Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vấn đề cần đặt ra là phải sớm nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật và hướng dẫn thi hành một cách động bộ, chặt chẽ; đồng thời đảm bảo giải quyết nhanh chóng, công bằng các hợp đồng tranh chấp phát sinh để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại

Vấn đề cần đặt ra là phải sớm nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật và hướng dẫn thi hành một cách động bộ, chặt chẽ; đồng thời đảm bảo giải quyết nhanh chóng, công bằng các hợp đồng tranh chấp phát sinh để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại

Tải bản đầy đủ - 0trang

II- NỘI DUNG

1. Hợp đồng mua bán hàng hoá và những điều khoản cần lưu ý

Theo Điều 24- Luật Thương mại 2005 thì “Hợp đồng mua bán hàng

hố là hợp đồng được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập

bằng hành vi cụ thể; Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp

luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định

đó”. Dấu hiệu để nhận biết một hợp đồng mua bán hàng hóa phải dựa trên

tiêu chí là sự thõa thuận giữa người bán và người mua. Thể hiện nghĩa vụ

của bên bán giao vật cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ

nhận vật và trả tiền cho bên bán. Khoản 8, Điều 24, Luật Thương mại 2005

quy định “Mua bán hàng hố là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có

nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận

thanh tốn; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và

quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”.

Dưới đây là một số điều khoản chủ yếu cầu lưu ý (hay những nội

dung cần phải có) của hợp đồng mua bán hàng hóa, mà nếu thiếu một trong

những điều khoản này thì hệ quả có thể làm cho hợp đồng khơng có hiệu lực

pháp luật hoặc làm phát sinh khó khăn, tranh chấp trong quá trình thực hiện:

- Chủ thể tham gia xác lập hợp đồng;

- Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa;

- Chất lượng của hàng hóa mua bán;

- Về giá cả hàng hóa;

- Quyền và nghĩa vụ của bên bán;

- Quyền và nghĩa vụ của bên mua;

- Thời điểm chuyển rủi ro.



2. Phân tích, tìm hiểu về những điều khoản cần lưu ý của hợp

đồng mua bán hàng hóa

Để việc thực hiện và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa một cách

sn sẽ, tránh những rủi ro về mặt pháp lý thì các chủ thể, các cá nhân hoạt

động kinh doanh thương mại cần tìm hiểu các quy định của pháp luật liên

quan để để xác lập các giao dịch. Dưới đây chúng ta phân tích và tìm hiểu

về những điều khoản cần lưu ý của hợp đồng mua bán hàng hóa:

2.1. Chủ thể tham gia xác lập hợp đồng

- Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là các cá nhân và tổ

chức, bao gồm bên bán và bên mua. Chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng

hoá chủ yếu là thương nhân. Thương nhân theo quy định của Luật Thương

mại năm 2005 bao gồm: tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân

hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xun và có đăng kí kinh

doanh. Thương nhân là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hố có thể là

thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong hợp đồng mua

bán hàng hố quốc tế).

- Ngồi chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là

thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá.

Hoạt động của chủ thể khơng phải là thương nhân và khơng nhằm mục đích

lợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá chỉ phải tuân theo pháp

luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại năm

2005. Riêng đối với chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản có thể là mọi tổ

chức, cá nhân đầy đủ năng lực, có nhu cầu mua bán tài sản, có sự mở rộng

hơn rất nhiều so với chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

- Đối với chủ thể là cá nhân, để được thừa nhận là chủ thể của hợp đồng

mua bán hàng hóa, cá nhân phải đảm bảo có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự

và năng lực hành vi dân sự. Đây cũng là một trong các điều kiện hiệu lực của

hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Bộ Luật dân sự năm 2005. Năng

lực pháp luật dân sự là khả năng được hưởng quyền lợi và gánh vác những



nghĩa vụ dân sự nhất định (Điều 14 Bộ luật dân sự năm 2005). Năng lực pháp

luật dân sự có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Năng lực

pháp luật dân sự không bị giới hạn bởi tuổi tác, sức khỏe hay bất kỳ một điều

kiện nào khác ngoại trừ những người phạm tội bị truy tố.

Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của

mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự trong thực tế (Điều 17 Bộ

luật dân sự năm 2005). Năng lực hành vi dân sự bị giới hạn bởi hai điều kiện

là điều kiện về tuổi và điều kiện về sức khỏe. Theo Điều 17, 18 và 19 Bộ

Luật dân sự năm 2005, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ, có khả năng tự quyết và chịu trách nhiệm về hành vi của

mình. Ngoại trừ, người đủ 18 tuổi nhưng nếu mắc bệnh tâm thần, bệnh về trí

lực thì khơng có năng lực hành vi, không được giao kết hợp đồng mà phải

do người đại diện theo pháp luật thực hiện.

Quy định về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự là

điều kiện bắt buộc phải có để các cá nhân muốn trở thành chủ thể giao kết

hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính dân sự. Muốn giao kết các hợp đồng

mua bán hàng hóa mang tính thương mại, các nhân còn phải thỏa mãn điều

kiện nữa là phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

- Đối với chủ thể là tổ chức, việc xác định năng lực hành vi dân sự và

năng lực pháp luật dân sự phụ thuộc vào việc tổ chức đó có được cơng nhận

là pháp nhân hay khơng. Ngồi ra, việc xác định năng lực pháp luật dân sự

của một tổ chức cũng khá phức tạp, liên quan đến nhiều văn bản pháp luật

như Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp, Luật ngân hàng Nhà nước…Tổ chức

có thể là một cơng ty, xí nghiệp, hiệp hội, hoặc một cơ quan nhà nước. Năng

lực pháp lý và năng lực hành vi của tổ chức phát sinh khi tổ chức đó được

thành lập và chấm dứt khi tổ chức đó bị giải thể, bị phá sản hoặc bị đình chỉ

hoạt động. Năng lực này sẽ được cụ thể hóa trong điều lệ hoạt động, phù

hợp với quy định của pháp luật.



Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa của tổ chức được thực hiện

thông qua người đại diện. Người đại diện của tổ chức, của pháp nhân có thể

là Giám đốc hoặc người Giám đốc ủy quyền. Đại diện của tổ chức cụ thể đó

là ai thường được xác định trong điều lệ hoạt động hoặc do pháp luật quy

định. Người đại diện này cũng có thể ủy quyền cho người khác ký kết hợp

đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi từng lĩnh vực công việc nhất định

hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.

- Chủ thể bên bán, là chủ sở hàng hóa hoặc người mà chủ sở hữu uỷ

quyền bán, hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu và có thẩm

quyền bán hàng hóa. Vì chỉ có chủ sở hữu mới có quyền định đoạt đối với

tài sản của mình và chỉ có chủ sở hữu mới có quyền thực hiện mọi hành vi

theo ý chí của mình đối với hàng hóa. Một số trường hợp người bán là cơ

quan Nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền hay cơ quan bán đấu giá.

Theo khoản 1 và 2 của Điều 2 Luật Thương mại 2005, bên bán có

thể là thương nhân, cá nhân hoạt động thương mại độc lập.

- Chủ thể bên mua, là người có nhu cầu mua hàng hóa. Theo Luật

thương mại 2005, bên mua có thể là thương nhân, cá nhân hoạt động thương

mại độc lập.

Về nguyên tắc, các bên trực tiếp tham gia việc giao kết hợp đồng bắt

buộc phải có năng lực chủ thể tương ứng với giao dịch mà họ tham gia (như

trên đã trình bày).

2.2. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hố theo quy định của Luật Thương mại năm

2005 có đối tượng là hàng hố. Tuy nhiên khơng thể hiểu theo nghĩa thơng

thường, hàng hố là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm

mục đích thoả mãn nhu cầu của con người hay chỉ bao gồm máy móc, thiết

bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được

lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh đưới hình thức cho

thuê, mà còn là hàng hố hiện đang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai, hàng



hố có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại.

