Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I.2 Các trường phái triết học Duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại

I.2 Các trường phái triết học Duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Milet là đô thị ven biển vùng Cận Đông, trung tâm thương mại sầm uất

của Hy Lạp trong thế kỷ VII tr. CN. Nhờ đó những nhà bác học có cơ hội mở rộng

hiểu biết về nền văn minh cổ đại Đông phương.

Trong thế kỷ VII tr. CN, ở Milet xuất hiện trường phái duy vật đơn

nguyên đầu tiên gọi là phái Milet do Thalès, Anaximandre, Anaximène xây dựng.

Đặc điểm của phái này là đặt vấn đề: thực chất của thế giới là gì?

THALÈS (khoảng 624 – 547 tr. CN)

Thalès đặt vấn đề thực chất của thế giới là một thứ vật chất: nước. Nước

bốc thì thành hơi, thành lửa và đọng lại thì thành đất. Về phương pháp tư tưởng,

Thalès đã quan niệm được sự vật trong cái biến chuyển của nó: nước là yếu tố đầu

tiên, là bản nguyên của vạn vật; vạn vật bắt đầu từ nước và ln quay về với nước;

khơng có nước thì khơng có gì cả. Nước tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó tạo ra

thì khơng ngừng sinh ra, biến đổi và mất đi. Thế giới là một chỉnh thể thống nhất,

tồn tại như một vòng biến đổi tuần hồn khơng ngừng nghỉ mà nước là nền tảng của

vòng biến đổi tuần hồn đó5

Trong giới hạn ấy, Thalès lần đầu tiên đã đạt được tư tưởng cơ sở khoa

học, tức là khái niệm vật chất và những biến chuyển của nó, đồng thời Thalès cũng

đặt phương pháp tư tưởng duy lý để diễn tả cái biến chuyển ấy.

ANAXIMANDRE (khoảng 610 – 546 tr. CN)

Anaximandre giải thích nguồn gốc sự sống, cho rằng các loài sinh vật đầu

tiên sống dưới nước, sau đó thích nghi dần cuộc sống trên cạn, con người có nguồn

gốc từ một lồi cá…

Theo Anaximandre, apeiron là cái vơ định hình, một thứ vật chất khơng

có giới hạn nào, tức là vật chất thuần túy vơ hình vơ tượng. Ơng giải thích vấn đề:

thực chất là tất cả vật chất, vậy thì khơng cho nó là cái gì cụ thể, mà là thực chất vơ

hình. Nhưng nói thực chất vơ hình tất nó lại khơng phải là vật chất.

ANAXIMÈNE (khoảng 585 – 525 tr. CN)

5



Bùi Văn Mưa, Triết học phần I: Đại Cương về lịch sử triết học, NXB Chính Trị Hành Chánh, 2011, tr.94



Về sau Anaximène cho vật chất là “khí”, khơng khí là bản ngun của thế

giới. “Khí” có hai đặc điểm: tụ và tán nhờ đó mà tạo nên các sự vật.

Tóm lại, những ý kiến trên là những kinh nghiệm tư tưởng trên một lập

trường nhất định, nó bộc lộ chân lý và đồng thời bộc lộ giới hạn hẹp hòi của tư

tưởng ấy. Trường phái Milet thể hiện lập trường duy vật chất phác, tuy chưa khoa

học nhưng có vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh chống tư tưởng duy tâm thần luận.

I.2.2 Trường phái HÉRACLITE (khoảng 530 – 470 tr.CN)

Ông được xem là trung tâm trong lịch sử của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại.

Tư tưởng của ơng có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của phép biện chứng sau này.

Về khởi nguyên của vũ trụ

Lửa là khởi nguyên của thế giới, lửa tạo ra từng sự vật cụ thể hàng ngày

gần gũi cho đến những hành tinh xa lắc. “Mọi thứ biến đổi từ lửa và lửa thành mọi

thứ như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng” 6.Thế giới này chỉ

là một đối với mọi cái, không phải do thần thánh hay do con người tạo ra nhưng nó

“mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn đang không ngừng bùng cháy và tàn

lụi”7.

