Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhận xét: Ở trẻ nhiễm toan ống thận, lý do vào viện chủ yếu là cậm tăng cân và nôn. Tuy nhiên, ở nhiễm toan ống thận Typ 2, yếu chi là một triệu chứng cũng khá phổ biến với 28,6% số trẻ mắc phải, trong khi lý do này ở typ 1 lại không chiếm tỷ lệ cao (6,9%

Nhận xét: Ở trẻ nhiễm toan ống thận, lý do vào viện chủ yếu là cậm tăng cân và nôn. Tuy nhiên, ở nhiễm toan ống thận Typ 2, yếu chi là một triệu chứng cũng khá phổ biến với 28,6% số trẻ mắc phải, trong khi lý do này ở typ 1 lại không chiếm tỷ lệ cao (6,9%

Tải bản đầy đủ - 0trang

37



Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng 100% trẻ bị nhiễm toan

ống thận đều có dấu hiệu lâm sàng là chậm tăng cân.



38



Bảng 3.8. Triệu chứng lâm sàng theo typ

Triệu chứng



Typ 1



Typ 2



n



%



n



%



Đái nhiều



7



24,1



2



28,6



Nôn



6



20,7



3



42,9



Uống nhiều



5



17,2



1



14,3



Ỉa lỏng kéo dài



4



13,8



1



14,3



Tăng cân chậm



29



100,0



7



100,0



Thở nhanh



3



10,3



0



0,0



Yếu chi



2



6,9



2



28,6



Nhận xét: Tăng cân chậm là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất ở trẻ nhiễm

toan ống thận không kể typ. Các triệu chứng nôn, đái nhiều, uống nhiều và ỉa

lỏng cũng gặp nhiều ở cả hai Typ. Tuy nhiên, tỷ lệ có nơn và yếu chi cao hơn

đáng kể ở bệnh nhi nhiễm toan ống thận Typ 2 so với typ 1 (42,9%> 20,7% và

28,6%>6,9%).



39



3.3. Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân toan ống thận

3.3.1. Khí máu

Bảng 3.9. Phân bố các chỉ số khí máu bệnh nhiễm toan ống thận

Chỉ số sinh hóa



n



Giá trị trung bình



pH



36



7,23 ± 0,11



HCO3-



36



12,5 ± 5,0



Be



36



-14,6 ± 6,1



Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy tất cả các trường hợp mắc bệnh

nhiễm toan ống thận dù typ 1 hay typ 2 thì đều có nồng độ HCO3- giảm rất sâu:

12,8 ± 5,0

Bảng 3.10. Phân bố các chỉ số khí máu bệnh nhiễm toan ống thận theo typ

Chỉ số sinh hóa



TypI



TypII



p



pH



7,22 ± 0,11



7,28 ± 0,15



> 0,05



HCO3-



12,0 ± 4,5



15,0 ± 7,9



> 0,05



Be



- 15,5 ± 5,6



-12,5 ± 9,3



> 0,05



Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy nồng độ HCO3- ở typ I giảm

nhiều hơn ở typ II nhưng khơng có ý nghĩa thống kê.



40



3.3.2. Điện giải đồ

Bảng 3.11. Điện giải đồ máu bệnh nhiễm toan ống thận

Chỉ số điện giải đồ



n



Giá trị trung bình



Na



36



136 ± 7



Kali máu



36



2,9 ± 0,5



Clo máu



36



112 ± 9



Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy tất cả các trường hợp mắc

bệnh nhiễm toan ống thận dù typ I hay typ II thì đều có K+ giảm nhiều 2,9 ±

0,5 mmol/l.

