Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đầu tiên, quan trọng là xác định xem trẻ bị nhiễm lao tiềm ẩn hay bệnh lao thực sự . Trẻ em bị nhiễm lao tiềm ẩn thường không có triệu chứng của bệnh, không truyền bệnh và vi khuẩn lao không phát triển (trạng thái ngủ). Nếu vi khuẩn lao hoạt hóa, nhân lên

Đầu tiên, quan trọng là xác định xem trẻ bị nhiễm lao tiềm ẩn hay bệnh lao thực sự . Trẻ em bị nhiễm lao tiềm ẩn thường không có triệu chứng của bệnh, không truyền bệnh và vi khuẩn lao không phát triển (trạng thái ngủ). Nếu vi khuẩn lao hoạt hóa, nhân lên

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



Khi bệnh lao đã được chẩn đoán xác định, phải tìm xem lao tổn thương

cơ quan nào, một hay hơn một cơ quan, lao tại phổi hay lao ngoài phổi. Lao

phổi bắt nguồn từ ngoại sinh hay tái hoạt động từ lao tiềm ẩn nội sinh. Bệnh ở

nhu mô phổi và lao hạch trong lồng ngực là hay gặp nhất của lao trẻ em, chiếm từ

60-80% tổng các trường hợp. Phần lớn trẻ em nhiễm trực khuẩn lao tại phổi

không có triệu chứng trong vài tuần đầu, khơng thấy bất thường trên hình ảnh

X.quang thường quy; đơi khi có thể thấy viêm định khu ban đầu với thâm nhiễm

không đặc hiệu - chỉ có thể phát hiện trên phim CT- scanner phổi. Sau nhiều ngày,

trực khuẩn lao lan tới tổ chức hạch, gây sưng hạch mà không tương xứng với ổ lao

ở nhu mô. Lúc này ở trẻ lớn vẫn có tới 80-90% các trường hợp là khơng có triệu

chứng, trong khi ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi lại thường có triệu chứng và bất thường tới

40 - 50% ở phim X.quang phổi quy ước hoặc CT- scanner ngực .

Các triệu chứng ban đầu thường nhẹ, gồm sốt ở mức độ thấp và ho. Ho

thường khơng có đờm, và đơi khi có khó thở nhẹ - khò khè và suy hô hấp ở trẻ

dưới 1 tuổi. Các dấu hiệu xác định chẩn đốn bằng X.quang và CT thường

khơng rõ. Sưng hạch rốn phổi và trung thất chiếm ưu thế mặc dù không thường

xuyên quan sát thấy ở phim thường quy. Bất cứ thùy phổi nào đều có thể gặp tổn

thương do lao, và 25% các trường hợp là ở nhiều thùy. Trong lao sơ nhiễm,

thường thấy thâm nhiễm ở thùy giữa hoặc thùy dưới kèm theo sưng hạch rốn

phổi cùng bên, có thể gây xẹp phổi do đè ép khi hạch lympho to quá mức .

Lao nội sinh phát triển từ lao tiềm ẩn thường tái hoạt động gây các bất

thường ở các thùy cao của một hoặc hai bên phổi; tổn thương dạng hang, xẹp

phổi do hạch phế quản chèn ép hoặc hình ảnh đơng đặc thùy/ phân thùy phổi.

Phản ứng màng phổi cục bộ, hoặc tràn dịch màng phổi thường gặp và khi có

các dấu hiệu tắc nghẽn là biểu hiện của lao nội phế quản. Hình ảnh

X.quang/CT ngực phát hiện từ bình thường đến các bất thường khác nhau



12



gồm: sưng hạch rốn phổi, trung thất, hạch dưới carina, xẹp phổi hoặc thâm

nhiễm thùy, tràn dịch màng phổi, tổn thương hang, hoặc các nốt kê .

