Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
học sinh trung học phổ thông

học sinh trung học phổ thông

Tải bản đầy đủ - 0trang

TT



1

2

3

4

5

6

7

8

9



Một số năng lực chung



Đối

tượng



CBQL

GV

CBQL

Năng lực giải quyết vấn đề

GV

CBQL

Năng lực sáng tạo

GV

CBQL

Năng lực tự quản lý

GV

CBQL

Năng lực giao tiếp

GV

CBQL

Năng lực hợp tác

GV

Năng lực sử dụng CNTT và CBQL

GV

truyền thông

CBQL

Năng lực sử dụng ngơn ngữ

GV

CBQL

Năng lực tính tốn

GV

Năng lực tự học



Tổng

số

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30



Mức độ đánh giá

Khơng

Quan Bình

quan

trọng thường

trọng

8

1

0

19

11

0

3

5

1

10

15

5

6

3

0

17

10

3

2

5

2

6

8

16

8

1

0

25

5

0

5

3

1

12

7

11

8

1

0

25

5

0

4

5

0

8

10

12

6

3

0

14

16

0



Điểm

TB

2,89

2,63

2,22

2,17

2,67

2,47

2,0

1,67

2,89

2,83

2,44

2,03

2,89

2,83

2,44

1,87

2,67

2,47



Như vậy, qua kết quả khảo sát cho thấy một số CBQL, GV chưa nhận

thức được đầy đủ tầm quan trọng của một số năng lực chung cần phát triển cho

HS THPT. Do đó, cần phải giải pháp để nâng cao nhận thức cho CBQL và GV

về HĐDH theo định hướng phát triển năng lực.

b) Thực trạng sử dụng hình thức tổ chức, phương pháp dạy học các môn

khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực

Để đánh giá được thực trạng sử dụng HTTC, PPDH các môn KHTN theo

định hướng phát triển năng lực của các trường THPT thành phố Lai Châu, tác

giả sử dụng câu hỏi số 3, phụ lục số 1, qua xử lý kết quả được thể hiện tại bảng

2.9, như sau:



47



Phân tích bảng 2.9, ta thấy tất cả các HTTC, PPDH đã được các trường

THPT thành phố Lai Châu thực hiện, tuy rằng mức độ sử dụng giữa các HTTC,

PPDH có sự khác nhau.

Ba HTTC, PPDH các mơn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển

năng lực: Dạy học theo dự án, thuyết trình, và phương pháp “Bàn tay nặn bột”

thường xuyên được các trường THPT thành phố Lai Châu sử dụng, trong đó

HTTC, PPDH thuyết trình được sử dụng thường xuyên nhất với điểm trung

bình 2,89 đối với CBQL và 2,83 đối với GV.

Các HTTC, PPDH còn lại được các trường THPT thành phố Lai Châu thỉnh

thoảng sử dụng, trong đó dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ có mức điểm trung bình

thấp nhất là 1,89 điểm đối với CBQL và 1,93 điểm đối với GV. Lý giải cho điều

này các CBQL và GV cho rằng do điều kiện cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ

GV, các trang thiết bị dạy học, thực hành thực nghiệm còn thiếu và chưa phù hợp

với HTTC, PPDH mới nên một số HTTC, PPDH các môn KHTN theo định

hướng phát triển năng lực chưa được GV các trường thường xuyên sử dụng.

Tại bảng 2.9 cũng chỉ ra có sự đánh giá khác nhau giữa CBQL và GV,

tuy rằng mức độ đánh giá không quá chênh lệch nhưng cũng cho thấy có sự

nhận thức khơng tương đồng giữa CBQL và GV ở các trường THPT thành phố

Lai Châu, cụ thể ở 3 HTTC, PPDH: PPDH sử dụng mạng điện tử (E-Learning),

Dạy học theo tình huống, Dạy học theo tình huống tất cả GV đều cho rằng các

HTTC, PPDH này thường xuyên được sử dụng với mức điểm trung bình từ 2,4

điểm trở lên, trong khi CBQL chỉ đánh giá ở mức thỉnh thoảng với điểm trung

bình từ 2,33 điểm trở xuống.