Bảng 3.12. Điện giải đồ máu bệnh nhiễm toan ống thận theo typ

Chỉ số điện giải đồ



Typ I



Typ II



p



Na



136 ± 7



137 ± 9



> 0,05



Kali máu



2,8 ± 0,8



3,2 ± 1,3



> 0,05



Clo máu



112 ± 9



109 ± 10



> 0,05



Nhận xét: Các chỉ số điện giải đồ như Na, Kali máu cao hơn ở bệnh nhi nhiễm

toan ống thận Typ II so với Typ I, ngược lại, nồng độ Clo máu lại cao hơn ở

nhóm Typ I so với Typ II. Mặc dù vậy, những sự khác biệt khơng có ý nghĩa

thống kê với p>0,05.



41



3.3.3. Đặc điểm về siêu âm thận



Biểu đồ 3.2. Kết quả siêu âm thận

Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng tỷ lệ gặp vôi hóa các

tháp thận trên siêu âm tương đối nhiều chiếm trên 50% tỷ lệ mắc bệnh

nhiễm toan ống thận.

Bảng 3.13. Kết quả siêu âm theo typ

Kết quả



Typ 1



Typ 2



n



%



n



%



Vơi hóa tháp thận



16



55,2



0



0,0



Khơng vơi hóa



13



44,8



7



100,0



29



100,0



7



100,0



siêu âm thận



Tổng



p



< 0,05



Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng tỷ lệ gặp vôi hóa các

tháp thận trên siêu âm gặp hồn tồn ở bệnh nhân nhiễm toan ống thận typ

I. trong typ 2 chỉ có 55,7% số trường hợp có vơi hóa tháp thận. Khác biệt

về tình trạng vơi hóa giữa 2 Typ là có ý nghĩa thống kê (p<0,05)



42



3.4. Cân nặng trước và sau điều trị

3.4.1. Cân nặng trước điều trị

Bảng 3.14a. Cân nặng trước khi điều trị của bệnh nhân nhiễm toan ống thận

Cân nặng (CN)



n



Tỉ lệ %



CN < -3SD



35



97,2



CN < -2SD



1



2,8



-2SD ≤ CN ≤ 2SD



0



0



CN: trẻ được cân trực tiếp sau đó so sánh với cân nặng chuẩn theo tuổi và

giới (hằng số quần thể tham khảo của WHO)

Nhận xét: 100% số bệnh nhân có cân nặng thấp hơn bình thường, cụ thể có

97,2% số trẻ có cân nặng dưới mức -3SD và 2,8% còn lại dưới mức -2SD.

3.4.2. Cân nặng sau 1 năm điều trị

Bảng 3.14b. Đánh giá về cân nặng bệnh nhân nhiễm toan ống thận

sau 1 năm điều trị

Cân nặng (CN*)



n



Tỉ lệ %



CN < -3SD



18



50



CN < -2SD



15



41,7



-2SD ≤ CN ≤ 2SD



3



8,3



Nhận xét: Sau 1 năm điều trị, tỷ lệ có cân nặng bình thường tăng lên 8,3%. Số

trẻ có cân nặng dưới ngưỡng -3SD chỉ còn 50%.



3.5. Chiều cao trước và sau 1 năm điều trị

3.5.1. Chiều cao trước điều trị



43



Bảng 3.15a. Chiều cao trước khi điều trị của bệnh nhân nhiễm toan ống thận

Chiều cao (CC)



n



Tỉ lệ %



CC < -3SD



28



77,7



CC < -2SD



6



16,7



-2SD ≤ CC ≤ 2SD



2



5,6



CC: trẻ được đo chiều cao đo trực tiếp sau đó so sánh với chiều cao chuẩn

theo tuổi và giới (hằng số quần thể tham khảo của WHO)

Nhận xét: Tỷ lệ trẻ trước điều trị có chiều cao dưới -3SD là 77,7%; Có 16,7%

có chiều cao dưới -2SD. Chỉ 5,6% số trường hợp có chiều cao trong giới hạn

bình thường.