Lao ngoài phổi chẩn đốn phức tạp hơn lao phổi vì ít gặp và các biểu

hiện ban đầu kín đáo hơn. Lao ngồi phổi ít lan tràn tới vị trí khác, tuy nhiên

vi khuẩn lao có thể hủy hoại tổ chức tại vị trí bị lao lớn hơn và các thủ thuật

xâm nhập đòi hỏi thường xun để chẩn đốn. Mặc dù khơng hay gặp nhưng

khi có một số triệu chứng gợi ý nhiều cho lao ngồi phổi, đòi hỏi phải phát

hiện hơn nữa ở những trẻ có sưng đau xương khớp, sưng hạch cổ với dò hạch,

viêm màng não, tràn dịch màng phổi không đáp ứng với kháng sinh thông

thường, tràn dịch màng tim, khối u ở bụng, cổ chướng và các dấu hiệu tăng

mẫn cảm với Tuberculin (như nốt ban đỏ, viêm kết mạc). Lao hạch cũng hay

gặp ở trẻ em, thường là hạch trên xương đòn, hạch cổ, biểu hiện sưng, ít đau

và chắc; thường thứ phát sau sự lan tràn từ ổ lao ở phổi ,.

Lao hệ thần kinh trung ương khá thường gặp ở trẻ em và thứ phát sau sự

lan tràn bệnh theo đường máu; hầu hết là lao màng não, đầu tiên là vùng nền

não. Biểu hiện lâm sàng phong phú, có thể từ một đau đầu khơng rõ ràng với

khơng có các dấu hiệu điển hình của viêm màng não như cổ cứng đến các dấu

hiệu điển hình, thậm chí hơn mê, liệt nửa người, và các dấu hiệu tăng áp lực

nội sọ. Xét nghiệm dịch não tủy là điều kiện tiên quyết để chẩn đốn lao

màng não, với các thay đổi điển hình gồm nồng độ protein cao, tăng số lượng

lymphocyte và đường thấp. Ni cấy vi khuẩn lao từ DNT có thể dương tính

nhưng ở tỷ lệ thấp; xét nghiệm PCR cho độ nhạy cao hơn đáng kể. Chụp CT

sọ não nên chỉ định trước khi hút dịch não tủy nếu khám có dấu hiệu thần

kinh cục bộ hoặc có các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ não .

Lao kê: Thường là lao toàn thể, xảy ra bởi hàng rào bảo vệ cơ thể không

thể ngăn cản nhiễm trùng lao lan tràn. Ở trẻ em bệnh cảnh lâm sàng thường

thay đổi, trẻ có thể biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, chán ăn, sút cân và suy nhược



13



cơ thể, suy hô hấp, các nốt thay đổi trên X.quang ngực; gan, lách to. Đây là

thể bệnh hay gặp nhất ở trẻ em sau nhiễm lao, bởi hàng rào bảo vệ của trẻ

không thể ngăn cản trực khuẩn lao .

Lao màng phổi: Biểu hiện đầu tiên như mủ màng phổi, hậu quả của lọt một

số lượng lớn khí, tổ chức sinh vật vào trong khoang màng phổi. Thường bởi vỡ

một hang hoặc ổ bệnh ở nhu mơ phổi liền kề theo đường dò phế quản-màng phổi.

Lao màng tim cũng biểu hiện như nhiễm trùng lao bình thường hoặc như viêm

màng tim mà gây đau, tràn dịch và cuối cùng ảnh hưởng đến huyết động .

Lao xương khớp: Xấp xỉ 1% trẻ em nhỏ bị lao biểu hiện với đau từ các

xương khớp. Các triệu chứng mơ hồ và thường khơng được chẩn đốn đến

khi có biểu hiện rõ. Lao cột sống dẫn đến phá hủy xương và xẹp các đốt sống

gây dị tật nếu chẩn đốn chậm trễ .

Lao ổ bụng có thể liên quan đến bất cứ tổ chức nào trong ổ bụng cũng như

màng bụng. Các vùng liên quan quyết định biểu hiện lâm sàng. Trẻ thường có

biểu hiện sốt, biếng ăn, sút cân, sưng hạch lympho và cổ chướng .

