đến tháng 8/2018.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều trị tia xạ và kết hợp với hóa chất.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×