Khoản 2 Điều 3 Luật Thượng mại năm 2005 quy định: “Hàng hóa bao gồm:

(1) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và (2)

Những vật gắn liền với đất đai”.



Còn hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự có đối tượng gồm các loại

tài sản quy định trong Điều 162 Bộ luật Dân sự 2005 : “Vật, tiền, giấy tờ có

giá và các quyền tài sản được phép giao dịch”. Đối tượng của hợp đồng mua

bán tài sản được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 được quy định

mang tính chất khái quát, là những tài sản được phép lưu thơng, bao gồm cả

hàng hóa trong mua bán thương mại. Hàng hóa là đối tượng cuả hợp đồng

mua bán hàng hoá chỉ là một bộ phận của các loại tài sản là đối tượng của

hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự.

Cũng cần lưu ý về chế độ pháp lý của đối tượng mua bán phải là các

vật tự do lưu thông. Nếu là các vật hạn chế lưu thơng như ngoại tệ, các loại

tân dược có nguồn gốc từ chất ma tuý được bào chế dành cho việc điều trị

bệnh... thì việc mua bán phải tuân thủ theo các quy định khác của Nhà nước.

Nếu đối tượng là các loại di tích văn hố lịch sử thỉ chỉ có thể bán cho Nhà

nước. Các vật cấm lưu thơng như ma t, pháo nổ, băng đĩa, hình đồi trụy là

các vật mà Nhà nước cấm lưu hành vì trật tự cơng cộng và vì đạo đức xã

hội; vũ khí, quân trang, quân dụng,... là những vật thuộc sở hữu của tồn dân

khơng được tự do lưu thơng vì có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh

trật tự xã hội.

Đối tượng mua bán phải là vật thuộc quyền sở hữu hợp pháp của

người bán, khơng có tranh chấp... Và chỉ có chủ sở hữu mới có quyền định

đoạt đối với tải sản thuộc sở hữu của mình. Mọi sự mua bán khơng có sự

đồng ý của chủ sở hữu đều vô hiệu. Trường hợp này, người bán cần xuất

trình được bằng chứng để chứng minh tài sản đem bán thuộc sở hữu hợp

pháp của mình.



Về nguyên tắc, chủ sở hữu tài sản không được phép chuyển dịch một

tài sản đang có tranh chấp. Vì nếu một tài sản đang bị tranh chấp mà được

phép chuyển dịch, sẽ dẫn tới hậu quả là khi tranh chấp được giải quyết xong

mà tải sản đã bị chuyển dịch cho người khác rồi thì bên thắng kiện sẽ khơng

được thi hành án. Do đó, khi mua bán phải có giấy xác nhận của cơ quan có

thẩm quyền về tình trạng tài sản mua bán là khơng có tranh chấp.

Đối tượng mua bán phải có thực và được chỉ đích xác. Vật mua bán

phải là vật có thực. Vật có thực là đối tượng của họp đồng mua bán tài sản

có thể hiểu là vật đã tồn tại khi thoả thuận mua bán. Nếu mua bán một vật

khơng có thực, tức hợp đồng mua bán khơng có đối tượng, vì thế mà hợp

đồng khơng có hiệu lực.



2.3. Chất lượng của hàng hóa mua bán

Việc xác định chất lượng của hàng hóa do các bên thoả thuận, hay

chất lượng theo mẫu của bên bán giao cho bên mua. Nếu pháp luật có quy

định thì chất lượng của hàng hóa xác định theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 2, Điều 432 Bộ Luât dân sự 2015 thì “Trường hợp tiêu chuẩn về

chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền

quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn

chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Nếu các bên khơng thoả thuận, pháp

luật khơng quy định thì xác định theo chất lượng trung bình của vật cùng

loại”. Theo khoản 3, Điều 432, Bộ Luật dân sự 2015 thì “Trường hợp chất

lượng vật bán đã được xác định thì người bán phải giao vật đúng chất lượng. Khi

các bên khơng có thoả thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản

mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất

lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề”.