Lao kháng thuốc: Triệu chứng lâm sàng của lao kháng thuốc ở trẻ em

không khác biệt so với những trẻ bị lao nhạy cảm thuốc .

1.6. Chẩn đoán lao và các thang điểm áp dụng cho việc chẩn đoán lao trẻ em

Chẩn đoán lao trẻ em cho đến hiện nay vẫn là một thách thức vì các triệu

chứng lâm sàng, hình ảnh X.quang, CT-scanner thường thay đổi và khơng

điển hình, đặc biệt là trẻ em dưới 4 tuổi và trẻ nhiễm HIV. Chẩn đốn xác

định khi tìm thấy bằng chứng vi khuẩn lao ở đờm, dịch dạ dày, và tại vị trí tổn

thương bằng các phương pháp như soi trực tiếp tìm AFB, nuôi cấy trên môi

trường đặc, lỏng, các kỹ thuật sinh học phân tử như PCR, Gene-Xpert

MTB/RIF. Tuy nhiên việc lấy đờm và các bệnh phẩm khác ở trẻ để thực hiện

các xét nghiệm cũng hết sức khó khăn đặc biệt là trẻ nhỏ. Nhuộm soi đờm

trực tiếp tìm AFB và ni cấy có tỷ lệ dương tính thấp, các kỹ thuật sinh học



14



phân tử cũng có những giới hạn như độ nhạy, độ đặc hiệu và khả năng thực

hiện của các cơ sở y tế .

Chẩn đoán và điều trị lao tiềm ẩn ở trẻ em là rất quan trọng bởi giảm

nguy cơ tiến triển thành bệnh lao. Xác định lao tiềm ẩn hiện nay thay đổi

trong phạm vi riêng của mỗi trẻ, từ những trường hợp có biểu hiện rõ đến

những trường hợp đang trong giai đoạn ủ bệnh và khơng có triệu chứng lâm

sàng . Vì định nghĩa chính xác của lao tiềm ẩn hiện nay vẫn là một câu hỏi mở

cho y học . Điều này giải thích tại sao khơng có tiêu chuẩn vàng cho các test

chẩn đốn lao tiềm ẩn.

Trước năm 2001, test Mantoux có giá trị cho phát hiện nhiễm lao . Test

được sử dụng rộng rãi trên tồn cầu để chẩn đốn nhiễm lao và kể cả lao hoạt

động, nhưng test có giới hạn: Dương tính giả ở những trẻ tiêm BCG, nhiễm

trực khuẩn lao khơng điển hình . Bởi giới hạn đó, xét nghiệm sự giải phóng

Interferon -gamma (IFN-γ) ở máu được phát triển. Xét nghiệm có độ nhạy

tương đương thậm chí cao hơn test Mantoux (dương tính > 90% trẻ nhiễm

lao), nhưng có độ đặc hiệu cao hơn Mantoux vì phát hiện sự có mặt của các

peptit vi khuẩn lao như ESAT-6 and CFP-10, các peptit này khơng có ở

vacxin BCG và các trực khuẩn lao khơng điển hình .

Ni cấy phân lập trực khuẩn lao rất quan trọng cho chẩn đoán xác định

lao hoạt động và lao kháng thuốc. Ở trẻ em, chẩn đoán vi sinh được thực hiện

vào khoảng 20- 40% các trường hợp vì bản chất vi khuẩn lao trong tổn

thương ít. Lấy các mẫu bệnh phẩm ở trẻ em cũng rất khó khăn, đặc biệt là trẻ

nhỏ, không thể khạc đầy đủ đờm. Lấy dịch dạ dày xét nghiệm được thực hiện

qua 2-3 ngày liên tiếp sau khi trẻ thức, trước bữa ăn hoặc uống được hướng

dẫn cho chẩn đoán lao trẻ em. Jiménez R.M và cộng sự thực hiện một nghiên

cứu tiến cứu ở 22 trẻ em nghi ngờ bị lao phổi nằm viện để đánh giá sự an tồn



15



và hiệu quả chẩn đốn từ đờm và dịch dạ dày trên 3 ngày liên tiếp. Tất cả các

mẫu được soi trực tiếp tìm AFB, ni cấy và PCR. Phát hiện thấy vi khuẩn lao

từ dịch dạ dày và đờm là 47,1% và 41,2% các mẫu theo thứ tự. Nghiên cứu

gợi ý xét nghiệm đờm an toàn và phát hiện thấy vi khuẩn lao tương đương với

dịch dạ dày ở trẻ em .

