Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Đánh giá khả năng tham gia thị trường của hợp tác xã

II. Đánh giá khả năng tham gia thị trường của hợp tác xã

Tải bản đầy đủ - 0trang

Muc tiêu của nội dung này là xem xét các Các nhân tố ảnh hưởng khả năng tham

gia thị trường của hợp tác xã trên cơ sở phân tích các nhân tố bên ngồi và bên trong

ngành (vĩ



23



mơ và vi mơ )có ảnh hưởng như thế nào đến cơ hội tham gia thị trường của HTX

2.1 Mơi trường bên ngồi (mơ hình PESTE)

a) Nhóm nhân tố chính trị, pháp luật: (P)

Chính trị và pháp luật là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của

các HTX, đặc biệt là đối với các HTX hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu bởi các HTX này

hoạt động trên thị trường quốc tế với lợi thế mạnh trong cạnh tranh là lợi thế so sánh giữa

các nước. Chính trị ổn định, pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX khi

tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả.

Chẳng hạn bất kỳ một sự ưu đãi về thuế xuất khẩu nào cũng ảnh hưởng đến khả

năng cạnh tranh của các HTX trong nước.

b) Nhóm nhân tố kinh tế: (E)

- Tốc độ tăng trưởng cao của nước sở tại luôn tạo điều kiện cho các HTX hoạt động

trên các lĩnh vực sự tăng lên về khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, khi tăng

trưởng cao khả năng tích tụ tập trung tư bản cao do đó khả năng sản xuất kinh doanh và

khả năng cạnh tranh của các HTX ngày càng cao.

- Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của HTX. Khi tỷ giá hối đoái

giảm, khả năng cạnh tranh của các HTX sẽ tăng lên trên thị trường quốc tế vì khi đó giá

bán của HTX thấp hơn hoá bán của đối thủ cạnh tranh của nước khác và ngược lại tỷ giá

hối đoái tăng sẽ làm cho giá bán hàng hoá cao hơn đối thủ cạnh tranh đồng nghĩa với việc

khả năng cạnh tranh của HTX trên thị trường quốc tế giảm.

- Lãi suất Ngân hàng ảnh hưởng mạnh đến khả năng cạnh tranh của các HTX. Khi

các HTX vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽ làm cho giá thành sản phẩm tăng lên từ đó

giá tăng lên, do đó khả năng cạnh tranh của HTX sẽ giảm so với các đối thủ cạnh tranh, đặc

biệt là các đối thủ có tiềm lực về vốn

c) Nhóm nhân tố về khoa học kỹ thuật cơng nghệ (T)

Khoa học công nghệ hiện đại sẽ làm cho chi phí cá biệt của các HTX giảm, chất

lượng sản phẩm chứa hàm lượng khoa học công nghệ cao, khoa học kỹ thuật, công nghệ

ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của HTX theo hướng sau:

- Tạo ra những thế hệ công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và trang bị lại toàn bộ cơ

sở vật chất kỹ thuật.

- Giúp các HTX trong qúa trình thu nhập, xử lý, lưu trữ và truyền thơng tin một cách

nhanh chóng và chính xác nhất.



- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bảo vệ mơi trường sinh thái, nâng cao uy

tín của HTX.

Các nhân tố về văn hoá xã hội (S)

Phong tục tập qn thị hiếu lối sống, thói quen tiêu dùng, tơn giáo tín ngưỡng ảnh

hưởng đến cơ cấu nhu cầu của thị trường HTX tham gia và từ đó ảnh hưởng đến chính sách

kinh doanh của HTX khi tham gia vào các thị trường khác nhau.

Các nhân tố tự nhiên (E)

Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý của quốc gia, mơi

trường thời tiết khí hậu... các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của HTX theo

hướng tích cực hay tiêu cực. Chẳng hạn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý

thuận lợi sẽ giúp HTX giảm được chi phí, có điều kiện khuyếch trương sản phẩm, mở rộng

thị trường... Bên cạnh đó, những khó khăn ban đầu do điều kiện tự nhiên gây ra làm giảm

khả năng cạnh tranh của HTX.