Nếu chất lượng vật bán đã được công bố cơng khai trên bao bì sản



phẩm thì cũng xem như là có thoả thuận, do vậy nếu hàng hóa được giao

khơng đúng chất lượng ghi trên bao bì thì bên vi phạm phải chịu trách

nhiệm.

2.4. Về giá cả hàng hóa

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, giá cả của của hàng hóa là một

trong những nội dung chủ yếu của hợp đồng, mà thực chất nó cũng là đối

tượng của hợp đồng. Giá trong hợp đồng mua bán tài sản là giá trị của tài

sản tính thành một số tiền tại thời điềm và địa điểm xác định.

Theo quy định tại Điểu 433, Bộ Luật dân sự 2015, giá và phương thức

thanh toán do các bên thoả thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu

cầu của các bên. Trường hợp pháp luật quy định giá, phương thức thanh tốn

phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thỏa thuận của

các bên phải phù hợp với quy định đó.

Trường hợp khơng có thỏa thuận hoặc thỏa thuận khơng rõ ràng về giá,

phương thức thanh tốn thì giá được xác định theo giá thị trường, phương

thức thanh toán được xác định theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao

kết hợp đồng.

Theo Điều 52, Luật Thương mại 2005, trường hợp khơng có thoả

thuận về giá hàng hố, khơng có thoả thuận về phương pháp xác định giá và

cũng khơng có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hố được xác

định theo giá của loại hàng hố đó trong các điều kiện tương tự về phương

thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lý, phương thức

thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá.

Giá cả xác định dựa trên cơ sở của giá trị tài sản, nhưng thực chất

không phải là giá trị tài sản. Có thể hiểu giá trị là tổng giá thành để làm ra

sản phẩm dựa trên điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Còn giá cả là do nhu cầu

xã hội, thời gian, địa điểm mua bán... nên trong nhiều trường hợp giá cả có

thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị của tài sản.



Điều kiện về điều khoản giá cả như trên đã khẳng định, giá cả trong

hợp đồng mua bán tài sản là dấu hiệu đặc thù để phân biệt với những hợp

đồng có nội dung chuyển quyền sở hữu khác và nó còn là điều khoản cơ bản

của loại hợp đồng này. Vì thế, giá cả trong loại hợp đồng này phải đáp ứng

điều kiện:

- Giá cả của hợp đồng phải biểu hiện thành một số tiền mà người

mua phải trả cho người bán; và nếu theo họp đồng mà người mua không trả

tiền mà lại trả bằng một vật khác có giá trị tương đương thì đó khơng phải là

hợp đồng mua bán mà là hợp đồng trao đổi tài sản. Thực tế, người ta cũng

có thể thanh tốn bằng vàng, nhất là thời gian trước đây khi điều kiện đồng

tiền quốc nội có sự trượt giá mạnh và tính chất thuận tiện trong việc lưu trữ

của vàng khiến cho người ta có tập quán thanh tốn bằng vàng nhiều hơn.

Tuy vậy, khơng phải lúc nào giá cả của hợp đồng mua bán cũng được các

bên thoả thuận thể hiện ra bằng tiền với một con số cụ thể. Trong thực tế,

đôi khi giá cả của việc mua bán được xác định thông qua quy tắc định giá.

Pháp luật Việt Nam quy định bắt buộc các chủ thể tham gia hợp đồng

phải thiết lập giá cả mua bán phải có thực. Trong điều kiện bình thường, các

bên không được quyền thỏa thuận giá bán hàng hóa dưới giá thành tồn bộ

sản phẩm, vi phạm pháp luật cạnh tranh; hoặc nâng giá hàng hóa cao hơn

mức bình thường nhằm trục lợi bất chính.