Chính vì những khó khăn trong chẩn đoán xác định ở lao trẻ em, từ

nhiều thập kỷ trước các tác giả đã nghiên cứu xây dựng thang điểm để chẩn

đoán lao trẻ em dựa vào tiền sử tiếp xúc với người lớn bị lao phổi, đặc điểm

lâm sàng, test Mantoux và các phát hiện trên X.quang/CT- scanner cũng được

đánh giá.

Thang điểm Keith Edwards trong chẩn đoán lao trẻ em: Thang điểm này

ra đời 1996 do Keith Edwards giảng viên trường đại học Papua Niughim xây

dựng để chẩn đoán lao trẻ em. Thang điểm này qua quá trình áp dụng đã được

chỉnh sửa nhiều lần cho phù hợp, được WHO công nhận và khuyến cáo sử

dụng. Chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn: Tiền sử, lâm sàng, test Mantoux,

hình ảnh X.quang/CT vẫn được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo và cho rằng

nó rút ngắn thời gian chẩn đốn, dễ thực hiện và có giá trị không kém các

phương pháp chuẩn như nuôi cấy, soi kính, PCR và các test huyết thanh ,.

Có nhiều thang điểm được nghiên cứu như thang điểm của Stegen và

cộng sự (1969), thang điểm của Nair and Philip (1981) vv… Các thang điểm

khác nhau nói lên tầm quan trọng khác nhau của các chỉ số trong thang điểm.

Mặc dù giá trị của các thang điểm còn có giới hạn bởi thiếu tiêu chuẩn vàng,

nhưng thực tế các thang điểm đó đóng vai trò hết sức quan trọng trong chẩn

đốn lao trẻ em, thang điểm của Keith Edwards đã được xác nhận và ủng hộ

của WHO, khuyến cáo sử dụng ở Chương trình chống lao quốc gia của các

nước với độ nhạy và độ đặc hiệu (91%, 88%) theo Narayan S và cộng sự năm



16



2003, (84,9%; 78%) theo Sarkar S và cộng sự năm 2009. Koura H và cộng sự

nghiên cứu giá trị của thang điểm Keith Edwards có sửa đổi chỉ số cân nặng

tính theo chiều cao với độ nhạy (93,3%), độ đặc hiệu (95,0%). Một thang

điểm khác trước đó của Toledo A (1979) cũng được các nghiên cứu gần đây

đánh giá với độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao, tuy nhiên thang điểm này có quá

nhiều các chỉ số, khó áp dụng .

Bảng 1.1. Điểm Keith Edwards chẩn đốn lao trẻ em:

Điểm

Tiêu chí

Thời gian mắc bệnh



0



1



< 2 tuần 2–4 tuần



2



3



4



-



> 4 tuần



-



<60%



-



Dinh dưỡng (cân nặng theo

tuổi)



>80%



60–80%



-



Tiền sử lao gia đình



Khơng



Nghi ngờ



- Được xác định



-



Test Tuberculin



-



-



-



+



-



Hạch to, sưng đau có hoặc

khơng dò hạch



-



-



-



+



-



Sốt khơng rõ ngun nhân



-



-



+



-



-



Dinh dưỡng khơng cải thiện

sau 4 tuần



-



-



-



+



-



Biến dạng cột sống



-



-



-



-



+



Sưng đau xương khớp hoặc

có ổ dò



-



-



-



+



-



Dịch màng bụng khơng sõ

ngun nhân



-



-



-



+



-



Thay đổi tri giác hoặc DNT

bất thường



-



-



-



+



-



Tổng điểm ≥ 7 điểm- chấn đoán lao.

