Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
thường xuyên và nhóm điều trị không thường xuyên

thường xuyên và nhóm điều trị không thường xuyên

Tải bản đầy đủ - 0trang

46



Nghiên cứu thực hiện trên 36 trẻ được chẩn đoán nhiễm toan ống thận

tại bệnh viện Nhi Trung Ương trong 5 năm, từ tháng 7/2012 tới tháng 6/2017.

Bệnh nhi được lựa chọn vào nghiên cứu nghiêm ngặt, phải đáp ứng đủ các

tiêu chuẩn có chẩn đốn nhiễm toan ống thận, nhiễm toan chuyển hóa có

pH<7,35; HCO3- <22; Clo máu tăng, khoảng trống anion máu bình thường 816 mmol/l. Những bệnh nhân khơng có đủ thơng tin hoặc từ bỏ điều trị được

loại khỏi nghiên cứu.

4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Địa dư

Bảng 3.1 cho thấy, trẻ vào điều trị nội trú tại khoa thận – lọc máu tại

bệnh viện nhi Trung ương, tỉ lệ này cho thấy bệnh gặp ở tất cả các vùng

miền là tương đương và không thấy sự khác biệt. Gặp ở thành phố nhiều

hơn ( Hà Nội chiếm 23%) ở đây chúng ta đã biết Hà Nội bao gồm cả tỉnh

Hà Tây và phải chăng do điều kiện dân chí và kinh tế của người dân thành

phố cao hơn nên bệnh được phát hiện sớm hơn và có điều kiện tuân thủ chế

độ điều trị hơn.

4.1.2. Tuổi

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhi mắc nhiễm toan ống thận trong

nghiên cứu này chủ yếu là nhóm trẻ 1-5 tuổi với 52,8%. Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi

trong nghiên cứu chiếm hơn 1/3 số đối tượng với 36,0%. Chỉ 4/36 trẻ chiếm

11,2% số đối tượng nghiên cứu nằm trong nhóm 5-10 tuổi. Trong số những

trẻ em tham gia điều tra, trẻ nhỏ nhất mới 2 tháng tuổi và lớn nhất đạt 6 tuổi.

Những biểu hiện lâm sàng ban đầu đã xuất hiện trước vài tháng tới vài năm



47



khi trẻ được chẩn đoán xác định là nhiễm toan ống thận. Kết quả này cũng

tương tự với một nghiên cứu của Santos F và Chan JC được báo cáo từ năm

1986 trên 24 trẻ trong 7 năm, kết quả cho thấy tuổi trung bình của trẻ khi chẩn

đoán là 8 tháng . Một nghiên cứu khác thực hiện tại Ấn độ cho thấy độ tuổi

trung vị của đối tượng nghiên cứu là 6 tuổi với trẻ nhỏ nhất là 1,5 tuổi .

Những số liệu này cho thấy, nhiễm toan ống thận ở trẻ em có thể xuất hiện từ

rất sớm, và được chẩn đoán từ khi trẻ còn khá nhỏ.

4.1.3. Giới

Trong nghiên cứu này, có sự khơng cân đối về giới tính của trẻ em mắc

nhiễm toan ống thận. Cụ thể trẻ trai với 23/36 trẻ, chiếm 63,9% còn lại trẻ gái là

13/36 trẻ, chiếm 36,1% là nữ giới. Kết quả này tương tự với một nghiên cứu của

Bajpai và cộng sự trong nghiên cứu tìm hiểu biến chứng ở nhiễm toan ống thận trẻ

em, kết quả nghiên cứu trên 18 bệnh nhi có 11 là trẻ nam và chỉ 7/18 bệnh nhân là

nữ . Ngược lại, một nghiên cứu phân tích biểu hiện lâm sàng của bệnh lý nhiễm

toan ống thận ở trẻ em thực hiện trong 7 năm tìm thấy 24 hồ sơ bệnh án thỏa mãn

với 14/24 trẻ là bé gái và 10/24 trẻ trai, rõ ràng, tỷ lệ mắc bệnh trong nghiên cứu

này ở trẻ gái cao hơn . Ngồi ra, chúng tơi chưa tìm thấy báo cáo nào ghi nhận về

đặc điểm giới tính trong nhiễm toan ống thận. Những kết quả này có thể giải thích

do ngẫu nhiên và có thể khơng thực sự có sự khác biệt về nguy cơ mắc bệnh ở

nam và nữ.