Bảng 2.9. Thực trạng phương pháp dạy học các môn khoa học tự nhiên

theo định hướng phát triển năng lực



48



TT



1

2

3

4

5

6

7

8

9



Đối



Tổng



tượng



số



Dạy học phát hiện và giải quyết CBQL

GV

vấn đề

CBQL

Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ

GV

CBQL

Dạy học theo dự án

GV

Thực hành trải nghiệm tại vườn CBQL

trường, sân trường, phòng thí nghiệm GV

CBQL

Thuyết trình

GV

CBQL

Phương pháp “Bàn tay nặn bột”

GV

DH sử dụng cơng nghệ, E- CBQL

GV

Learning

CBQL

Dạy học theo tình huống

GV

CBQL

Phương pháp làm thí nghiệm

GV



9

30

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30

9

30



Phương pháp dạy học



Mức độ đánh giá

Khơng

Thường Thỉnh

bao

xun thoảng

giờ

3

5

1

11

15

4

1

6

2

5

18

7

5

4

0

11

19

0

2

7

0

9

21

0

8

1

0

25

5

0

4

5

0

12

15

7

2

7

0

13

16

1

3

6

0

14

16

0

3

6

0

12

18

0



Điểm

TB

2,22

2,23

1,89

1,93

2,56

2,37

2,22

2,3

2,89

2,83

2,44

2,43

2,22

2,4

2,33

2,47

2,33

2,4



Do đó, muốn đổi mới, muốn áp dụng các HTTC, PPDH mới cũng cần

phải có chất lượng đội ngũ CBQL, GV và các điều kiện về CSVC, trang thiết bị

dạy học tốt thì mới áp dụng được tại các trường THPT.

c) Thực trạng những năng lực của học sinh được quan tâm phát triển

thông qua tổ chức hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định

hướng phát triển năng lực

Để đánh giá được thực trạng những năng lực của HS được quan tâm phát

triển thông qua tổ chức HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển

năng lực, tác giả sử dụng câu hỏi số 4, phụ lục số 1, qua xử lý kết quả được thể

hiện tại bảng 2.10, như sau:

100% CBQL và GV được khảo sát cho rằng 9 năng lực mà tác giả đưa ra

khảo sát được CBQL, GV các trường THPT thành phố Lai Châu quan tâm phát



49



triển thông qua tổ chức HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển

năng lực.

Các năng lực: Năng lực nhận thức kiến thức các môn KHTN, năng lực

phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến KHTN, năng lực tư duy khoa học

được thường xuyên quan tâm phát triển nhất với mức đánh giá điểm trung bình

cao nhất là 2,93 điểm đối với sự đánh giá của GV và 2,89 điểm đối với CBQL.

Trong khi đó năng lực thực hành thí nghiệm và vận dụng trong cuộc sống

cũng thường xuyên được quan tâm, tuy rằng mức đánh giá là thấp nhất, với

điểm trung bình của CBQL là 2,44 điểm, của GV là 2,4 điểm.

