Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giả thuyết khoa học

Giả thuyết khoa học

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU



1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất

trường học

Nhà nước rất coi trọng công tác GDTC trong trường học, cơng tác này

nhằm phát triển, hồn thiện thể chất cho tầng lớp thanh - thiếu niên, nhi đồng.

GDTC là nội dung bắt buộc của học sinh - sinh viên, nó được thực hiện trong

hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học. Nhà nước khuyến khích

và tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa

tuổi và điều kiện cơ sở vật chất từng nơi.

Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư TW Đảng giao trách

nhiệm cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp

chỉ đạo công tác GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, để việc tập luyện

TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên.[1]

Chỉ thị 36/CT - TW đã được Đại hội Đảng lần thứ IX xác định phương

hướng và nhiệm vụ “Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm

vóc của người Việt Nam. Phát triển phong trào TDTT quần chúng với mạng

lưới cơ sở rộng khắp, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ VĐV thể thao thành tích

cao, đưa Việt Nam lên trình độ chung trong khu vực Đơng Nam Á và có vị trí

cao trong nhiều bộ mơn. Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích nhân dân và các

tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu quả cao trong các hoạt động văn hóa thể

thao”[1].

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cũng khẳng định: “Công

tác TDTT cần được coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các



6

trường học. Tổ chức hướng dẫn và vận động nhân dân tham gia rèn luyện

hàng ngày”[11].

Với mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ tương lai của đất nước phát triển tồn

diện: Đức, trí, thể, mĩ. Tại Hội nghị TW 4 khóa VIII về đổi mới cơng tác giáo

dục - đào tạo, trong văn kiện có ghi: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về

thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức...”[6] đã khẳng định

mục tiêu giáo dục nhằm giáo dục về nhân cách tăng cường thể lực cho học

sinh, sinh viên. Ngày 7/8/1995 Thủ Tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 113/TTg

nêu rõ yêu cầu đối với tổng cục TDTT: “Ngành TDTT phải xây dựng định

hướng phát triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các hình thức hoạt

động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng lứa tuổi tạo thành phong trào

tập luyện rộng rãi của quần chúng hướng đến mục tiêu khỏe để xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc” [4].

GDTC trong nhà trường phổ thông nhằm từng bước nâng cao trình độ

văn hóa thể chất và thể thao cho học sinh góp phần vào sự nghiệp TDTT của

đất nước và đặc biệt Nghị quyết TW II bàn về công tác giáo dục và đào tạo đã

khẳng định rõ GDTC trong trường học là rất quan trọng.

Công tác TDTT phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã

hội, quốc phòng - an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước, trước

hết là góp phần nâng cao sức khỏe, rèn luyện ý chí, giáo dục đạo đức, nâng cao

đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, xây dựng khối đại đồn kết tồn dân,

nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi tệ nạn xã hội ở từng địa phương.

1.2. Đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh THPT

1.2.1. Đặc điểm tâm ly chung

Ở lứa tuổi này, tâm lí của các em học sinh có nhiều thay đổi đáng kể.

Trong giai đoạn chuyển giao từ trẻ con sang người lớn các em đã có được



7

những kiến thức nhất định, đã có khả năng tư duy trừu tượng, logic, đã biết

phân tích vấn đề và tổng hợp vấn đề một cách chặt chẽ, có căn cứ và nhất

quán.

Trong lứa tuổi này tính cách và tình cảm của các em được hình thành

và thể hiện ra bên ngồi, những phẩm chất nhân cách được bộc lộ rõ (lòng

yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm...) những quan hệ nhiều mặt của nhân

cách được thể hiện như tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm, nghĩa

vụ...

Tuy nhiên ở tuổi mới lớn do chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc

sống, các em khơng tránh khỏi sự vội vàng, cảm tính và cũng như không

tránh được sai lầm khi tự đánh giá về một vấn đề nào đó. Vì vậy các em cần

được sự giáo dục, giúp đỡ một cách khoa học, khéo léo của nhà trường, gia

đình... để hình thành được một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình.

1.2.2. Đặc điểm tâm ly trong học tập

Mặc dù là học sinh lớp 11 còn đang ngồi trên ghế nhà trường nhưng các

em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọi người tơn trọng mình, có

nhiều hồi bão, có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích

tổng hợp, muốn hiểu biết, nhưng thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống, nhiều

nhược điểm.

Độ tuổi này biểu hiện rõ hơn về tình cảm, gắn bó và u q mái

trường, đặc biệt là đối vói giáo viên giảng dạy, các em có thể hồn thành

những bài tập khó đòi hỏi sự khắc phục khó khăn lớn hơn trong học tập và

tập luyện.



8

Trong các hoaṭ đôṇ g

hoc̣



tâ củ a

p̣ hoc̣



sinh THPT đều đò i hỏ i tính năng



đơṇ g, tính độc lập ở mức cao hơn nhiều so với học sinh THCS đồng thời cũng

đò i hỏ i sự phá t triể n tư duy lí

luâṇ sâu sắ c.