Lửa là cơ sở làm nên sự thống nhất của thế giới. “Cái chết của lửa là sự

ra đời của khơng khí, và cái chết của khơng khí là sự ra đời của nước. Từ cái chết

của nước sinh ra khơng khí, từ cái chết của khơng khí sinh ra lửa và ngược lại” 8.

Linh hồn con người cũng chỉ là một dạng vật chất, một trạng thái quá độ

của lửa 9

Về sự vận động là phổ biến

6



Hội Đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng



Hồ Chí Minh, Giáo Trình Triết học Mác – Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2005, tr.64

7



Hội Đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ mơn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng

Hồ Chí Minh, Giáo Trình Triết học Mác – Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2005, tr.64

8



Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại, NXB Tư tưởng, Mátxcơva,1955, tr. 48 (Tiếng Nga)



9



Học Viện Chính Trị, Đề Cương Bài Giảng Triết học Mác – Lênin, NXB Chính Trị Hành Chánh, 2009, tr.35



Quan niệm về vận động đã được một số nhà triết học trước đó đề cập

nhưng phải đến Heraclit thì mới tồn tại với tư cách là học thuyết về vận động với

câu nói nổi tiếng “khơng ai tắm được hai lần trong cùng một dòng sơng”10.

Quan niệm về vận động của ông có nội dung cốt lõi là tư tưởng về sự

thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.

Thứ nhất, thống nhất là sự đồng nhất của cái đa dạng và là sự hài hoà giữa

các mặt đối lập. Đồng nhất được xem là giới hạn theo nghĩa cùng tồn tại trong một

tương quan để so sánh. Tính chất của sự đồng nhất là tương đối. Ở những tương

quan khác nhau sẽ cho những kết quả so sánh khác nhau.

Thứ hai, mỗi sự vật, mỗi hiện tượng trong quá trình biến đổi đều trải qua

các trạng thái đối lập và chuyển thành các mặt đối lập với nó. Ơng viết: “Cùng một

thứ ở trong ta như sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già, vì sau khi biến đổi cái này

trở thành cái kia và ngược lại”.11

Thứ ba, đấu tranh của các mặt đối lập không chỉ là sự đối lập mà còn là sự

thống nhất giữa các mặt đối lập, là điều kiện của tồn tại.

Héraclite cho rằng sự vận động, nhận thức thế giới là nhận thức logos

của vũ trụ12, phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (logos) quy

định. Logos khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ.

Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói và suy nghĩ của mọi người. Logos chủ

quan phải phù hợp với logos khách quan nhưng nó biểu hiện ở từng người có khác

nhau. Người nào càng tiến gần tới logos khách quan bao nhiêu thì càng thông thái

bấy nhiêu.

Về nhận thức luận và nhân bản học

10



Bùi Văn Mưa, Triết học phần I: Đại Cương về lịch sử triết học, NXB Chính Trị Hành Chánh, 2011, tr.95



11



http://www.wattpad.com/1478432-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-ph%C6%B0%C6%A1ng-t%C3%A2y?

p=3

12



Hội Đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng

Hồ Chí Minh, Giáo Trình Triết học Mác – Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2005, tr.77



Về mặt nhận thức, ông chia nhận thức thành hai cấp độ là nhận thức cảm

tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính chỉ là sự tiếp cận với logos nhưng

khơng chắc chắn. Nhận thức lý tính là con đường đạt tới chân lý nên ông đề cao.

Theo Héraclite, linh hồn con người là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập: cái

ẩm ướt và lửa. Chính yếu tố lửa trong tâm hồn con người là logos của nó. Nhưng phần

đơng mọi người sống chủ yếu theo những suy nghĩ và quan niệm riêng của mình chứ

chưa hiểu và tuân theo logos, do vậy họ là những người tầm thường. Hạnh phúc không

phải là sự hưởng lạc về mặt thể xác thoả mãn dục vọng mà ở chỗ phải biết vượt lên trên

mình biết nói, biết suy nghĩ, hành động theo logos.