Bảng 2.10. Thực trạng những năng lực của học sinh được quan tâm phát triển

thông qua tổ chức hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định

hướng phát triển năng lực

TT

1

2

3

4

5

6

7

8

9



Một số năng lực

Năng lực nhận thức kiến thức các

môn KHTN

Năng lực sử dụng ngôn ngữ

KHTN

Năng lực phát hiện và giải quyết

vấn đề liên quan đến KHTN

Năng lực sử dụng kiến thức KHTN

vào giải quyết vấn đề thực tiễn

Năng lực thực hành thí nghiệm và

vận dụng trong cuộc sống

Năng lực quan sát, thu thập, xử lí

và sử dụng số liệu thực nghiệm

Năng lực tư duy khoa học



Mức độ đánh giá

Đối Tổng

Thường Thỉnh Không Điểm

tượng số

xuyên thoảngbao giờ TB

CBQL 9

8

1

0

2,89

GV

30

28

2

0

2,93

CBQL 9

7

2

0

2,78

GV

30

16

14

0

2,53

CBQL 9

8

1

0

2,89

GV

30

26

4

0

2,87

CBQL 9

7

2

0

2,77

GV

30

22

8

0

2,73

CBQL 9

4

5

0

2,44

GV

30

12

18

0

2,4

CBQL 9

8

1

0

2,89

GV

30

20

10

0

2,67

CBQL 9

8

1

0

2,89

GV

30

27

3

0

2,9

CBQL 9

6

3

0

2,67

GV

30

18

12

0

2,6

CBQL 9

6

3

0

2,67



Năng lực đánh giá định tính và

định lượng kết quả thực nghiệm

Năng lực báo cáo, trình bày và

công bố kết quả thực hiện các

GV

nhiệm vụ được giao



50



30



27



3



0



2,9



Có thể thấy rằng CBQL và GV của các trường THPT thành phố Lai Châu

đã chú ý, quan tâm đến những năng lực của HS cần phát triển thông qua tổ

chức HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực. Đây cũng là

tiền đề, là cơ sở tốt cho Hiệu trưởng các trường có những giải pháp quản lý

HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực hiệu quả, góp phần

nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường trong bối cảnh hiện nay,

đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

2.2.2.2. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo

định hướng phát triển năng lực

a) Thực trạng lập kế hoạch dạy học các môn khoa học tự nhiên theo

định hướng phát triển năng lực

Kế hoạch dạy học là công cụ chủ yếu để Hiệu trưởng quản lý và giám sát

việc thực hiện HĐDH của nhà trường đồng thời là căn cứ để CBQL và GV xây

dựng kế hoạch công tác và kế hoạch giảng dạy từng mơn học. Vì vậy, quản lý

việc xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học là rất cần thiết, tạo điều kiện

thuận lợi cho CBQL và GV trong quá trình thực hiện chương trình, nội dung

dạy học cũng như giám sát chặt chẽ hoạt động này.

Để đánh giá được thực trạng lập kế hoạch dạy học các môn KHTN theo

định hướng phát triển năng lực, tác giả sử dụng câu hỏi số 5, phụ lục số 1, qua

xử lý kết quả được thể hiện tại bảng 2.11, như sau:

Bảng 2.11. Thực trạng lập kế hoạch dạy học các môn khoa học tự nhiên

theo định hướng phát triển năng lực

Đối



Tổng



tượng



số



CBQL

GV

KH của nhà trường về dạy học các môn CBQL

2

GV

KHTN theo định hướng phát triển NL

KH của TCM về dạy học các môn CBQL

3

GV

KHTN theo định hướng phát triển NL

4

CBQL



9

30

9

30

9

30

9



TT



Nội dung



1 Lập kế hoạch chun mơn của nhà trường



51



Mức độ đánh giá

Trung

Điểm

Tốt

Yếu

bình

TB

8

1

0

2,89

27

3

0

2,9

3

6

0

2,33

5

23

2

2,1

2

6

1

2,11

9

15

6

2,1

4

5

0

2,44



Mức độ đánh giá

Trung

Điểm

Tốt

Yếu

bình

TB



Đối



Tổng



tượng



số



GV

theo định hướng phát triển NL

Lập KH của TCM về dạy học các môn CBQL

5

GV

KHTN theo chủ đề/mạch kiến thức

KH sinh hoạt TCM về dạy học các môn CBQL

6

GV

KHTN theo định hướng phát triển NL

Dựa trên mục tiêu NL cần phát triển cho CBQL

7

GV

HS để xây dựng KH dạy học môn học



30



14



15



1



2,43



9

30

9

30

9

30



2

8

2

14

8

18



7

19

7

16

1

12



0

3

0

0

0

0



2,22

2,17

2,22

2,8

2,89

2,6



TT



Nội dung

KH của GV về dạy học các mơn KHTN



Qua kết quả khảo sát ta có thể khẳng định các nội dung lập kế hoạch dạy

học các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực của Hiệu trưởng đã

được đánh giá tốt, tất cả các nội dung được đánh giá từ mức trung bình trở lên,

cụ thể như sau:

- Có 3 nội dung được cả CBQL và GV đánh giá thực hiện tốt là: Lập kế

hoạch chuyên môn của nhà trường, kế hoạch của GV về dạy học các môn

KHTN theo định hướng phát triển năng lực, dựa trên mục tiêu năng lực cần phát

triển cho HS để xây dựng kế hoạch dạy học môn học. Trong đó nội dung lập kế

hoạch chun mơn của nhà trường được đánh giá ở mức cao nhất với mức điểm

đánh giá trung bình của cả CBQL là 2,89 điểm và GV là 2,9 điểm. Điều này

cũng là điều dễ hiểu, bởi các nhà trường phải có kế hoạch chuyên môn theo

từng năm học, từng học kỳ, từng tháng… để thực hiện tốt hoạt động dạy học

trong nhà trường.