48



4.2. Đặc điểm lâm sàng nhiễm toan ống thận

4.2.1. Lý do vào viện

Kết quả nghiên cứu cho thấy những lý do vào viện của bệnh nhi mắc nhiễm

toan ống thận tập trung ở: Chậm tăng cân, nôn, uống nhiều, đái nhiều, thở nhanh

và yếu chi. Lý do phổ biến nhất khiến trẻ được đưa đi khám là chậm tăng cân với

23/36 trẻ chiếm 63,9%. Nôn là nguyên nhân phổ biến thứ 2 với khoảng 1/4 số trẻ

em vào viện vì lý do này (25,8%). Các lý do vào viện khác như uống nhiều, đái

nhiều, yếu chi và thở nhanh lần lượt chiếm các tỷ lệ 16,7%; 13,9%; 11,1% và

8,3%. Ngày nay, khi chất lượng cuộc sống tăng lên thì việc chăm sóc sức khỏe

cũng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt là với đối tượng trẻ em. Có thể

thấy, những lý do vào viện kể trên đều là những nguyên nhân khiến các bậc phụ

huynh lo ngại khi gặp ở trẻ - đối tượng dễ bị tổn thương; do những dấu hiệu này

không đặc hiệu cho bệnh cụ thể và có thể là triệu chứng của nhiều bệnh nguy

hiểm khác.

4.2.2. Typ nhiễm toan ống thận

Nhiễm toan ống thận là một tình trạng bệnh lý có liên quan đến sự tích

lũy axit trong cơ thể do hoạt động không hiệu quả của ống thận để duy trì cân

bằng axit – base . Trong lâm sàng và sinh lý bệnh học, nhiễm toan ống thận

được chia thành 3 nhóm chính, nhiễm toan ống lượn xa (Typ I), nhiễm toan

ống lượn gần (Typ II) và nhiễm toan ống thận có tăng Kali máu (Typ IV).

Ngồi ra còn có nhiễm toan ống thận typ III, tuy nhiên typ III này hiện khơng

còn được coi là một typ riêng biệt nữa. Mỗi typ bệnh lại có rất nhiều nguyên

nhân gây ra, gồm cả bẩm sinh và mắc phải . Trong nghiên cứu này, khơng có

bệnh nhi nào nhiễm toan ống thận Typ III và Typ IV. Tỷ lệ nhiễm toan ống

thận Typ I là phổ biến nhất với 29/36 trẻ, chiếm tới 80,6%. Chỉ 19,4% còn lại



49



là bệnh nhi nhiễm toan ống thận Typ II. Tỷ lệ nhiễm toan Typ 1 nhiều hơn ở

trẻ nữ (37,9% so với 28,6%) và nhiễm toan typ 2 nhiều hơn ở trẻ nam (71,4%

> 62,1%). Tuy nhiên khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Ở trẻ

nhiễm toan ống thận, lý do vào viện chủ yếu là cậm tăng cân và nôn. Tuy

nhiên, ở nhiễm toan ống thận Typ 2, yếu chi là một triệu chứng cũng khá phổ

biến với 28,6% số trẻ mắc phải, trong khi lý do này ở typ 1 lại không chiếm tỷ

lệ cao (6,9%). Ngược lại, thở nhanh là triệu chứng gặp ở 10,3% trẻ nhiễm toan

ống thận typ 1, tuy nhiên khơng có trẻ typ 2 nào có lý do vào viện này. Trên thực

tế, có thể nói là nhiễm toan ống thận là bệnh hầu như khơng có triệu chứng lâm

sàng, nhưng có thể có những rối loạn chức năng dẫn tới: đau xương ở người lớn,

còi xương ở trẻ em, rối loạn tiêu hóa hay yếu chi…, đặc biệt thường gặp ở

nhiễm toan ống thận Typ I và Typ II .