Với những quan điểm duy vật và những yếu tố biện chứng về thế giới,

Héraclite đã góp phần đưa triết học cổ đại tiến thêm một bước mới. Ông được xem

là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại. Giá trị mà ơng để lại chính

là những vấn đề mà ông đã đặt ra.

I.2.3 Trường phái đa nguyên EMPÉDOCLE – ANAXAGORE

Để lý giải tính đa dạng của vạn vật trên thế giới theo tinh thần duy vật,

Empédocle và Anaxagore cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sơ khai của trường

phái Milet và Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật

chất đa dạng.

ÉMPEDOCLE (khoảng 490 – 430 tr.CN)

Empédocle thừa nhận sự tồn tại của bốn khởi nguyên độc lập là: đất,

nước, khơng khí, lửa. Bốn khởi ngun này dưới tác động của tình yêu sẽ kết hợp lại

tạo nên vạn vật, còn thù hận sẽ làm chúng tan rã khiến vật mất đi.

Dựa trên quan điểm này Empédocle cho rằng vũ trụ ln vận động theo

chu trình phát triển qua bốn giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn có sự tác động khác

nhau giữa tình yêu và thù hận kết hợp các yếu tố khởi nguyên sẽ tạo nên sự vật hay

làm sự vật mất đi.

ANAXAGORE (khoảng 500 – 428 tr.CN)



Tiếp nối quan điểm đa nguyên nhưng Anaxagore cho rằng vạn vật sinh ra

từ những cái tương tự như chúng, gọi là hạt giống chứ khơng phải từ đất, nước, lửa,

khơng khí.

Do có vạn vật nên có vơ số hạt giống, nó cực nhỏ và có thể phân chia đến

vơ tận. Mà sự biến hóa về chất của vạn vật là kết quả thay thế phần lớn các hạt giống

trong chúng. Để biến hóa cần có động lực là Nus – trí tuệ thuần túy hay linh hồn của

thế giới.

Theo Anaxagore, mầm nào sẽ sinh ra giống nấy, và trong bản thân mỗi

vật chứa tất cả các hạt giống khác ở liều lượng nhỏ hơn, cho nên: mỗi cái chứa mọi

cái. Đây là một ý tưởng biện chứng khá độc đáo mà khoa học hiện đại đang khai

thác.

I.2.4 Trường phái nguyên tử luận LEUCIPPE - DÉMOCRITE

Đây là đỉnh cao của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại. Leucippe đã lần đầu

tiên nêu lên quan niệm về nguyên tử. Còn Démocrite đã phát triển và xây dựng các

quan niệm này thành một hệ thống chặt chẽ có sức thuyết phục. Thuyết nguyên tử là

cống hiến nổi bật của ông đối với chủ nghĩa duy vật.

LEUCIPPE (khoảng 500 – 400 tr.CN)

Leucippe cho rằng cái tồn tại (nguyên tử) tồn tại, đồng thời cái không tồn

tại (chân không) cũng tồn tại. Nguyên tử và chân không cùng là khởi nguyên của thế

giới. Vạn vật trong vũ trụ đều sinh diệt theo luật nhân quả…

DÉMOCRITE (khoảng 460 – 370 tr.CN)

Là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật cổ đại Hy Lạp. Ông đã xây

dựng trường phái nguyên tử luận gồm các bộ phận :

Thuyết nguyên tử

Vũ trụ được cấu thành từ hai thực thể đầu tiên: nguyên tử và chân không.



Nguyên tử là hạt vật chất khơng thể chia được nữa, hồn tồn nhỏ bé và

không thể cảm nhận bằng trực quan 13. Nguyên tử không biến đổi, tồn tại vĩnh viễn

và vận động không ngừng. Nguyên tử không khác nhau về chất, chúng có mùi vị,

âm thanh và màu sắc. Nguyên tử chỉ khác nhau về hình thức, kích thước, vị trí và

trình tự kết hợp của chúng. Mọi vật thể đều do sự kết hợp giữa các nguyên tử nên

nếu tách rời chúng ra thì vật thể bị tiêu diệt. Linh hồn của con người cũng do những

nguyên tử hình cầu, nhẹ, và nóng tạo nên. Khi người ta chết, linh hồn sẽ khơng còn;

chúng rời thể xác và tồn tại như những nguyên tử khác.