- Nội dung kế hoạch sinh hoạt TCM về dạy học các mơn KHTN theo

định hướng phát triển năng lực có sự đánh giá khác nhau giữa CBQL và GV.

Trong khi CBQL cho rằng nội dung này chưa thực hiện tốt và đánh giá ở mức

điểm trung bình là 2,22 điểm, còn GV lại đánh giá nội dung này thực hiện tốt

với mức điểm trung bình là 2,8 điểm.

- Những nội dung: Kế hoạch của nhà trường về dạy học các môn KHTN

theo định hướng phát triển năng lực, kế hoạch của TCM về dạy học các môn



52



KHTN theo định hướng phát triển năng lực, lập kế hoạch của TCM về dạy học

các môn KHTN theo chủ đề/mạch kiến thức bị đánh giá ở mức trung bình. Nội

dung kế hoạch của TCM về dạy học các môn KHTN theo định hướng phát triển

năng lực bị đánh giá mức thấp nhất, với mức điểm trung bình của CBQL là

2,11 điểm và GV là 2,1 điểm. Bên cạnh đó nội dung kế hoạch của nhà trường

về dạy học các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực chưa được

thực hiện tốt, đây cần được xem là hạn chế và cần có giải pháp quản lý để thực

hiện tốt nội dung này.

Từ kết quả khảo sát bằng phiếu khảo sát và trao đổi với CBQL, GV tác

giả thấy thực trạng đáng lo ngại khi 3 nội dung đánh giá ở mức trung bình thì

có 2 nội dung liên quan đến TCM. Thực trạng các trường cũng chỉ ra rằng vai

trò của TCM trong công tác đổi mới PPDH chưa được phát huy và còn tồn tại

nhiều hạn chế, bất cập trong quản lý TCM của Hiệu trưởng các trường.

b) Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động dạy học các môn khoa học tự

nhiên theo định hướng phát triển năng lực

Để đánh giá được thực trạng tổ chức thực hiện HĐDH các môn KHTN

theo định hướng phát triển năng lực, tác giả sử dụng câu hỏi số 6, phụ lục số 1,

qua xử lý kết quả được thể hiện tại bảng 2.12, như sau:

Trong số 10 nội dung tác giả đưa ra khảo sát về thực trạng tổ chức thực

hiện HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực, thì có đến 5

nội dung bị đánh giá ở mức thực hiện trung bình bao gồm các nội dung sau: Tổ

chức triển khai GV dạy môn KHTN nghiên cứu năng lực, cụ thể hóa năng lực

chung, chun biệt qua mơn học; Thiết kế kế hoạch dạy môn KHTN theo định

hướng phát triển năng lực; Thống nhất về HTTC dạy học, về PPDH, về KTĐG

quả dạy học các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực; Tổ chức sinh

hoạt chuyên môn theo chuyên đề, bồi dưỡng năng lực, PPDH theo định hướng

phát triển năng lực cho GV dạy môn KHTN; Vận dụng các HTTC, PPDH tích



53



cực trong dạy học các môn KHTN để phát triển năng lực. Trong đó nội dung

vận dụng các HTTC, PPDH tích cực trong dạy học các môn KHTN để phát

triển năng lực bị đánh giá thấp nhất với mức độ đánh giá 2,11 điểm đối với

CBQL và 2,1 điểm đối với GV. Điều đáng lưu tâm là trong số 5 nội dung này,

có khơng ít CBQL, GV đánh giá mức độ thực hiện yếu, cụ thể tại nội dung tổ

chức sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề, bồi dưỡng năng lực, PPDH theo

định hướng phát triển năng lực cho GV dạy mơn KHTN có 1 CBQL và 5 GV

đánh giá ở mức yếu. Lý giải cho điều này, CBQL và GV cho rằng hầu hết các

buổi sinh hoạt tổ chun mơn vẫn mang tính hình thức, hành chính sự vụ chưa

có nhiều đổi mới trong sinh hoạt chuyên mơn để nâng cao chất lượng dạy học

nói chung và chất lượng dạy học các môn KHTN theo định hướng phát triển

năng lực nói riêng.

