Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
*Trao đổi chất và năng lượng

*Trao đổi chất và năng lượng

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.3. Đặc điểm của các tố chất thể lực chuyên môn trong nhảy cao nằm

nghiêng

Hệ quả của giáo dục thể chất gắn liền với đặc điểm giải phẫu sinh lí,

tâm lí học và đặc điểm phát triển tố chất thể lực ở mỗi lứa tuổi con người. Tác

dụng của giáo dục thể chất là rất lớn, nó khơng những đem lại sức khỏe cho

học sinh mà còn góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện.

Tố chất thể lực là sự biểu hiện tổng hợp của hệ thống chức năng các cơ

quan trong cơ thể, tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa

tuổi. Sự tăng trưởng này có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kì dậy thì.

Giai đoạn lứa tuổi khác nhau thì tố chất thể lực phát triển cũng khác nhau.

Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển qua giai đoạn ổn định

theo thứ tự phát triển sau: Tố chất sức nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố

chất sức bền và tố chất sức mạnh.

1.3.1. Tố chất sức nhanh

Tố chất sức nhanh phát triển sớm hơn sự phát triển tố chất sức mạnh,

thời kì phát triển tố chất sức nhanh quan trọng nhất ở tuổi học sinh Tiểu học

và Trung học cơ sở.

Sức nhanh là khả năng của con người thực hiện động tác trong thời gian

ngắn nhất [5].

Trong nhảy cao thì tốc độ phụ thuộc vào các động tác nhanh và được

thực hiện với tốc độ cao.

Theo quan điểm sinh hóa: Sức nhanh phụ thuộc và hàm lượng ATP

trong cơ và tốc độ phân giải ATP, dưới ảnh hưởng xung động của các bài tập

diễn ra trong thời gian ngắn nên quá trình tổng hợp ATP hầu như được thực

hiện theo cơ chế yếm khí.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng để đạt được thành tích

trong nhảy cao, phụ thuộc rất nhiều vào các tố chất chuyên môn, đặc biệt là



tốc độ. Do vậy ta nên chọn các bài tập khác nhau, tập phản ứng lặp lại theo tín

hiệu đột ngột và phải phát triển toàn diện những khả năng chức phận của cơ

thể.

Quãng nghỉ hợp lý sao cho cơ thể phục hồi cường độ tập với số lần tập

tiếp theo.

1.3.2. Tố chất sức mạnh

Sức mạnh là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh, lực tối đa mà

con người có thể sinh ra được một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh cơ của

động tác. Mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng nhóm cơ riêng

biệt và sự phối hợp giữa chúng[5].

Sứ c mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:



- Số

lươṇ



g đơn vi

̣vâṇ



cơ) tham gia vào căng cơ



đôṇ g

(sơị



- Chế đô ̣ co củ a đơn vi

̣vâṇ



đôṇ g

(sơị



- Chiề u dà i ban đầ u củ a

sơị



cơ trướ c lú c co



Khi số

lươṇ



g cơ tố i đa cá c

sơị



cơ) đó



cơ đề u co theo chế đô ̣ co cứ ng và chiề u



dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thi cơ sẽ co với lực tối đa,

lưc̣

là sức mạnh tối đa. Sứ c maṇ h tố i đa củ a cơ phu

môṭ và tiết diện ngang (đô ̣ daỳ ) của các sợi thuôc̣



đó goị



vào số lượng sợi cơ



cơ.

Thưc tế sứ c maṇ h cơ củ a con ngườ i

đươc̣



đo khi cơ co tić h

cưc̣



, tứ c là



có sự tham gia của ý thức. Vì vậy sức mạnh đó là sức mạnh tích cực tối đa.

- Các yếu tố ả nh hưở ng đế n sứ c maṇ h

+ Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi

+ Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp giữ

các sợi cơ và các cơ trước tiên là khả năng chức năng của nơron thần kinh vận

đôṇ g, tứ c là mức độ phát xung động với tần số cao.