2.5. Quyền và nghĩa vụ của bên bán

Bộ Luật dân sự 2015 và Luật thương mại 2005 quy định, ngoài nghĩa

vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua, bên bán còn

phải thực hiện nhiều nghĩa vụ khác. Theo khoản 1, Điều 279 Bộ Luật dân sự

2015, bên bán còn có nghĩa vụ đặc biệt là phải bảo quản, giữ gìn vật đến khi

giao cho bên có quyền; hay theo Điều 46 Luật thương mại 2005, bên bán

còn có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá.

Điều 44, Luật thương mại 2005 quy định, trước thời điểm giao, bên

bán có nghĩa vụ tạo điều kiện cho bên mua kiểm tra hàng hóa.



Bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua đúng số lượng, đúng

chủng loại, đồng bộ và giao cả các vật phụ (nếu có), nếu là vật đặc định thì

phải giao chính vật đặc định đó. Trong hoạt động kinh doanh, bên bán còn

phải giao kèm theo các chứng từ liên quan đến hàng hóa.

Nghĩa vụ giao tài sản chỉ được xem là hoàn thành khi bên bán đã giao tài

sản cho bên mua đúng, đủ và đảm bảo đúng thời gian, địa điểm, phương

thức...

Chuyển quyền sở hữu tài sản. Việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản

trong hợp đồng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, như xác lập quyền sở

hữu của người mua; kể từ khi nhận được quyền sở hữu tài sản thì người mua

trờ thành chủ sở hữu mới có quyền và nghĩa vụ phát sinh trên tài sản; thu

hoa lợi và chịu trách nhiệm về tài sản; xác định thời điểm chịu rủi ro đối với

tài sản...

Thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản, theo quy định pháp luật phụ

thuộc vào đối tượng chuyển giao, đó là loại tài sản là động sản hay bất động

sản, có đăng ký hay khơng đăng ký quyền sở hữu. Từ đó có thể xác định là

thực tế đã chuyển giao hoặc thời điểm hoàn tất thủ tục luật định.

Kèm theo việc chuyển quyền sở hữu tài sản là việc chuyển rủi ro. Rủi

ro có thể hiểu như là một sự kiện bất ngờ, khách quan, không may, mà với

sự xuất hiện của chúng sẽ gây ra sự tổn thất về tài sản.

Nghĩa vụ chịu chi phí vận chuyển và chi phí chuyển quyền sở hữu tài

sản. Theo Điều 442 Bộ Luật dân sự 2015, nghĩa vụ này do các bên thoả

thuận. Trường hợp các bên khơng có thoả thuận hoặc thỏa thuận khơng rõ

ràng thì chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở

hữu được xác định theo chi phí đã được cơng bố, quy định của cơ quan có

thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề. Nhưng nếu các bên khơng có

thoả thuận và pháp luật khơng quy định về chi phí vận chuyển và chi phí

liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu thì bên bán phải chịu chi phí vận

chuyển đến địa điểm giao tài sản và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền



sở hữu.

Nghĩa vụ chịu trách nhiệm về chất lượng và khuyết tật vật bán. Theo

khoản 2, Điều 445 Bộ Luật dân sự 2015, bên bán phải chịu trách nhiệm về

chất lượng của vật bán. Nghĩa là, bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng hoặc

các đặc tính của vật bán.

Nếu sau khi rnua mà bên mua phát hiện ra khuyết tật làm mất hoặc

giảm sút giá trị của vật thi báo ngay cho bên bán và có quyền yêu cẩu bên

bán sửa chữa, đổi vật, giảm giá và bồi thường nếu khơng có thoả thuận khác.

