Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.5 Ma trận biểu diễn mức xám của thành phần BLUE.

Hình 2.5 Ma trận biểu diễn mức xám của thành phần BLUE.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Độ phân giải (Resolution) của ảnh là mật độ điểm ảnh được ấn định trên một

ảnh số được hiển thị. Khoảng cách giữa các điểm ảnh phải được chọn sao cho mắt

người vẫn thấy được sự liên tục của ảnh. Việc lựa chọn khoảng cách thích hợp tạo nên

một mật độ phân bổ, đó chính là độ phân giải và được phân bố theo trục x và y trong

không gian hai chiều.

Ví dụ: Độ phân giải của ảnh trên màn hình CGA (Color Graphic Adaptor) là một lưới

điểm theo chiều ngang màn hình: 320 điểm chiều dọc * 200 điểm ảnh (320*200). Rõ

ràng, cùng màn hình CGA 12” ta nhận thấy mịn hơn màn hình CGA 17” độ phân giải

320*200. Lý do: cùng một mật độ (độ phân giải) nhưng diện tích màn hình rộng hơn

thì độ mịn (liên tục của các điểm) kém hơn.

2.2 Không gian màu

Mọi vật mà ta quan sát được là nhờ vào ánh sáng. Bề mặt của các vật đó là sáng

hay tối có hai ngun nhân chính:năng suất phản xạ của nó và số lượng ánh sáng

chúng ta nhận được từ nguồn. Có hai loại nguồn sáng, loại thứ nhất nó tự phát ra ánh

sáng gọi là nguồn sơ cấp (mặt trời, đèn điện,…); loại thứ hai nó chỉ phản xạ hay

khuếch tán ánh sáng mà nó nhận được từ các nguồn khác nhau gọi là nguồn sáng thứ

cấp (mặt trăng, đồ vât,…).

Ánh sáng khác với sóng điện từ là mắt người nhận biết được nó. Mắt người nhạy

cảm với sóng điện từ trong khoảng bước sóng λ, trong khoảng từ 350nm cho đến

750nm. Hình trên biểu diễn các dạng sóng điện từ theo bước sóng và dãy nhìn thấy

được. Cảm nhận màu có được do 3 loại tế bào hình chop trong võng mạc mắt người.

Mỗi tế bào nhạy cảm với 1 dãy phổ nhất định tương ứng với các màu đỏ, xanh lục,

xanh dương. Nguồn sáng có dãy thành phần phổ ƒ(λ), được biến đổi bởi bề mặt phản

xạ của vật thể. Giả sử r(λ) là hàm phản xạ này. Khi đó, số đo R được tào từ tế bào mau

đỏ sẽ là:

R = ʃ ƒ(λ) r(λ)hR(λ)d(λ)

Tức là tín hiệu hình ảnh trên các lối ra của sensor (tế bào) trong thực tế chính bằng

tích phân của ba thành phần phụ thuộc vào bước sóng khác nhau: nguồn sáng ƒ, phản

xạ bề mặt của vật r và đặc tính sensor hR.



Vậy, mọi màu sắc tự nhiên đều được tổ hợp từ ba màu cơ bản: màu đỏ R (Red), màu

xanh lục G (Green) và màu xanh dương B (Blue). Người ta cũng quy định ba màu cơ

bản tương ứng với các bước sóng là 700nm(Red), 546,8nm(Green) và 435,8nm(Blue).







Có ba thuộc tính trong việc cảm nhận màu:



- Hue: là sắc thái

- Saturation: là mức độ bão hòa

- Brightness: là độ sáng



Với nguồn sáng đơn sắc thì sác lượng tương ứng với bước sóng của ánh sáng

nguồn. Độ bão hòa thay đổi nhanh nếu lượng ánh sáng trắng được thêm vào.

 Một số không gian màu





Không gian màu RGB (Red, Green, Bule)

Tổ chức quốc tế về chuẩn hóa màu CIE (Commission Internationale d’Eclairage)



đưa ra một số các tiêu chuẩn để biểu diễn màu. Các hệ này có các dạng chuẩn riêng, ở

đây chỉ đề cập đến chuẩn màu CIE-RGB (dùng hệ tọa độ 3 màu cơ bản). Như đã nêu

trên, một màu là sự pha trộn của ba màu cơ bản với 1 tỷ lệ nhất định nào đây. Vậy, một

pixel ảnh màu ký hiệu Px được viết như sau:

Px =

Ngươi ta dùng hệ tọa độ ba màu R-G-B (tương ứng với tọa độ x-y-z) để biểu diễn

màu, nên khơng gian màu RGB có dạng như sau:



Hình 2.6 : Hệ trục tọa độ Red Green Blue.



Trong cách biểu diễn này ta có cơng thức R + G +B = 1. Công thức này được gọi

là cơng thức Maxell. Còn gọi là ảnh “truecolor” do tính trung thực của nó. Ảnh này

được biểu diễn bởi một ma trậnba chiều kích thước m x n x 3, với m x n là kích thước

ảnh theo pixels. Ma trận này định nghĩacác thành phần màu red, green, blue cho mỗi

điểm ảnh, các phần tử của nó có thể thuộc kiểu uint 8, uint16 hoặc double.



Hình 2.7 Mơ hình khơng gian màu RGB .





Khơng gian màu HSV

Thay vì chọn các phần tử R,G,B để có màu mong muốn, người ta chọn các phần tử



tham số màu Hue, Saturation và Value để pha màu.

Mơ hình khơng gian màu HSV có thể được suy diễn từ khơng gian màu RGB.



Hình 2.8 Mơ hình khơng gian màu HSV



Hình 2.9 Mơ hình khơng gian màu HSV





Trong đó:



H: Hue là bước sóng của ánh sáng hay còn gọi là ngưỡng màu

S: Saturation là độ tinh khiết của ánh sáng

V: Value là cường độ hay độ chói của ánh sáng



Ngồi ra, còn có một vài không gian màu khác, mỗi khôi gian màu đề có những

ứng dụng riêng. Tùy thuộc vào tính chất cơng việc mà chúng ta lựa chọn không gian

màu cho phù hợp với yêu cầu.

Giả sử trong việc nhận diện, phân biệt màu sắc thì chúng ta chọn khơng gian màu

HSV. Khơng gian màu HSV có ưu điểm là phù hợp với nhaajnj thức của con người

nên nó là phù hợp nhất trong việc phân loại màu sắc.





Mơ hình màu HLS

Mơ hình màu HLS được xác định bởi tập hợp hình chóp sáu cạnh đơi của khơng



gian hình trụ.Sắc màu là góc quanh trục đứng cảu hình chóp sáu cạnh đơi với màu đỏ

tại góc 0o. Các màu sẽ xác định theo thứ tự giống như trong biểu đồ CIE khi ranh giới

của nó bị xoay ngược chiều kim đồng hồ: Màu đỏ, màu vàng, màu lục, màu xanh tím,

màu lam và đỏ thẫm. Điều này cũng giống như thứ tự sắc xếp trong mẫu hình chóp sáu

cạnh đơn HSV.



Hình 2.10 Mơ hình màu HLS



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.5 Ma trận biểu diễn mức xám của thành phần BLUE.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×