- Thời gian mắc bệnh: Được tính từ khi khởi bệnh đến thời điểm bệnh

nhân vào viện

- Dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi): Theo biểu đồ tăng trưởng của WHO

năm 2007



17



- Tiền sử lao gia đình: Những người sống cùng nhà với trẻ như: Ông, bà,

bố, mẹ, những người thân trong gia đình đã điều trị lao trong vòng 1 năm trở lại

- Test Tuberculin: Xác định mức độ dị ứng đối với Tuberculin của cơ thể

đã bị nhiễm lao hay mắc lao có ý nghĩa hỗ trợ trong chẩn đoán, nhất là chẩn

đoán lao ở trẻ em khi phản ứng dương tính mạnh (≥ 15 mm đường kính cục

phản ứng với Tuberculin).

- Hạch sưng có/ hoặc khơng có dò hạch: Thường gặp hạch ngoại biên

vùng cơ ức đòn chũm, nách…

Lâm sàng: Lúc đầu hạch chắc, riêng rẽ, di động tự do, sau đó các hạch

dính vào nhau và tổ chức dưới da, kém di động, chuyển thành áp xe, dò mủ

mạn tính và có thể khỏi và để lại sẹo xấu. Vị trí thường gặp nhất là hạch cổ,

điển hình là dọc cơ ức đòn chũm, nhưng cũng có thể ở các vị trí khác.

Chẩn đốn: Chọc hút hạch làm tiêu bản chẩn đoán tế bào học hoặc

nhuộm soi tìm AFB hoặc sinh thiết hạch (mơ bệnh học) cho chẩn đốn xác

định qua tìm thấy chất hoại tử bã đậu, tế bào bán liên hoặc nang lao.

- Sốt không rõ nguyên nhân: Lao, bệnh nhân thường sốt nhẹ hoặc trung

bình nhưng cũng có thể sốt cao về chiều, dai dẳng và không đáp ứng với

thuốc điều trị thông thường

- Dinh dưỡng không cải thiện sau 4 tuần: Bệnh lao trẻ thường có sốt và

sụt cân nếu khơng được điều trị đặc hiệu khơng thể cải thiện và kiểm sốt

được cân nặng của bệnh nhân

- Biến dạng cột sống, Sưng đau xương khớp hoặc có ổ dò: Tùy theo cơ

quan và vị trí bị lao nếu ở xương, khớp thường có hiện tượng tiêu xương làm

biến dạng xương và tạo ổ áp xe lạnh vị trí thường gặp cột sống, khớp háng

Lâm sàng: Đau lưng, gù lưng, đau rễ thần kinh, ổ áp xe lạnh cơ thắt

lưng, cơ đái chậu. muộn có thể có dấu hiệu ép tuỷ, liệt. Hình ảnh Xquang cột



18



sống thẳng nghiêng điển hình cho thấy tổn thương 2 đốt sống, hẹp khe khớp,

muộn hơn thấy tổn thương “hình chêm”. Chụp cộng hưởng từ cột sống cho

phép thấy rõ hơn bản chất tổn thương và định hướng các can thiệp phẫu thuật

nếu cần thiết. Nếu có ổ áp xe lạnh, việc xét nghiệm mủ áp xe tìm AFB cho tỷ

lệ dương tính cao. Sinh thiết tổ chức cho phép chẩn đốn mơ bệnh tế bào…

- Dịch màng bụng khơng sõ ngun nhân: Gặp trong lao ngồi phổi như:

Lao các màng, các tạng trong ổ bụng: Có các dấu hiệu tràn dịch màng bụng

(gõ đục vùng thấp thay đổi theo tư thế, “sóng vỗ”, dấu hiệu gõ đục “ơ bàn cờ”

giai đoạn muộn…). Có thể sờ thấy các u cục, đám cứng trong ổ bụng. Có thể

có dấu hiệu tắc hoặc bán tắc ruột do các hạch dính vào ruột. Đơi khi còn thấy

có hiện tượng dò thành bụng, bàng quang.

