Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các phụ tùng, đồ gá dùng trên máy khoan:

Các phụ tùng, đồ gá dùng trên máy khoan:

Tải bản đầy đủ - 0trang

a)



b)



Hình 6.2:

a) Cách lắp mũi khoan.

b) Bạc cơn.



- Đối với mũi khoan chuôi côn: Khi phần côn của mũi khoan và cơn của lỗ trục

chính cùng một số cơn mc thì người ta lắp trực tiếp mũi khoan vào lỗ trục chính máy

khoan. Khi lắp mũi khoan, tay trái nắm đầu trục chính, tay phải cầm mũi khoan xoay mũi

khoan sao cho phần đi bẹt hướng về chỗ phía lỗ hình bầu dục trên trục máy. Lao mạnh

mũi khoan vào lỗ trục chính theo chiều hình mũi tên (hình 6.2a), sao cho đuôi bẹt lọt vào

rãnh ở đáy lỗ trục chính.

Khi phần cơn mũi khoan khơng cùng số cơn mc với cơn trục chính người ta chế

tạo sẵn các loại bạc cơn (hình 6.2b) với cơn ngồi lớn hơn cơn trong, cơn ngồi của bạc

cùng số cơn với trục chính, còn cơn trong cùng số cơn với cơn mũi khoan. Muốn lắp mũi

khoan vào máy, trước hết lắp chuôi mũi khoan vào bạc cơn sau đó lắp bạc cơn cùng mũi

khoan vào trục chính máy.

Chú ý: Chỉ dùng bạc cơn cho những trường hợp độ côn mũi khoan nhỏ hơn độ cơn

trục chính, trường hợp ngược lại khơng lắp được.

Muốn tháo mũi khoan chi cơn khỏi lỗ trục chính, người ta dùng một dụng cụ có

hình cái nêm (hình 6.3a) Luồn miếng chêm qua lỗ ngang trục chính để chiều vát hướng

xuống phía dưới, tay trái cầm mũi khoan, tay phải cầm búa đóng nhẹ vào chêm, mũi

khoan sẽ dời khỏi lỗ trục chính. Cũng có thể dùng miếng chêm có đi cầm để bẩy mũi

khoan rời khỏi lỗ trục chính (hình 6.3b).



Hình 6.3: Dụng cụ dùng tháo lắp mũi khoan.

- Đối với mũi khoan có đi hình trụ: thường mũi khoan có đường kính nhỏ (d<12mm), nên người ta thường



Gia công nguaộ)i cơ bản



b)



Trang 29



dùng các loại bầu kẹp để giữ chặt được mũi khoan trên máy, trong đó bầu kẹp 3 vấu tự

định tâm thường sử dụng nhất (hình 6.4). Khi lắp mũi khoan vào đầu cặp 3 vấu cần chú ý

để cho mặt đầu của đuôi mũi khoan chạm vào miếng đỡ hoặc vào mặt đầu của trục chính,

khơng được lơ lửng, bởi vì lực dọc trục khi khoan sẽ đẩy mũi khoan tụt sâu vào đầu cặp.

Nếu khoan điều chỉnh theo cữ hãm sẽ gây nên sai số chiều dài lỗ.

Hình 6.4: Bầu kẹp 3 vấu

tự định tâm



c) Dụng cụ để cặp giữ vật gia

cơng.

Phân tích lực cắt khi khoan, ta nhận thấy rằng lực dọc trục có tác dụng ấn chặt chi

tiết xuống bàn máy đồng thời mơ men xoắn có tác dụng làm quay vật gia cơng, do đó khi

khoan cần phải có những dụng cụ để cặp giữ vật ở vị trí cố định. Căn cứ vào hình dạng

chi tiết, vị trí lỗ khoan để chọn dụng cụ gá để gá lắp

nhanh, thuận tiện và khoan chính xác. Khi khoan những

lỗ có đường kính nhỏ <10mm trên những vật nhỏ trọng

lượng khơng q 10kg, người ta đặt chi tiết lên miếng

đỡ và giữ vật bằng ê tơ tay. Khi khoan lỗ có đường kính

lớn, phải gá vật trên những dụng cụ ê tơ máy (hình 6.5),

khối V, bích bu lơng và các dụng cụ chun dùng khác.

Hình 6.5: Êtơ máy khoan

III. Mũi khoan:

1. Cấu tạo chung:



Cổ



Hình 6.6: Cấu tạo chung mũi khoan ruột gà

a) Chi hình trụ.

b) Chi cơn.

c) Góc mài sắc mũi khoan

Vật liệu chế tạo thường là các loại thép tốt: CD100A, CD120A hoặc thép hợp kim

dụng dụng cụ như 9XC, P19, P18…

Kết cấu chung của mũi khoan gồm 3 phần: Chi, cổ và bộ phận cơng tác

(hình 6.6).