Đặc trưng lượng vận động phát triển sức mạnh trong huấn luyện chuyên

môn gồm các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể và khắc phục trọng lượng



bên ngoài với sử dụng trọng lượng lớn từ 40 - 50% trọng lượng cơ thể và hoạt

động với thời gian ngắn. Vậy các bài tập nhảy, bật nhảy, các bài tập liên

hoàn, các bài tập với tạ đòn... và những bài tập phát triển sức mạnh đều có

tính đặc trưng lượng của vận động.

- Sức mạnh tốc độ: Loại sức mạnh này thể hiện trong động tác chạy đà.

- Sức mạnh bột phát: Loại sức mạnh thể hiện trong động tác giậm nhảy

(sức bật).

Những bài tập phát triển sức mạnh đều có tính đặc trưng lượng vận

động:

- Cường độ hoạt động trung bình.

- Khối lượng lớn.

+ Số lần lặp lại.

+ Tổ lặp lại nhiều lần.

- Tính chất nghỉ ngơi phải đầy đủ.

1.3.3. Tố chất khéo léo

Nếu như sức nhanh, sức mạnh dựa trên cơ sở hệ thống thích ứng về mặt

năng lực thì tố chất khéo léo lại phụ thuộc vào các quá trình điều khiển hành

động vận động. Là cơ sở cho việc tiếp thu nhanh chóng và thực hiện một cách

có hiệu quả các hành động vận động phức tạp[5].

Căn cứ vào đặc điểm các loại hoạt động thể thao và yêu cầu riêng của

chúng về phối hợp vận động, người ta chia 7 loại tố chất khéo léo hay còn gọi

là năng lực phối hợp vận động.

Năng lực liên kết vận động: Nhằm liên kết các hoạt động vận động của

từng bộ phận trên cơ thể, các phần của động tác theo mục đích hành động

nhất định. Năng lực này có ý nghĩa đối với tất cả các môn thể thao, đặc biệt là

các mơn mang tính chất kỹ thuật như: Thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật...



Cơ quan thu nhận và xử lý năng lực này là: Cơ quan phân tích thị giác

và cảm giác cơ bắp.

Năng lực định hướng: Nhằm xác định thay đổi tư thế và hoạt động của

cơ thể trong không gian thời gian, năng lực này có ý nghĩa đặc biệt đối với

các mơn mang tính kỹ thuật như: Các mơn đối kháng, các mơn bóng....

Cơ quan thu nhận xử lý thơng tin là: Cơ quan phân tích thị giác.

Năng lực thăng bằng: Là năng lực ổn định trong trạng thái thăng bằng

của cơ thể sau khi thực hiện động tác. Năng lực này có ý nghĩa đặc biệt đối

với các môn thể thao như: Bơi thuyền, thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật...

Cơ quan thu nhận và xử lý thông tin là: Cơ quan phân tích thị giác tiền

đình và cảm giác cơ bắp.

Năng lực nhịp điệu: Là năng lực nhận biết sự luân chuyển các chuyển

động trong quá trình thực hiện một động tác hay thể hiện nó trong thực hiện

động tác.

Năng lực phản ứng: Là khả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện

các phản ứng vận động một cách hợp lý và nhanh chóng đối với một tín hiệu.

Năng lực phân biệt vận động: Là năng lực thực hiện động tác một cách

chính xác cao và tinh tế.

Năng lực thích ứng: Là năng lực chuyển chương trình hành động phù

hợp với hồn cảnh mới.

Trong mơn Nhảy cao nằm nghiêng cũng như các tố chất thể lực khác, tố

chất khéo léo là quan trọng và khơng thể thiếu được vì nó là cơ sở cho việc

tiếp thu nhanh chóng và thực hiện có hiệu quả các hành động vận động phức

tạp đặc biệt là giai đoạn giậm nhảy trên không.