4.2.3. Nhiễm toan ống thận Typ 1 có thể là bệnh ngẫu nhiên hoặc di truyền.

Nó cũng có thể là biến chứng của các bệnh lý bẩm sinh hay mắc phải của ống

thận. Nguyên nhân tiên phát hoặc thứ phát của nhiễm toan ống thận typ 1 có

thể xuất phát từ những tổn thương hay thiếu hụt chức năng của một hay nhiều

chất vận chuyển hoặc protein liên quan tới quá trình acid hóa nước tiểu, bao

gồm H+-ATPase, chất trao đổi anion HCO3-/Cl-, hoặc các thành phâǹ của con

đường aldosterone. Một số thuốc và hóa chất (VD amphotericinB, foscarnet

và methicillin) được cho rằng gây ra nhiễm toan typ 1, mặc dù cơ chế cụ thể

vẫn chưa được làm rõ , , , . Trong khi đó, nhiễm toan ống thận typ2 được đặc

trưng bởi sự giảm khả năng tái hấp thu bicacbonat (HCO3 -) ở ống lượn

gần. Bệnh thường phản ánh sự khiếm khuyết trong quá trình vận chuyển tại

ống lượn gần đến mức đủ để áp đảo lượng bicarbonate được tái hấp thu tại

đoạn dày nhánh lên của quai Henle và những phần xa của nephron . Nhiễm

toan ống thận typ II có thể có nguyên nhân do một gen lặn, cũng có thể là hậu



50



quả của việc sử dụng một số loại thuốc như thuốc nhóm amynosid, ifosfamide,

acid valproic và nhiều thuốc kháng retrovirus như Tenofovir, đặc biệt khi sử

dụng kết hợp với thuốc ức chế protease như ritonavir hoặc thuốc ức chế sao

chép ngược như didanosine trên bệnh nhân HIV , , , . Từ những nguyên nhân

của hai typ nhiễm toan ống thận gặp trong nghiên cứu, có thể thấy rằng những

nguyên nhân dẫn tới nhiễm toan ống thận typ I đa dạng và dễ gặp hơn so với

những nguyên nhân được cho là gây nhiễm toan ống thận typ II. Điều này giải

thích cho tỷ lệ bệnh typ I cao hơn đáng kể trong nghiên cứu (80,6% với

19,4%).

4.2.4. Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng trong bệnh nhiễm toan ống thận gặp ở nghiên

cứu này là đái nhiều, uống nhiều, nôn, tăng cân chậm, ỉa lỏng kéo dài, thở

nhanh và yếu chi. Trong các triệu chứng lâm sàng thường gặp, tăng cân chậm

là phổ biến nhất với 100% số bệnh nhi nhiễm toan ống thận có dấu hiệu này.

Các triệu chứng như đái nhiều hay nôn cũng phổ biến ở hơn 1/4 số đối tượng

nghiên cứu (25,7%). Có 6/36 bệnh nhi chiếm 16,7% số đối tượng nghiên cứu

có uống nhiều. Ỉa lỏng kéo dài cũng là một triệu chứng có thể gặp ở bệnh nhi

nhiễm toan ống thận với tỷ lệ 13,9%. Các triệu chứng khác như yếu chi và thở

nhanh cũng có thể gặp trong bệnh này, mặc dù tỷ lệ không cao, lần lượt là

11,1% và 8,3%. Tăng cân chậm là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất ở trẻ

nhiễm toan ống thận không kể typ. Các triệu chứng nôn, đái nhiều, uống

nhiều và ỉa lỏng cũng gặp nhiều ở cả hay Typ. Tuy nhiên, tỷ lệ có nơn và yếu

chi cao hơn đáng kể ở bệnh nhi nhiễm toan ống thận Typ 2 so với typ 1

(42,9%> 20,7% và 28,6%>6,9%). Nhiễm toan ống thận là một nhóm các bệnh

lý gây ra do rối loạn chức năng bài tiết acid của ống thận, gây ra tích lại Cltrong cơ thể với khoảng trống anion bình thường. Việc rối loạn cân bằng axit