Chân không là khoảng không gian trống rỗng. Với Démocrite, chân không

cũng cần thiết như nguyên tử, nhờ nó nguyên tử mới vận động được. Khác với

ngun tử có kích thước, hình dáng, chân khơng thì vơ hạn và khơng có hình dáng.

Mặc dù Démocrite chưa giải thích được ngun nhân của vận động,

nhưng ơng đã gắn liền vận động với nguyên tử, và nó cũng vơ cùng, vơ tận như

ngun tử. Đó là một đóng góp hết sức quan trọng đối với sự phát triển của khoa

học tự nhiên và triết học duy vật.

Lý luận về nhận thức

Démocrite phủ nhận sự tồn tại của thần linh, Thượng đế. Theo Ông, thần

thánh chẳng qua là sản phẩm của sự tưởng tượng của con người 14. Những cảm giác

này chỉ là chủ quan của con người. Theo ông, muốn nhận thức được nguyên tử và

chân không, tức là muốn nhận thức bản chất của sự vật, con người ta không được

dừng lại ở cảm giác, mà phải biết quy nạp, so sánh, phán đoán, tức là phải đẩy tới

nhận thức lý tính. Do đó, ơng chia nhận thức làm hai dạng: dạng nhận thức "mờ tối"

(nhận thức cảm tính) và dạng nhận thức “trí tuệ”. Theo ơng, dạng nhận thức thứ hai

là chủ yếu, đáng tin cậy.



13



Bộ giáo dục và đào tạo: Giáo Trình Triết học Mác – Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia (tái bản lần thứ 2),

2005, tr.67

14



Học Viện Chính Trị, Đề Cương Bài Giảng Triết học Mác – Lênin, NXB Chính Trị Hành Chánh, 2009, tr.37



Mặt tích cực trong quan điểm trên đây là ở chỗ, ông coi đối tượng của

nhận thức là thế giới khách quan do nguyên tử và chân không tạo ra. Tuy chưa nhận

thức được sự chuyển hoá giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, nhưng ơng

đã thấy được vị trí của từng dạng nhận thức, đặc biệt là nhận thức lý tính. Tuy nhiên

ơng coi các thuộc tính khách quan của sự vật như âm thanh, mùi vị, màu sắc chỉ là

những quy ước chủ quan của con người, điều này đã mở đường cho những quan

niệm duy tâm cho rằng chất tách rời sự vật, chất có trước và chất có sau của sự

vật ...

Từ chỗ coi trọng vai trò của nhận thức lý tính, Démocrite đã có một cơng

lao to lớn nữa đối với triết học, đó là lơgíc học (Tác phẩm "Bàn về lơgíc học"). Theo

đó thì ơng đã nêu ra nhiều vấn đề về lơgíc học như định nghĩa khái niệm, phương

pháp so sánh, quy nạp, giả thiết.v.v, trong đó phương pháp quy nạp có vị trí nổi bật.

Quan niệm về con người

Theo ông, linh hồn không phải là cái siêu vật chất, mà là cái bản nguyên

bằng lửa trong cơ thể; nó cũng được cấu tạo từ các ngun tử hình cầu giống như

lửa và có tốc độ vận động lớn hơn các nguyên tử khác.

Sự sống và con người không phải do thần thánh tạo ra mà là kết quả của

q trình biến đổi của chính tự nhiên, được phát sinh từ những vật thể ẩm ướt dưới

tác động của nhiệt độ. Theo ông, con người là một loại động vật, nhưng về khả năng

có thể học được bất kỳ cái gì nhờ có tay chân, cảm giác và năng lực trí tuệ trợ giúp.

Démocrite đứng trên lập trường vơ thần phủ nhận thượng đế và thần linh;

thần chỉ là sự nhân cách hóa hiện tượng tự nhiên hay thuộc tính của con người.