- Phần chi : Là phần lắp vào lỗ của trục chính máy khoan để truyền lực từ trục

máy khoan cho mũi khoan, nhờ bộ phận này mà mũi khoan dễ lắp đồng tâm với trục máy.

Chi mũi khoan có thể là chi trụ hoặc hình cơn, với đường kính mũi khoan lớn thường

làm chi hình cơn, với đường kính mũi khoan nhỏ (<12mm) thường làm chi hình trụ.



- Phần cổ: Là phần nối tiếp giữa phần chuôi phần công tác, phần này chỉ có tác

dụng khi chế tạo mũi khoan, người ta khắc ký hiệu mũi khoan (đường kính, vật liệu, nơi

sản xuất).

- Phần công tác: gồm phần trụ định hướng và phần cắt.

+ Phần trụ định hướng: có tác dụng định hướng mũi khoan khi làm việc, nó còn là

phần dự trữ khi mài lại phần cắt đã mòn.

+ Phần cắt: gồm hai lưỡi cắt chính, một lưỡi cắt ngang và hai lưỡi cắt phụ. Phần

mặt cơn xoắn còn lại của đầu cắt gọi là mặt sau chính của lưỡi cắt chính, mặt rãnh xoắn

gọi là mặt trước. Lưỡi cắt chính của mũi khoan là giao tuyến giữa mặt sau chính và mặt

trước. Lưỡi cắt phụ là đường xoắn chạy dọc cạnh viền của mũi khoan.

2. Các loại mũi khoan:

- Mũi khoan ruột gà: còn gọi là mũi khoan xoắn, loại này được dùng phổ biến nhất,

chi của mũi khoan có 2 loại: chi cơn và chi trụ tròn. Mũi khoan xoắn có tác dụng

để tạo lỗ mới và mở rộng lỗ.

- Mũi khoan bẹt: cấu tạo tương tự như mũi khoan ruột gà, chỉ khác ở phần định

hướng bẹt, vì vậy khơng có rãnh xoắn ốc để thốt phoi, hai cạnh bên có thể làm song song

hoặc cơn ngược 2 – 3% để giảm ma sát với thành lỗ. Đặc điểm của mũi khoan là đơn

giản, dễ chế tạo nhưng lỗ khoan kém chính xác.

- Mũi khoan tâm: là loại chun dùng để khoan tâm, nó chỉ có cơng dụng là khoan

lỗ ở mặt đầu những chi tiết trục.

- Mũi khoan tổ hợp: là một loại dụng cụ cắt liên hợp, cùng một lúc làm được nhiều

công việc khác nhau.

IV. Phương pháp khoan:

1. Các công việc chuẩn bị và điều chỉnh trước khi khoan:

a. Các công việc chuẩn bị trên chi tiết cần khoan:

Công việc đầu tiên là lấy dấu xác định vị trí lỗ khoan trên chi tiết, căn cứ vào kích

thước ghi trên bản vẽ để xác định vị trí tâm lỗ khoan, dùng mũi chấm dấu đánh dấu tâm

lỗ. Nếu trên chi tiết cần khoan nhiều lỗ nằm một hoặc nhiều mặt phẳng, thì cần chú ý đến

vị trí đến các lỗ.

Sau khi lấy dấu, xác định xem chi tiết có cần kẹp chặt hay khơng, nếu phải gá kẹp,

dụng cụ gá phải chọn sao cho phù hợp với hình dạng chi tiết, thao tác nhanh đảm bảo

chính xác. Với chi tiết cần khoan nhiều lỗ, xác định thứ tự khoan các lỗ để quyết định

việc gá đặt. Sau khi gá đặt chi tiết xong kiểm tra lại và điều chỉnh vị trí vật gá thật chính

xác.

b. Chuẩn bị dụng cụ khoan: Căn cứ vào đường kính lỗ định khoan để chọn mũi

khoan. Đối với lỗ có đường kính lớn khơng thể khoan một lần, cần xác định các đường

kính lỗ trung gian để chọn mũi khoan, kiểm tra bộ phận cắt của từng mũi khoan. Nếu cần

mài sửa lại để các góc độ phù hợp với vật liệu chi tiết cần khoan.Với mũi khoan chuôi trụ

phải chuẩn bị đầu kẹp, với mũi khoan chuôi côn phải xem cơn mc có phù hợp với cơn

mc của trục chính máy hay khơng, nếu chưa phù hợp cần chuẩn bị bạc cơn.