51



– base trong cơ thể có thể là nguyên nhân dẫn tới trẻ buồn nôn, nôn, chán ăn,

điều này gián tiếp dẫn tới trẻ chậm phát triển và còi xương. Mặt khác, trẻ có

tăng kali niệu, hậu quả là tần suất đái nhiều lên, dẫn tới tình trạng mất nước

khiến trẻ sẽ khát và uống nhiều hơn so với trẻ bình thường. Bên cạnh đó, kali

huyết giảm là nguyên nhân khiến trẻ có triệu chứng yếu hai chân…. Theo

Julian Yaxley và cộng sự, đối với nhiễm toan ống thận typ I, tùy theo thể bệnh

nặng hoặc nhẹ mà các hình thái biểu hiện bệnh là nơn mửa, mất nước, chậm

phát triển và còi xương. Nhiễm toan ống thận typ II thể nhẹ có dấu hiệu tầm

vóc thấp bé, tâm trí lơ mơ; trong một vài trường hợp nặng có thể thấy trẻ có

rối loạn hơ hấp, nơn và khó ăn . Nghiên cứu của các tác giả Santos F và Chan

JC tìm hiểu các biểu hiện lâm sàng của nhiễm toan ống thận trên trẻ em cũng

đã báo cáo những triệu chứng với tỷ lệ gặp tương tự. Chậm phát triển thể chất

là phổ biến nhất với 50% số trẻ trong nghiên cứu mắc phải. Nôn mửa và tiêu

chảy là những triệu chứng thường gặp với 37,5%. Hội chứng mất nước được

ghi nhận gặp ở 12,5% số trẻ và có 8,3% số trẻ mắc nhiễm toan ống thận có ăn

uống kém . Có thể thấy rằng, những triệu chứng này không hề đặc hiệu, có thể

gặp trong nghiều bệnh lý khác. Đây là nguyên nhân khiến người chăm sóc trẻ

khó nhận biết dấu hiệu bất thường và khiến các thầy thuốc dễ bỏ sót bệnh

hoặc chẩn đoán nhầm sang bệnh khác như bệnh trào ngược dạ dày, bệnh tiêu

chảy mạn…

4.3. Đặc điểm cận lâm sàng

4.3.1. Khí máu

Chẩn đốn nhiễm toan ống thận cần được đặt ra khi toan chuyển hóa

kết hợp tăng Clo máu và khoảng trống anion trong giới hạn bình thường (Na+

- [Cl- + HCO3-] = 8-16) trên bệnh nhân khơng có bằng chứng của mất



52



HCO3- qua ruột và khơng có tiền sử dùng acetazolamide hoặc đưa acid ngoại

sinh vào cơ thể . Do đó, khí máu là một trong những xét nghiệm quan trọng

cho chẩn đoán nhiễm toan ống thận. Các chỉ số khí máu của bệnh nhân trong

nghiên cứu là pH; HCO3-. Trung bình pH của 36 bệnh nhi nghiên cứu là 7,2±

0,1. Tất cả bệnh nhân không phân biệt nhiễm toan ống thận Typ I và II đều có

chỉ số này không vượt quá 7,35. Chỉ số HCO3 – trung bình là 12,5 ± 5,0 và

khơng có bệnh nhi nào trong nghiên cứu có HCO3- đạt từ 22 trở lên. Trong

nghiên cứu của chúng tôi thấy nồng độ HCO3- ở typ I giảm nhiều hơn ở typ II

nhưng không có ý nghĩa thống kê. Những kết quả này là phù hợp với đặc

điểm của bệnh nhân mắc nhiễm toan ống thận. Bình thường pH máu được duy

trì ổn định trong khoảng 7,35-7,45 ([H+] : 45-35 nmol/L). Khi pH < 7,35 gọi

là máu bị axít (toan). Khi HCO3- < 22 được gọi là toan chuyển hoá . Mặt

khác, cách chọn bệnh nhân trong nghiên cứu cũng giải thích cho kết quả khí

máu thu được trong nghiên cứu này với tiêu chuẩn lựa chọn là bệnh nhân