- Thay đổi tri giác hoặc DNT bất thường: Lao thần kinh trung ương.

Thường biểu hiện bệnh cảnh viêm màng não mạn tính khởi phát bằng đau đầu

tăng dần và rối loạn tri giác. Khám thường thấy có dấu hiệu cổ cứng và dấu

hiệu Kernig(+). Có thể có dấu hiệu tổn thương dây thần kinh sọ não và dấu

hiệu thần kinh khu trú. Các tổn thương tuỷ sống có thể gây ra liệt 2 chi dưới

(liệt cứng hoặc liệt mềm).

Chẩn đoán: Dựa vào bệnh cảnh lâm sàng và xét nghiệm dịch não tuỷ.

Dịch não tuỷ áp lực tăng, dịch có thể trong, vàng chanh, có khi hơi vẩn đục.

Bạch cầu tăng thường ít hơn 500 TB / mm 3 và bạch cầu lympho chiếm ưu thế.

Xét nghiệm sinh hoá thường cho thấy protein tăng và đường giảm. Xét

nghiệm soi trực tiếp tìm AFB có thể dương tính trong một số ít trường hợp,

nên làm phương pháp lắng cặn hoặc ly tâm với số lượng lớn dịch não tuỷ

(VD: 10 ml). Ở các nơi có điều kiện cần làm phương pháp nhân gien (PCR)

để tìm AFB, hình ảnh bất thường trên phim chụp CT- MRI…

1.7. Hướng dẫn chẩn đoán lao trẻ em của CTCLQG Việt nam



19



Trong hướng dẫn mới nhất của CTCLQG, việc chẩn đoán bệnh lao ở trẻ

em chủ yếu dựa vào ba yếu tố: (1) tiền sử tiếp xúc với nguồn lây trong vòng 1

năm, (2) các dấu hiệu lâm sàng nghi lao và (3) tổn thương nghi lao trên phim

X.quang. Trẻ có ít nhất 2 trong 3 yếu tố trên có thể chẩn đốn và cho điề u trị

lao để phòng mắc lao tiến triển khi trẻ lớn .

Các yếu tố nguy cơ khiến trẻ dễ mắc bệnh lao: Khi trẻ em có một trong

các yếu tố sau sẽ làm tăng khả năng mắc lao, khi có triệu chứng lâm sàng nghi

lao: Có tiền sử tiếp xúc gần gũi với nguồn lây lao; Trẻ em dưới 5 tuổi; Trẻ em

nhiễm HIV; Trẻ em suy dinh dưỡng nặng; Trẻ em ốm yếu kéo dài sau khi mắc

sởi .

Các phương pháp chẩn đoán:

Khai thác tiền sử: Tiền sử tiếp xúc với nguồn lây: Trẻ có tiền sử sống

cùng nhà với người mắc bệnh lao phổi trong vòng 1 năm trở lại là một trong 3

yếu tố quan trọng chẩn đoán lao. Tiền sử các triệu chứng lâm sàng nghi lao:

Sút cân hoặc không tăng cân, hoặc hay tái diễn các triệu chứng viêm nhiễm

đường hơ hấp (ho/khò khè, có thể sốt nhẹ...) và các triệu chứng khác tùy theo

cơ quan bị lao .