2.2 Mơi trường ngành (mơ hình 5 áp lực của Porter)

a. Khách hàng:

Khách hàng sẽ tạo áp lực làm tăng khả năng cạnh tranh của HTX bằng việc đòi hỏi

chất lượng sản phẩm cao hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ bán hàng tốt hơn.... và do đó, để duy trì

và tồn tại trên thị trường, buộc các HTX phải thoả mãn tốt các nhu cầu của khách hàng

trong điều kiện cho phép điều này sẽ làm tăng cường độ và tính chất cạnh tranh của HTX.

b. Đối thủ hiện tại (Số lượng các HTX trong ngành hiện có)

Số lượng HTX cạnh tranh và đối thủ ngang sức sẽ tác động rất lớn đến khả năng

cạnh tranh của HTX, khi số lượng đối thủ cạnh tranh tăng thì thị phần của các HTX cạnh

tranh sẽ giảm, khi đó HTX thống lĩnh thị trường hay là HTX có khả năng cạnh tranh cao

nhất, HTX phải đẩy mạnh hơn nữa cường độ cạnh tranh, ngày càng nâng cao khả năng

cạnh tranh của mình. Hơn nữa cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt quyết liệt hơn nếu như có

sự xuất hiện thêm một vài HTX mới tham gia cạnh tranh, khi đó các HTX cũ với lợi thế về

sản phẩm, vốn, chi phí cố định và mạng lưới kênh phân phối… sẽ phản ứng quyết liệt đối

với HTX mới. Tuy nhiên nếu các HTX mới có ưu thế hơn về cơng nghệ, chất lượng sản

phẩm, áp dụng các biện pháp để giành thị phần có hiệu quả hơn thì khả năng cạnh tranh

của các HTX mới sẽ cao hơn nếu các HTX không sử dụng hữu hiệu công cụ trong cạnh

tranh.

c. Đối thủ tiềm ẩn (số lượng HTX có khả năng gia nhập ngành)



Bất cứ HTX nào cũng có khả năng mở rộng ngành nghề kinh doanh mới so với ban

đầu. Ví dụ, HTX trồng rau có thể đầu tư sang ni gia cầm để chủ động nguồn phân hữu

cơ... Sự gia nhập ngành của các HTX phụ thuộc vào: Quy định của chính phủ, tính hấp

dẫn thị trường, đặc trưng hóa sản phẩm hay sự cản trở của các đối thủ cạnh tranh hiện tại

....

d. Các đơn vị cung ứng đầu vào:

Các nhà cung ứng đầu vào có thể gây ra những khó khăn làm giảm khả năng cạnh

tranh của HTX trong những trường hợp sau:

- Nguồn cung cấp mà HTX cần chỉ có một hoặc một vài cá nhân, đơn vị độc quyền

cung ứng.

- Nếu HTX khơng có nguồn cung ứng nào khác thì HTX sẽ yếu thế hơn trong mối

tương quan thế và lực đối với nhà cung ứng hiện có.

- Nếu nhà cung cấp có đủ khả năng, đủ các nguồn lực để khép kín sản xuất, có hệ

thống mạng phân phối hoặc mạng lưới bán lẻ thì có thế lực đáng kể đối với HTX với tư

cách là khách hàng.

Tất cả những khó khăn đối với HTX có thể gặp phải ở trên sẽ giảm đến sự phụ

thuộc của HTX vào các đơn vị cung ứng đầu vào có thể gây ảnh hưởng mạnh đến khả năng

cạnh tranh của HTX.

Để giảm bớt các tác động không tốt từ các nhà cung ứng, các HTX phải xây dựng

cho mình một hay nhiều người cung ứng, nghiên cứu tìm hiểu nguồn đầu vào thay thế khi

cần thiết và cần có chính sách dự trữ hàng hố hợp lý.

e. Sức ép của sản phẩm thay thế:

Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một yếu tố nhằm đáp ứng sự biến động của

nhu cầu thị trường theo xu hướng ngày càng đa dạng phong phú và cao cấp hơn và chính

nó làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế.

Đặc biệt nhiều sản phẩm thay thế được sản xuất trên những dây chuyền kỹ thuật

công nghệ tiên tiến hơn, do đó có sự cạnh tranh cao hơn, sản phẩm thay thế phát triển sẽ

làm giảm khả năng cạnh tranh của các HTX khơng có sản phẩm thay thế.

Ngồi việc phân tích các nhân tố bên ngoài và trong ngành. HTX cần xem xét các

nhân tố nội tại bên trong HTX như năng lực, trình độ , đội ngũ... trong việc đánh giá khả

năng gia nhập ngành.

III. Căn cứ pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của hợp tác xã

1. Luật Hợp tác xã năm 2012;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Đánh giá khả năng tham gia thị trường của hợp tác xã

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×