được chẩn đoán nhiễm toan ống thận, nhiễm toan chuyển hóa có pH<7,35;

HCO3- <22.

4.3.2. Điện giải đồ

Các chỉ số điện giải đồ được xét nghiệm đối với bệnh nhi nhiễm toan

ống thận là Natri, Kali máu và Clo máu. Trung bình nồng độ Na+ là 136±7

mmol/l. Nồng độ Clo máu trung bình là 112±9 mmol/l. Trung bình K+ trong

máu đo được trong nghiên cứu là 2,9±0,5 mmol/l. Các chỉ số điện giải đồ như

Na, Kali máu cao hơn ở bệnh nhi nhiễm toan ống thận Typ II so với Typ I,

ngược lại, nồng độ Clo máu lại cao hơn ở nhóm Typ I so với Typ II. Mặc dù

vậy, những sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Đặc biệt,

khơng có bệnh nhi nào có K+ vượt quá 3,5mmol/l. Những kết quả này phù



53



hợp với cận lâm sàng ở bệnh nhân có nhiễm toan ống thận với đặc điểm Clo

máu tăng trên 110 mol/l, hạ kali máu (ở cả typ I và II). Kết quả này cũng phù

hợp với tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là bênh nhi có nhiễm toan

ống thận có chỉ số clo máu tăng, khoảng trống anion máu bình thường.

4.3.3. Siêu âm thận

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ gặp vơi hóa các tháp thận trên siêu âm là

phổ biến với hơn một nửa số bệnh nhi có nhiễm toan ống thận (52,8%). Tỷ lệ

khơng thấy hình ảnh vơi hóa tháp thận trên siêu âm ở bệnh nhi có nhiễm toan

ống thận trong nghiên cứu là 47,2%. Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy

rằng tỷ lệ gặp vơi hóa các tháp thận trên siêu âm gặp hồn toàn ở bệnh

nhân nhiễm toan ống thận typ I, trong typ 2 khơng có trường hợp nào có

vơi hóa tháp thận. Khác biệt về tình trạng vơi hóa giữa 2 Typ là có ý nghĩa

thống kê (p<0,05). Kết quả này có thể là do bệnh nhi được phát hiện và chẩn

đoán bệnh chưa được kịp thời. Bệnh lý nhiễm toan ống thận, là bệnh thận mạn

tính, do tổn thương ống thận gây nên tình trạng nhiễm acid máu làm ảnh

hưởng tới chuyển hóa tế bào, đồng thời tình trạng giảm kali máu, tăng bài tiết

canxi niệu gây vơi hóa tháp thận .

4.4. Tác động của điều trị trên phát triển thể chất ở trẻ em nhiễm toan ống thận

Trẻ nhiễm toan ống thận trong nghiên cứu được theo dõi điều trị trong

12 tháng. Các chỉ số phát triển như chiều cao, cân nặng của trẻ được ghi nhận

trước và sau 1 năm điều trị để đánh giá tác động điều trị trên phát triển thể

chất ở trẻ em mắc nhiễm toan ống thận. Trong bệnh lý nhiễm toan ống thận,

do tổn thương ống thận gây nên tình trạng nhiễm acid máu làm ảnh hưởng tới

chuyển hóa tế bào, đồng thời tình trạng giảm kali máu, tăng bài tiết canxi niệu

gây vơi hóa tháp thận, tình trạng còi xương do rối loạn tổng hợp 1.25OHD…



54



tất cả các yếu tố đó ảnh hưởng tới sự tăng trưởng theo lứa tuổi của trẻ và

nhiều trường hợp trẻ đi khám vì chậm tăng cân, hay vì biến dạng xương chi.