Khám lâm sàng: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng: Cân trẻ và hỏi tuổi để

đối chiếu trên biểu đồ cân nặng xem trẻ có nhẹ cân hoặc suy dinh dưỡng

khơng. Trẻ mắc lao có sút cân hoặc không tăng cân, suy dinh dưỡng. Triệu

chứng cơ năng nghi lao phổi: Ho dai dẳng, khò khè, có thể sốt nhẹ,...các triệu

chứng này không cải thiện khi điều trị bằng kháng sinh phổ rộng 5-7 ngày

(không điều trị bằng Rifampixin và các kháng sinh thuộc nhóm

Fluoroquinolones) hoặc hay tái diễn các triệu chứng hô hấp. Khám thực thể

cơ quan nghi bị lao: Phổi, màng não, hạch, xương khớp... Nghe phổi: Có thể

thấy ran ẩm, ran nổ, đơi khi chỉ nghe thấy ran rít phế quản, ran ngáy .



20



Xét nghiệm vi khuẩn: Xét nghiệm tìm AFB hoặc vi khuẩn lao bất kỳ khi

nào, với bất kỳ bệnh phẩm gì có thể lấy được, ưu tiên xét nghiệm Gene -Xpert

MTB/RIF, hoặc ni cấy nhanh (nếu có điều kiện). Kết quả xét nghiệm vi

khuẩn lao thường là âm tính. Bởi vậy, chẩn đốn bệnh lao ở trẻ em khơng

nhất thiết phải dựa vào bằng chứng vi khuẩn .

Chụp X.quang: Cần chụp X.quang cơ quan nghi ngờ bị lao như: Phổi,

xương khớp, cột sống,...Các tổn thương nghi lao trên X.quang ở trẻ em có tiền

sử tiếp xúc nguồn lây hoặc ở trẻ em có các triệu chứng lâm sàng nghi lao có

giá trị để chẩn đốn lao. Những hình ảnh bất thường trên phim X.quang lồng

ngực thường quy (thẳng và nghiêng) gợi ý về lao phổi trẻ em: Hạch bạch

huyết cạnh khí phế quản hoặc hạch rốn phổi to, hoặc điển hình của “Phức

hợp nguyên thủy” trên X.quang ngực. Nốt, thâm nhiễm ở nhu mô phổi. Các

hạt kê ở nhu mô phổi. Hang lao (có thể thấy ở trẻ em lớn). Tràn dịch màng

phổi hoặc màng tim có xu hướng gặp ở trẻ lớn. Viêm rãnh liên thùy phổi .

Một số kỹ thuật can thiệp hỗ trợ chẩn đoán lao trẻ em: Hút dịch dạ dày ở

trẻ nhỏ. Lấy đờm kích thích (khí dung nước muối ưu trương 5%). Chẩn đốn

hình ảnh: CT, MRI, siêu âm. Chọc hút, sinh thiết các tổ chức nghi lao như

hạch ngoại vi, áp xe lạnh, chọc tủy sống lấy dịch xét nghiệm sinh hóa, tế bào,

tổ chức học và vi khuẩn học. Nội soi phế quản hút rửa phế quản lấy bệnh

phẩm xét nghiệm .

Xét nghiệm HIV: Tất cả trẻ em chẩn đoán mắc bệnh lao cần được xét

nghiệm HIV .

Chẩn đoán lao phổi ở trẻ em: Ba yếu tố cần tìm để chẩn đốn lao phổi ở

trẻ em: (1) Tiền sử tiếp xúc với nguồn lây lao trong vòng 1 năm trở lại. (2)

Triệu chứng lâm sàng nghi lao (không đáp ứng với điều trị thông thường). (3)

Hình ảnh tổn thương trên Xquang phổi nghi lao. Chẩn đốn lao phổi khi trẻ

có ít nhất 2 trong 3 yếu tố trên .



21



Hình 2.1. Các phương pháp chẩn đốn lao hiện nay



Hình 2.2. Quy trình xử lý bệnh phẩm xét nghiệm Xpert MTB/RIF



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đầu tiên, quan trọng là xác định xem trẻ bị nhiễm lao tiềm ẩn hay bệnh lao thực sự . Trẻ em bị nhiễm lao tiềm ẩn thường không có triệu chứng của bệnh, không truyền bệnh và vi khuẩn lao không phát triển (trạng thái ngủ). Nếu vi khuẩn lao hoạt hóa, nhân lên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×