Đối với nội dung: Thường xuyên theo dõi, kiểm tra thực hiện kế hoạch dạy

học. Phát hiện và xử lý kịp thời những bất cập, tồn tại có sự đánh giá khác nhau

giữa CBQL và GV. Trong khi CBQL đánh giá nội dung này thực hiện tốt với điểm

trung bình là 2,89 điểm thì ngược lại GV lại chỉ đánh giá nội dung này ở mức độ

trung bình với số điểm là 2,1 điểm, trong đó có 4 GV cho rằng nội dung này thực

hiện yếu. Để làm rõ sự khác biệt, tác giả đã trao đổi với GV của các trường và đều

có chung lời giải là Hiệu trưởng có theo dõi, kiểm tra thực hiện kế hoạch dạy học

nhưng chưa thường xuyên, chủ yếu là phân cơng, giao nhiệm vụ cho Phó Hiệu

trưởng hoặc Tổ trưởng TCM thực hiện nội dung này.

Bên cạnh những tồn tại, hạn chế như đã phân tích ở trên, thì Hiệu trưởng

các trường cũng đã thực hiện tốt các nội dung sau: Sắp xếp, phân công đúng, đủ

giáo viên thực hiện nội dung, chương trình dạy học các mơn KHTN; Kiểm tra

đánh giá kết quả học tập các môn KHTN của HS theo định hướng phát triển

năng lực; Động viên khuyến khích GV ứng dụng CNTT, các phần mềm hỗ trợ,

phương tiện nghe nhìn…để góp phần đổi mới PPDH; Tổ chức hội giảng, thi

54



GV giỏi, động viên, khuyến khích, nhân điển hình các tiết dạy tốt theo hướng

đổi mới PPDH. Trong đó nội dung tổ chức hội giảng, thi GV giỏi, động viên,

khuyến khích, nhân điển hình các tiết dạy tốt theo hướng đổi mới PPDH được

đánh giá thực hiện tốt ở mức tuyệt đối với số điểm trung bình cao nhất là 2,9

điểm. Tiếp đó là nội dung động viên khuyến khích GV ứng dụng CNTT, các

phần mềm hỗ trợ, phương tiện nghe nhìn…để góp phần đổi mới PPDH cũng

được đánh giá ở mức rất cao.

Bảng 2.12. Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động dạy học các môn khoa

học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực

TT



1

2

3



4



5



6



7

8



Mức độ đánh giá

Đối Tổng

Trung

Điểm

Nội dung

Tốt

Yếu

tượng số

bình

TB

Tổ chức triển khai GV dạy môn CBQL

9

3

6

0 2,33

KHTN nghiên cứu NL, cụ thể hóa NL

GV

30

12

16

2 2,33

chung, chun biệt qua mơn học

Thiết kế kế hoạch dạy môn KHTN CBQL

9

2

7

0 2,22

GV

30

9

19

2

2,1

theo định hướng phát triển NL

Thống nhất về HTTC dạy học, về CBQL

9

3

6

0 2,33

PPDH, về KTĐG quả dạy học các môn

GV

30

10

19

1

2,3

KHTN theo định hướng phát triển NL

Sắp xếp, phân công đúng, đủ GV thực CBQL

9

7

2

0 2,78

hiện nội dung, chương trình dạy học

GV

30

18

12

0

2,6

các mơn KHTN

Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo

CBQL

9

3

5

1 2,22

chuyên đề, bồi dưỡng NL, PPDH theo

định hướng phát triển NL cho GV dạy

GV

30

9

16

5 2,13

môn KHTN

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập các CBQL

9

4

5

0 2,44

môn KHTN của HS theo định hướng

GV

30

13

17

0 2,43

phát triển NL

Vận dụng các HTTC, PPDH tích cực CBQL

9

1

8

0 2,11

trong DH các mơn KHTN để phát

GV

30

7

19

4

2,1

triển NL

CBQL



55



9



7



2



0



2,78



TT



Mức độ đánh giá

Đối Tổng

Trung

Điểm

Tốt

Yếu

tượng số

bình

TB



Nội dung



Động viên khuyến khích GV ứng dụng

CNTT, các phần mềm hỗ trợ, phương tiện GV

nghe nhìn…để góp phần đổi mới PPDH

Tổ chức hội giảng, thi GV giỏi, động CBQL

9 viên, khuyến khích, nhân điển hình các

GV

tiết dạy tốt theo hướng đổi mới PPDH

Thường xuyên theo dõi, kiểm tra thực CBQL

10 hiện kế hoạch dạy học. Phát hiện và

GV

xử lý kịp thời những bất cập, tồn tại



30



26



4



0



2,87



9



8



1



0



2,89



30



27



3



0



2,9



9



8



1



0



2,89



30



7



19



4



2,1



Nhìn chung các nội dung tác giả đưa ra khảo sát về thực trạng tổ chức

thực hiện HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực đều

được đánh giá ở mức trung bình trở lên. Điều này chứng tỏ Hiệu trưởng các

trường cung đã quan tâm thực hiện tốt công tác tổ chức trong nhà trường, tuy

nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần được khắc phục để nâng cao