3.5.2. Chiều cao sau 1 năm điều trị

Bảng 3.15b. Đánh giá về chiều cao bệnh nhân nhiễm toan ống thận sau 1 năm

điều trị

Chiều cao (CC*)



n



Tỉ lệ %



CC < -3SD



21



58,3



CC < -2SD



12



33,3



-2SD ≤ CC ≤ 2SD



3



8,4



Nhận xét: Chiều cao sau 1 năm điều trị có sự cải thiện với 8,4% số trẻ có

chiều cao ở mức trung bình, số trẻ có chiều cao dưới mức -3SD chỉ còn

58,3%.

3.6. So sánh tác động điều trị giữa 2 type

3.6.1. So sánh tác động điều trị lên chiều cao giữa 2 type

Bảng 3.16a. Đánh giá về chiều cao bệnh nhân nhiễm toan ống thận typ 1

và typ2 sau 1 năm điều trị



44



Typ



n



Trung bình



Tăng chiều



typ1



29



8.9 ± 5.4



cao sau 1 năm



typ2



7



8.7 ± 2.1



p

>0.05



Nhận xét: Tăng chiều cao sau 1 năm điều trị của 2 typ khác nhau nhưng

khơng có ý nghĩ thống kê.

3.6.2. So sánh tác động điều trị lên cân nặng giữa 2 type

Bảng 3.16b. Đánh giá về cân nặng của bệnh nhân nhiễm toan ống thận

typ1 và typ 2 sau 1 năm điều trị



Tăng cân

nặng sau 1

năm.



Giá trị



typ



n



typ1



29



2.6 ± 1.9



typ2



7



4.1 ± 3.6



trung bình



p



> 0.05



Nhận xét: Tăng cân nặng sau 1 năm điều trị của 2 typ khác nhau nhưng khơng

có ý nghĩ thống kê.



45



3.7. So sánh tác động điều trị giữa 2 nhóm điều trị

thường xun và nhóm điều trị khơng thường xun

3.7.1. Tác động điều trị lên chiều cao giữa 2 nhóm điều trị thường xun

và nhóm điều trị khơng thường xun

Bảng 3.17a. Bảng so sánh về tăng chiều cao nhóm được uống thuốc thường

xun và nhóm khơng thường xun sau 1 năm điều trị.

Uống thuốc

Tăng chiều

cao



Khơng thường

xun

Thường xun



n



Giá trị trung bình



12



6.3 ± 4.8



24



9.9 ±4.7



p<0.05



Nhận xét: Trong nghiên cứu thấy nhóm được dùng thuốc thường xuyên có

chiều cao tăng hơn so với nhóm dùng thuốc khơng thường xun, sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê với p< 0,05

3.7.2. So sánh tác động điều trị lên cân nặng giữa 2 nhóm uống thuốc

khơng đều và uống thuốc đều

Bảng 3.17b. Bảng so sánh về tăng chiều cao nhóm được uống thuốc thường

xun và nhóm khơng thường xuyên sau 1 năm điều trị.

Uống thuốc

Tăng cân nặng

sau 1 năm



Khơng thường

xun

Thường xun



n



Giá trị

trung bình



12



1.6 ± 1.4



24



3.5 ± 2.6



p< 0.05



Nhận xét: Nhóm khơng được điều trị uống thuốc thường xun thì tăng cân

kém hơn so với nhóm được điều trị uống thuốc thường xuyên có ý nghĩa

thống kê.



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN



46



Nghiên cứu thực hiện trên 36 trẻ được chẩn đoán nhiễm toan ống thận

tại bệnh viện Nhi Trung Ương trong 5 năm, từ tháng 7/2012 tới tháng 6/2017.

Bệnh nhi được lựa chọn vào nghiên cứu nghiêm ngặt, phải đáp ứng đủ các

tiêu chuẩn có chẩn đốn nhiễm toan ống thận, nhiễm toan chuyển hóa có

pH<7,35; HCO3- <22; Clo máu tăng, khoảng trống anion máu bình thường 816 mmol/l. Những bệnh nhân khơng có đủ thơng tin hoặc từ bỏ điều trị được

loại khỏi nghiên cứu.