1.4. Các vấn đề về kĩ thuật và bài bài tập Nhảy cao nằm nghiêng

1.4.1. Nội dung cơ bản về kĩ thuật Nhảy cao nằm nghiêng

Gồm 4 giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đệm.

*Giai đoạn chạy đà gồm: Tư thế chuẩn bị và chạy đà.

+Tư thế chẩn bị: ở bất kì tư thế chuẩn bị nào cũng khơng nên để cơ thể

q gò bó, căng thẳng mà cần tự nhiên, thả lỏng và tập trung chú ý.

+ Chạy đà: Gồm 2 phần:

Phần 1: Từ lúc xuất phát đến trước ba bước đà cuối, độ dài và tốc độ

bước chạy tăng dần, độ ngã của thân người giảm dần.

Phần 2: Gồm 3 bước cuối trước khi giậm nhảy. Nhiệm vụ của phần

chạy đà này là duy trì tốc độ đã đạt được và chuẩn bị giậm nhảy, sao cho đạt

hiệu quả cao nhất. Cụ thể là:

Bước thứ nhất: Chân giậm nhảy bước ra trước nhanh hơn bước trước



đó.

Bước thứ hai: Bước này dài nhất trong ba bước đà cuối.

Bước thứ ba: Đây là bước đặt chân vào điểm giậm nhảy, chân đưa

thấp, vai hơi ngả ra sau.

*Giai đoạn giậm nhảy

Sau khi đặt chân vào điểm giậm nhảy, chân giậm nhảy hơi chùng gối

tạo tư thế co cơ, sau đó dùng sức để giậm nhảy, chân giậm phải duỗi nhanh,

mạnh và có tính bột phát. Khi đá lăng chân ra trước cần chủ động dùng sức

của đùi và độ linh hoạt của khớp hông đá chân lên cao. Hai tay phối hợp gần

như đồng thời với chân lăng, đánh hơi vòng xuống dưới - lên cao, khi hai

khuỷu tay đến ngang vai thì dừng lại tạo thế nâng người lên.



*Giai đoạn trên không

Giai đoạn trên không bắt đầu từ khi chân giậm nhảy rời khỏi mặt đất.

Tiếp theo, co nhanh chân giậm nhảy, đồng thời xoay mũi chân lăng về phía

xà(hoặc xoay gót chân lên trên) tạo cho thân người nằm nghiêng so với xà

chân giậm nhảy co phía dưới, chân đá lăng thẳng ở phía trên, giống như tư thế

nằm nghiêng (nên gọi là nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng”), hai tay phối hợp

khéo léo để qua xà.

*Giai đoạn tiếp đất

Sau khi qua xà, chân giậm nhảy duỗi nhanh để tiếp đất, hai tay duỗi ra

chống xuống đất để chủ động giữ thăng bằng.

1.4.2. Khái niệm, vai trò và tác dụng của bài tập chuyên môn trong kĩ

thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng

Từ trước tới nay, khái niệm về bài tập được nhiều tác giả khác nhau

nêu ra như:

Theo các nhà khoa học cho rằng: Bài tập là một trong những biện pháp

giảng dạy bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho vận động viên, bài tập

mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường tố chất

thể lực.

Còn theo lý luận và phương pháp giáo dục thể dục thể thao của Nguyễn

Toán và Phạm Danh Tốn và các cộng sự thì cho rằng: Bài tập là các bài tập

phức hợp các yếu tố của động tác thi đấu cùng các biến dạng của chúng cũng

như các bài tập dẫn dắt tác động có chủ định và có hiệu quả ở chính ngay mơn

thể thao đó.

Theo chúng tơi, các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách trình bày

nhưng ln có sự thống nhất về ý nghĩa. Như vậy, có thể chốt lại về khái niệm

bài tập là các bài tập mang tính chất chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và

tính thể lực chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

*Trao đổi chất và năng lượng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×