Sau đó đặt mũi khoan đã chọn trên bàn máy cạnh vật gia cơng ở vị trí thao tác

thuận lợi nhất; sắp xếp theo thứ tự mũi khoan nào dùng trước để gần, dùng sau để xa, lắp

mũi khoan cần khoan trước lên máy.



c. Điều chỉnh máy: Sau khi gá lắp mũi khoan và vật gia công lên máy, ta tiến hành

điều chỉnh máy bao gồm các công việc sau:

- Điều chỉnh khoảng chạy của mũi khoan xem có khoan hết chiều mũi khoan hay

khơng; nếu khơng hết thì cho bàn máy (ở máy khoan đứng) hoặc giá máy (ở máy khoan

bàn); cần máy (ở máy khoan cần) lên sao cho khoảng chạy của mũi khoan dài hơn chiều

sâu lỗ về cả hai phía (vị trí cao nhất của đầu mũi khoan phải cao hơn mặt vật và vị trí thấp

nhất phải thấp hơn đáy lỗ 10mm).

- Điều chỉnh sao cho tâm mũi khoan trùng với tâm lỗ định khoan, đối với máy

khoan cần ngang công việc này khá thuận lợi vì mũi khoan có thể di chuyển đến vị trí bất

kỳ trong khơng gian nằm trong tầm hoạt động của mũi khoan; vì vậy chỉ việc điều chỉnh

xe dao ra vào trên cần khoan hoặc quay cần khoan trụ máy là có thể đưa mũi khoan đến

đúng tâm lỗ chi tiết.

Đối với máy khoan bàn, máy khoan đứng phải xê dịch vật gia công, công việc này

khá phức tạp đối với chi tiết gá trực tiếp trên bàn máy bằng bích, bu lơng và với những

chi tiết nặng. Sau khi đã xê dịch vật gia công để tâm mũi khoan trùng với tâm mũi khoan,

ta kẹp chặt vật để cố định vị trí. Rồi kiểm tra lại nếu chưa đạt yêu cầu thì phải tiếp tục

điều chỉnh cho đến khi đạt yêu cầu mới thôi.

- Điều chỉnh tốc độ quay và tốc độ tiến dọc của mũi khoan: Căn cứ vào đường kính

mũi khoan, độ cứng vật liệu gia công để chọn lượng chạy dao (chọn theo bảng trong sổ

tay cắt gọt). Sau đó căn cứ vào lượng chay dao để chọn tốc độ cắt, tính ra tốc độ quay của

mũi khoan theo cơng thức:



n

Trong đó:



1000.V

.D



(Vg / ph)



V – là tốc độ cắt, m/phút.

D – là đường kính mũi khoan.

Tốc độ tính ra thường khơng đúng với tốc độ có sẵn của máy, mà ở khoảng giữa

hai tốc độ nào đó. Để đảm bảo độ bền của mũi khoan, chỉ cho phép sử dụng tốc độ của

máy bằng hoặc nhỏ hơn tốc độ tính tốn. Sau đó điều chỉnh tay gạt ở trên máy để trục

chính chạy theo tốc độ vừa chọn. Cho máy chạy thử kiểm tra lại chiều quay mũi khoan.

- Điều chỉnh lượng chạy dao: Điều chỉnh máy cho lượng chạy dao bằng hoặc nhỏ

hơn lượng chạy dao đã chọn theo bảng. Đặt tay gạt để máy chạy với lượng chay dao đã

định. Cần lưu ý chỉ cho mũi khoan ăn tự động khi lỗ khoan sâu, đường kính lớn. Trường

hợp ngược lại cho ăn dao bằng tay.

2. Các phương pháp khoan cơ bản:

a) Khoan lỗ theo vạch dấu:

- Vạch dấu xác định tâm lỗ cần khoan.

- Gá chi tiết gia công lên bàn máy, điều chỉnh đầu nhọn của mũi khoan trùng với

tâm lỗ cần khoan.

- Mở máy, di chuyển mũi khoan đi xuống vừa chạm vào bề mặt chi tiết gia công,

kiểm tra tâm mũi khoan có trùng với tâm lỗ cần khoan khơng, nếu chưa trùng thì hiệu

chỉnh lại đến khi đạt yêu cầu thì tiến hành khoan sâu.

- Khi khoan phải theo dõi quá trình cắt của mũi khoan, phải thường xuyên rút mũi

khoan lên để bẻ phoi và đưa phoi ra ngoài.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các phụ tùng, đồ gá dùng trên máy khoan:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×