Nhiễm toan ống thận nếu khơng được phát hiện sớm, chẩn đốn đúng và

điều trị kịp thời thì sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân

thậm chí có thể dẫn đến tử vong do toan chuyển hóa, hạ Kali máu…Theo

nhiều nghiên cứu, trẻ nhiễm toan ống thận có thể có những hệ quả như phát

triển thể chất và trí tuệ kém , , . Nhưng nếu được phát hiện sớm và điều trị

kịp thời, kiểm sốt chặt chẽ được tình trạng toan kiềm, điện giải thì hầu hết

trẻ sẽ phát triển gần như bình thường theo lứa tuổi. Trên thế giới cũng có

một số nghiên cứu cho thấy trẻ nhiễm toan ống thận chậm tăng trưởng hơn trẻ

bình thường và việc tác động của điều trị làm cải thiện đáng kể tình trạng này

của trẻ

Mục đích của điều trị nhiễm toan ống thận không chỉ là điều chỉnh các

bất thường về sinh hóa mà còn cải thiện sự phát triển của trẻ, ngăn ngừa tiến

triển của tình trạng calci hóa thận hay bệnh thận mạn tính. Liệu pháp điều trị

cơ bản là cung cấp lượng kiềm duy trì thích hợp (alkali) dưới dạng

bicarbonate hoặc citrate. Các loại dung dịch thường sử dụng là dung dịch

bicarbonate hoặc Shohl’s hay Bicitra, với những bệnh nhân có hạ Kali thì

dùng Polycitra và Polycitra K. Điều trị còi xương, lỗng xương ở bệnh nhân

nhiễm toan ống thận bao gồm vitamin D 2000-5000 UI/ngày cho đến khi tình

trạng bệnh cải thiện, tuy nhiên, nguy cơ xơ hóa thận vẫn cần được theo dõi

chặt chẽ. Ở bệnh nhân nhiễm toan ống thận có kết hợp hội chứng Fanconi,

những trẻ có lỗng xương, còi xương, liều vitamin D hàng ngày là 5000 UI,

với lượng tăng hàng tháng tối đa là 4000-5000 UI/kg/ngày nếu khơng có phản

ứng lâm sàng hay sinh hóa. Điều trị bổ sung phosphate là cần thiết với liều 1-



55



3g Phospho nguyên tố/ngày, chia thành 4-5 lần phải theo dõi chặt chẽ lượng

alkaline phosphatase, calci huyết tương và calci niệu để tránh gây tăng Calci

máu ở những bệnh nhân này.

Chúng tôi đánh giá phát triển thể chất của trẻ dựa theo các chỉ tiêu cân

nặng và chiều cao theo tuổi theo WHO .

4.5. Chiều cao

Chiều cao trung bình mỗi bệnh nhân tại thời điểm ban đầu đo được là

74,6 ± 19,3cm. Theo bảng chuẩn phát triển của trẻ em mà WHO công bố năm

2017, chiều cao này phù hợp với những trẻ ở lứa tuổi 11 – 12 tháng . Trong

khi đó, kết quả nghiên cứu ở trên chỉ ra rằng, trong nghiên cứu này, chủ yếu là

nhóm trẻ 2-5 tuổi với 52,8%. Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi trong nghiên cứu chiếm

hơn 1/3 số đối tượng với 36,0%. Chỉ 4/36 trẻ chiếm 11,2% số đối tượng

nghiên cứu nằm trong nhóm 5-10 tuổi. Điều này cho thấy chiều cao của trẻ

mắc nhiễm toan ống thận tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu là thấp. Kết quả

nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ trẻ trước điều trị có chiều cao dưới -3SD (trẻ

suy dinh dưỡng thể thấp còi mức độ nặng) là 77,7%; Có 16,7% có chiều cao

dưới -2SD (trẻ duy dinh dưỡng thể thấp còi mức độ vừa). Chỉ 5,6% số trường

hợp có chiều cao trong giới hạn bình thường. Điều này cũng phù hợp với thực

tế trẻ mắc bệnh này thường có dấu hiệu chậm phát triển về thể chất. Như đã

nói ở trên, nguyên nhân có thể là do sự rỗi loạn chuyển hóa dẫn tới tình trạng

kém ăn, chán ăn và các triệu chứng khác, kèm theo sự thiếu hụt canxi cũng là

một trong các yếu tố ảnh hưởng tới chiều cao của trẻ mắc nhiễm toan ống

thận. Một nghiên cứu của tác giả Ajay P. và cộng sự nghiên cứu về ảnh hưởng

của bệnh nhiễm toan ống thận tới chiều cao của trẻ em, cho thấy, bệnh nhi có

nhiễm toan ống thận thấp hơn so với trẻ bình thường và phân tích đa biến



56



cũng cho thấy nhiễm toan ống thận là yếu tố ảnh hưởng đáng kể tới chiều cao

của trẻ (p<0,01) .

Sau một năm điều trị, trung bình chiều cao tăng lên thành 83,5 ±

17,8cm, tăng 8,9 ± 3,9 cm trong 1 năm. Chiều cao sau 1 năm điều trị có sự cải

thiện với 8,4% số trẻ có chiều cao ở mức trung bình, số trẻ có chiều cao dưới

mức -3SD chỉ còn 58,3%. Sự chênh lệch về chiều cao giữa thời điểm trước và

sau 1 năm điều trị có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Kết quả này tương tự với

nghiên cứu của Santos F và cộng sự trên 24 bệnh nhi có trung bình 8 tháng

tuổi. Bệnh nhi được theo dỗi điều trị trong ít nhất 1 tháng, chiều cao trung

bình được cải thiện rõ rệt từ 11,5 ± 7,3 cm lên 29,7 ± 24,2 cm (p<0,03) . Độ

tăng chiều cao trong nghiên cứu của Santos F nhiều hơn so với nghiên cứu

này, có thể giải thích do độ tuổi trong nghiên cứu của các tác giả này thấp hơn

trong nghiên cứu của chúng tôi. Ở khoảng dưới 1 năm tuổi, trẻ em thường

tăng trưởng chiều cao nhiều và nhanh hơn so với nhóm trẻ 2-5 tuổi. Kết quả

theo dõi 10 bệnh nhi mắc nhiễm toan ống thận sơ sinh và trẻ nhỏ cho thấy

chiều cao trung bình của họ tăng từ 1,4 ± 4 lên 37,0 ± 33 %. Tốc độ tăng

trưởng tăng 2-3 lần, và đạt được chiều cao bình thường trong vòng 6 tháng bắt

đầu điều trị bằng kiềm ở trẻ còi cọc và trong vòng 3 năm ở trẻ còi cọc .

Những kết quả này bổ sung cho nhận định về việc có thể cải thiện chiều cao ở

trẻ nhiễm toan ống thận nhờ điều trị bệnh. Nói cách khác, bệnh nhân có chậm

phát triển thể chất do toan hóa ống thận có thể hồi phục bình thường nếu được

điều trị đúng. Mặt khác, cũng sau 1 năm điều trị này, bệnh nhân nhiễm toan

ống thận typ I tăng trung bình 8,9 ± 5,4 cm, khơng đáng kể so với chiều cao

trung bình tăng lên ở bệnh nhân nhiễm toan ống thận Typ II với 8,7 ± 2,1 cm.

Sự khác biệt là khơng có ý nghĩa thống kê với p >0,05. Như vậy có thể thấy



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

thường xuyên và nhóm điều trị không thường xuyên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×