để nắ m vữ ng

nôị



dung bài học

môṭ



cać h



Thái độ học tập của học sinh ở giai đoạn này được thúc đẩy bởi động





hoc̣



tâ mà ý

p̣ nghiã



nhấ t đó chính là đơṇ g cơ

thưc̣



tiê





. Trong các hoạt



đôṇ g TDTT , nế u cá c em có đơṇ g cơ đú ng đắ n thì các em sẽ tić h tâp̣

cưc̣

luyêṇ , thi đấ u để

thưc̣



hiê mu đić h hoaṭ đôṇ g thể thao , chính điề u nà y đò i

ṇ c̣



hỏi trong cơng tác đào tạo giáo viên , HLV cầ n điṇ h hướ ng cho cá c em một

cách rõ ràng và xây

dưṇ



g

đôṇ g cơ đú ng đắ n để có hứ ng thú trong hoc̣

đươc̣



tâ no i chung va trong công tac GDTC no i riêng

́

̀

́

́



*Hệ thần kinh

Hệ thần kinh phát triển tạo thuận lợi cho việc nhanh chóng hình thành

các phản xạ có điều kiện, thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hồn

thiện động tác. Do sự hoạt động của các tuyến sinh dục, tuyến yên... làm cho

q trình hưng phấn và ức chế khơng cân bằng ảnh hưởng đến hoạt động

TDTT. Tuy nhiên có một số bài tập đơn điệu, không hấp dẫn làm học sinh

chóng mệt mỏi nên cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện như trò chơi, thi

đấu, hồn thành tốt các bài tập đã chọn.

*Hệ xương

Lứa tuổi này các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn

thiện nên các em có thể tập luyện các động tác khó như một số động tác treo,

chống, mang vác vật nặng mà không làm tổn hại hoặc không tạo sự phát triển

lệch lạc của cơ thể. Cột sống đã ổn định hình dáng nhưng vẫn chưa hồn

thiện, vẫn có thể bị cong vẹo nên việc tiếp thu, bồi dưỡng tư thế chính xác

thơng qua các hệ thống bài tập như đi, chạy, nhảy, thể dục nhịp điệu, thể dục

cơ bản là cần thiết.

*Hệ cơ

Các bắp cơ phát triển tương đối nhanh, các cơ co phát triển chậm hơn

các cơ duỗi. Đây là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất nên cần tập những



bài phát triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy phát triển các cơ. Vì vậy HLV

phải chú ý đến các bài tập, trong luyện tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức

và sự phát triển cân đối của các cơ.

*Hệ tuần hoàn

Ở lứa tuổi này hệ tuần hoàn đang phát triển và đi đến hoàn thiện, buồng

tim hệ thống điều hòa vận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh, phản ứng

của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ ràng, sau vận động mạch đập

và huyết áp phục hồi nhanh chóng nên có thể tập những bài tập dai sức, có

khối lượng, cường độ lớn, khi đó HLV phải thận trọng và thường xuyên kiểm

tra, theo dõi tình trạng sức khỏe của học sinh.

*Hệ hơ hấp

Phát triển tương đối hồn thiện, diện tích tiếp xúc của phổi gần bằng

tuổi trưởng thành, dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng, tần số hơ hấp gần

như người lớn. Nhưng các cơ hơ hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn lồng ngực

nhỏ, chủ yếu là co giãn cơ hoành, trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú

ý rèn luyện để các cơ ngực, cơ lườn phát triển, nên tập hít thở sâu.

*Trao đổi chất và năng lượng

Đặc điểm chính là q trình đồng hóa chiếm ưu thế so với q trình dị

hóa do nhu cầu phát triển và hình thành cơ thể, một phần đáng kể năng lượng

ở lứ tuổi này được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu đó.

Như vậy, từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh giáo viên nên đưa ra các

phương pháp và khối lượng bài tập một cách hợp lý để cơ thể các em phát

triển và dần đi đến hoàn thiện về các cơ quan, hệ thống trong cơ thể.



1.3. Đặc điểm của các tố chất thể lực chuyên môn trong nhảy cao nằm

nghiêng

Hệ quả của giáo dục thể chất gắn liền với đặc điểm giải phẫu sinh lí,

tâm lí học và đặc điểm phát triển tố chất thể lực ở mỗi lứa tuổi con người. Tác

dụng của giáo dục thể chất là rất lớn, nó khơng những đem lại sức khỏe cho

học sinh mà còn góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện.

Tố chất thể lực là sự biểu hiện tổng hợp của hệ thống chức năng các cơ

quan trong cơ thể, tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa

tuổi. Sự tăng trưởng này có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kì dậy thì.

Giai đoạn lứa tuổi khác nhau thì tố chất thể lực phát triển cũng khác nhau.

Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển qua giai đoạn ổn định

theo thứ tự phát triển sau: Tố chất sức nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố

chất sức bền và tố chất sức mạnh.

1.3.1. Tố chất sức nhanh

Tố chất sức nhanh phát triển sớm hơn sự phát triển tố chất sức mạnh,

thời kì phát triển tố chất sức nhanh quan trọng nhất ở tuổi học sinh Tiểu học

và Trung học cơ sở.

Sức nhanh là khả năng của con người thực hiện động tác trong thời gian

ngắn nhất [5].

Trong nhảy cao thì tốc độ phụ thuộc vào các động tác nhanh và được

thực hiện với tốc độ cao.

Theo quan điểm sinh hóa: Sức nhanh phụ thuộc và hàm lượng ATP

trong cơ và tốc độ phân giải ATP, dưới ảnh hưởng xung động của các bài tập

diễn ra trong thời gian ngắn nên quá trình tổng hợp ATP hầu như được thực

hiện theo cơ chế yếm khí.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng để đạt được thành tích

trong nhảy cao, phụ thuộc rất nhiều vào các tố chất chuyên môn, đặc biệt là



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giả thuyết khoa học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×