Thông thường điều khoản về thời hạn thông báo khi phát hiện khuyết tật

phải được nói rõ trong hợp đồng và nếu quá thời hạn đó, người bán có quyền

từ chối trách nhiệm đối với khuyết tật

Bên bán không phải chịu trách nhiệm về chất lượng vật bán khi có

khuyết tật trong các trường hợp luật định như: Khuyết tật mà bên mua đã

biết hoặc phải biết khi mua; vật bán đấu giá, vật bán ở cửa hàng đồ cũ; bên

mua có lỗi gây ra khuyết tật của vật. Bên bán chỉ chịu trách nhiệm về khuyết

tật của vật bán trong trường hợp như: Khuyết tật của vật bán là những khiếm

khuyết kỹ thuật làm giảm giá trị, tính năng công dụng của vật khiến cho việc

khai thác, sử đụng vật khơng được hồn hảo như mong đợi.

Nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng. Theo Điều

443, Bộ luật dân sự 2015, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng

dẫn cách sử dụng. Để đảm bảo việc khai thác tốt tài sản bên bán phải có

nghĩa vụ cung cấp thơng tin về việc sử dụng, bảo quản tài sản...

Cách thức cung cấp có thể bằng lời, bằng vãn bản, catalogue hay các

thông tin được ghi trong sách hướng dẫn, trên bao bì sản phẩm... bàng bất kỳ

ngơn ngữ nào.

Bên mua có quyền u cầu bên bán phải cung cấp thông tin. Nếu bên

bán khơng thực hiện nghĩa vụ này thi bên mua có quyền yêu cầu bên bán

phải thực hiện; nếu bên bán vẫn khơng thực hiện thì bên mua có quyền huỷ

bỏ hợp đồng và yêu càu bồi thường thiệt hại.



Nghĩa vụ bảo đảm quyền sử hữu của bên mua. Theo Điều 444, Bộ luật

dân sự 2015 và Điều 45 Luật thương mại 2015, bên bán có nghĩa vụ bảo đảm

quyền sở hữu đối vói tài sản đã bán cho bên mua không bị người thứ ba tranh

chấp. Đây là nghĩa vụ sau khi mua, nhằm chống lại sự quấy nhiễu thực tế và sự

quấy nhiễu pháp lý, gây khó khăn cho việc khai thác, sử đụng tài sản.

Nghĩa vụ bảo hành. Theo Điều 446, Bộ luật dân sự 2015 và Điều 49

Luật thương mại 2015, bên bán có nghĩa vụ bảo hành đối với vật mua bán

trong một thời hạn, gọi là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên

thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Thời hạn bảo hành được tính kể từ

thời điểm bên mua có nghĩa vụ phải nhận vật.

Bảo hành là một hoạt động hậu mãi của nhà sản xuất, theo đó nhà sản

xuất cam kết với khách hàng sẽ bảo đảm cho việc khai thác, sử dụng tài sản

mua bán đúng như công dụng, chất lượng tài sản như đã công bố, trong một

thời hạn nhất định.

Nghĩa vụ bảo hành là việc theo dõi, sửa chữa những khiếm khuyết về

kỹ thuật, bảo đảm cho việc sử đụng tài sản bình thường.

2.6. Quyền và nghĩa vụ của bên mua

Xét về bản chất, hợp đồng mua bán là hợp đồng song vụ, cho nên

người mua về phần mình cũng phải có các nghĩa vụ sau đây:

Trả tiền là nghĩa vụ chính của người mua. Tiền phải trả là tiền đồng

Việt Nam.

Bến mua phải trả đủ tiền đúng phương thức, địa điểm, thời gian do các

bên thoả thuận. Nếu chậm trả thì bên mua phải chịu lãi suất đối với số tiền

chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng

với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh tốn, trừ trường hợp có thoả thuận

khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Tiếp nhận tài sản, là một quyền đồng thời còn là nghĩa vụ của người

mua. Bởi lẽ, trong nhiều trường họp chậm tiếp nhận đối tượng sẽ dẫn đến



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vấn đề cần đặt ra là phải sớm nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật và hướng dẫn thi hành một cách động bộ, chặt chẽ; đồng thời đảm bảo giải quyết nhanh chóng, công bằng các hợp đồng tranh chấp phát sinh để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×