chất lượng dạy học trong nhà trường.

c) Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học các môn khoa học tự

nhiên theo định hướng phát triển năng lực

Để đánh giá được thực trạng chỉ đạo thực hiện HĐDH các môn KHTN

theo định hướng phát triển năng lực, tác giả sử dụng câu hỏi số 7, phụ lục số 1,

qua xử lý kết quả được thể hiện tại bảng 2.13, như sau:

Nhìn vào bảng 2.13, chúng ta thấy chỉ có duy nhất nội dung chỉ đạo đổi

mới KT-ĐG kết qua học tập HS theo định hướng phát triển năng lực được cả

CBQL và GV đánh giá thực hiện tốt với mức điểm trung bình của CBQL là

2,89 điểm và của GV là 2,57 điểm.

Còn lại 8 nội dung đều bị đánh giá mức độ thực hiện ở mức trung bình,

nội dung có mức điểm trung bình thấp nhất thuộc về nội dung: Chỉ đạo GVCN,

GV bộ môn hướng dẫn cho HS xây dựng kế hoạch tự học, PP tự học, tự nghiên

cứu, vận dụng các kỹ năng phù hợp trong việc học tập của mình với mức điểm

trung bình của CBQL là 2,0 điểm, của GV là 2,17 điểm trong đó có 2 CBQL và

56



5 GV đánh giá nội dung này ở mức yếu. Tiếp đến là nội dung chỉ đạo TCM,

GV, đoàn thể, lực lượng trong nhà trường tổ chức các hoạt động trải nghiệm

sáng tạo cho HS với điểm trung bình 2,11 điểm đối với CBQL và 2,0 điểm đối

với GV và có 1 CBQL cùng 8 GV đánh giá ở mức yếu.

Để làm rõ hơn thực trạng này và lý giải vì sao nhiều nội dung trong hoạt

động chỉ đạo thực hiện HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển năng

lực có mức độ đánh giá trung bình cao như vậy, tác giả đã trao đổi trực tiếp với

một số CBQL và một số GV cũng như nghiên cứu, tìm hiểu thêm các tài liệu,

văn bản của các trường cho thấy: Công tác chỉ đạo hoạt động dạy học nói chung

của nhà trường là tốt, có đầy đủ các văn bản, tài liệu chứng minh các hoạt động

của nhà trường cũng đều được các Hiệu trưởng quan tâm chỉ đạo thực hiện.

Tuy nhiên, đối với HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển

năng lực của các trường còn thiếu sự chỉ đạo trực tiếp, riêng biệt thể hiện bàng

các văn bản, tài liệu cụ thể. Công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng đối với HĐDH

các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực thường được lồng ghép

chung trong các hoạt động chỉ đạo của Hiệu trưởng trong các hoạt động của

nhà trường. Đây chính là lý do cơ bản dẫn đến sự đánh giá chưa cao của CBQL

và GV dành cho các nội dung này.

Bảng 2.13. Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học các môn khoa

học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực

TT



Đối



Tổng



tượng



số



Chỉ đạo TCM, GV lập kế hoạch dạy CBQL



9



Nội dung



1 học các môn KHTN theo định hướng



GV



phát triển năng lực.

Chỉ đạo GV thiết kế hoạt động dạy CBQL

2



Mức độ đánh giá

Trung

Điểm

Tốt

Yếu

bình

TB

2

7

0

2,22



30



8



22



0



2,27



9



3



6



0



2,33



30



10



20



0



2,33



9



1



8



0



2,11



và hoạt động học sao cho nhiều HS

có điều kiện được tham gia thực GV

hành, luyện tập nhằm PTNL



3



CBQL



57



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

học sinh trung học phổ thông

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×