4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Địa dư

Bảng 3.1 cho thấy, trẻ vào điều trị nội trú tại khoa thận – lọc máu tại

bệnh viện nhi Trung ương, tỉ lệ này cho thấy bệnh gặp ở tất cả các vùng

miền là tương đương và không thấy sự khác biệt. Gặp ở thành phố nhiều

hơn ( Hà Nội chiếm 23%) ở đây chúng ta đã biết Hà Nội bao gồm cả tỉnh

Hà Tây và phải chăng do điều kiện dân chí và kinh tế của người dân thành

phố cao hơn nên bệnh được phát hiện sớm hơn và có điều kiện tuân thủ chế

độ điều trị hơn.

4.1.2. Tuổi

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhi mắc nhiễm toan ống thận trong

nghiên cứu này chủ yếu là nhóm trẻ 1-5 tuổi với 52,8%. Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi

trong nghiên cứu chiếm hơn 1/3 số đối tượng với 36,0%. Chỉ 4/36 trẻ chiếm

11,2% số đối tượng nghiên cứu nằm trong nhóm 5-10 tuổi. Trong số những

trẻ em tham gia điều tra, trẻ nhỏ nhất mới 2 tháng tuổi và lớn nhất đạt 6 tuổi.

Những biểu hiện lâm sàng ban đầu đã xuất hiện trước vài tháng tới vài năm



47



khi trẻ được chẩn đoán xác định là nhiễm toan ống thận. Kết quả này cũng

tương tự với một nghiên cứu của Santos F và Chan JC được báo cáo từ năm

1986 trên 24 trẻ trong 7 năm, kết quả cho thấy tuổi trung bình của trẻ khi chẩn

đốn là 8 tháng . Một nghiên cứu khác thực hiện tại Ấn độ cho thấy độ tuổi

trung vị của đối tượng nghiên cứu là 6 tuổi với trẻ nhỏ nhất là 1,5 tuổi .

Những số liệu này cho thấy, nhiễm toan ống thận ở trẻ em có thể xuất hiện từ

rất sớm, và được chẩn đốn từ khi trẻ còn khá nhỏ.

4.1.3. Giới

Trong nghiên cứu này, có sự khơng cân đối về giới tính của trẻ em mắc

nhiễm toan ống thận. Cụ thể trẻ trai với 23/36 trẻ, chiếm 63,9% còn lại trẻ gái là

13/36 trẻ, chiếm 36,1% là nữ giới. Kết quả này tương tự với một nghiên cứu của

Bajpai và cộng sự trong nghiên cứu tìm hiểu biến chứng ở nhiễm toan ống thận trẻ

em, kết quả nghiên cứu trên 18 bệnh nhi có 11 là trẻ nam và chỉ 7/18 bệnh nhân là

nữ . Ngược lại, một nghiên cứu phân tích biểu hiện lâm sàng của bệnh lý nhiễm

toan ống thận ở trẻ em thực hiện trong 7 năm tìm thấy 24 hồ sơ bệnh án thỏa mãn

với 14/24 trẻ là bé gái và 10/24 trẻ trai, rõ ràng, tỷ lệ mắc bệnh trong nghiên cứu

này ở trẻ gái cao hơn . Ngồi ra, chúng tơi chưa tìm thấy báo cáo nào ghi nhận về

đặc điểm giới tính trong nhiễm toan ống thận. Những kết quả này có thể giải thích

do ngẫu nhiên và có thể khơng thực sự có sự khác biệt về nguy cơ mắc bệnh ở

nam và nữ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhận xét: Ở trẻ nhiễm toan ống thận, lý do vào viện chủ yếu là cậm tăng cân và nôn. Tuy nhiên, ở nhiễm toan ống thận Typ 2, yếu chi là một triệu chứng cũng khá phổ biến với 28,6% số trẻ mắc phải, trong khi lý do này ở typ 1 lại không chiếm tỷ lệ cao (6,9%

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×