Quan điểm chính trị - xã hội

Démocrite đứng trên lập trường của chủ nô dân chủ, bảo vệ nền dân chủ

Athen chống lại chế độ chuyên chính. Ông cho rằng “cái nghèo trong chế độ dân

chủ cũng quý hơn cái hạnh phúc của công dân dưới thời quân chủ y như là tự do



quý hơn nô lệ”15. Nhưng do xuất thân từ tầng lớp chủ nô nên ông chỉ đề cập đến dân

chủ của chủ nô và cơng dân tự do; còn nơ lệ phải biết tn theo người chủ.

Ông coi nhà nước là trụ cột của xã hội, cần phải xử lý nghiêm khắc những

kẻ vi phạm pháp luật hay các chuẩn mực đạo đức.

Tóm lại, triết học Démocrite là sự kế thừa và phát triển lên một trình độ

cao các quan điểm duy vật (của trường phái Milê) và tư tưởng biện chứng (của

Hêraclít) trước đó, đưa triết học của ơng trở thành đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật

thời cổ đại.

II. GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHŨ NGHĨA DUY VẬT CHẤT PHÁC HY LẠP CỔ

ĐẠI

II.1 Giá trị của triết học duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại

Giá trị về thế giới quan

Từ những quan niệm về thế giới của các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ

đại đã tạo nên cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về thế giới và vũ trụ của con

người sau này. Nó chứa đựng những nội dung cơ bản của các ngành khoa học Hy

Lạp như thiên văn học, toán học, y học,… giải thích sự sống là kết quả của q trình

tiến hóa từ thấp đến cao.

Giá trị của phép biện chứng chất phác thể hiện ở ý nghĩa vô thần, chống

lại những quan điểm duy tâm, tôn giáo. Trong khi triết học phương Đơng thời kỳ

này còn chịu ảnh hưởng nặng nề của thần linh, tơn giáo, thì các nhà triết học duy vật

Hy Lạp cổ đại đã có sự tìm tòi mới về vận động của thế giới tự nhiên.

Khẳng định sự tồn tại khách quan, vĩnh viễn và vô tận của thế giới vật

chất. Họ đã chỉ ra rằng trạng thái của vật chất và các đặc tính của nó đều biến đổi

nhưng bản thân nó thì khơng sinh ra và cũng không chết đi mà tồn tại vĩnh viễn. Vật

chất cũng không thể được sáng tạo ra và cũng khơng thể bị tiêu diệt, sự vận động



15



http://www.humg.edu.vn/lyluanchinhtri/index.php?option=com_content&task=view&id=374&Itemid=265



của nó là một q trình tự nhiên, khơng phụ thuộc và bất kỳ lực lượng siêu tự nhiên

nào.

Học thuyết của các trường phái duy vật đầu tiên xem nước, khơng khí, lửa

như là vật chất mà trong khi vận động đã sản sinh ra tất cả mọi vật thể. Học thuyết

về sự chuyển hóa lẫn nhau của các vật thể là những mầm mống của quan điểm duy

vật biện chứng về sự biến đổi của vật chất từ trạng thái này sang trạng thái khác.

Giá trị về nhận thức luận

Khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người. Con người có khả

năng học được bất kỳ cái gì nhờ có chân tay, cảm giác và sự năng động trí tuệ làm

trợ giúp cho mọi cái. Đối tượng của nhận thức là vật chất, là thế giới xung quanh

con người và nhờ sự tác động của đối tượng nhận thức vào con người nên con người

mới nhận thức được.

Triết học Hy Lạp cũng đã nêu lên được sự tồn tại thống nhất và đấu tranh

chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập. Tất cả các sự vật đều sinh ra trong quá

trình đấu tranh và sự vận động, phát triển liên tục của sự vật tuân theo các yếu tố

khách quan, các quy luật quyết định.

Đưa ra những triết lý có giá trị vượt thời gian. Nó còn đặt nền tảng cho sự

phát triển của các trường phái triết học sau này.

Như vậy, các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã có một trình độ nhận

thức cao hơn về thế giới, về con người, giúp cho con người có cách nhìn nhận đúng

đắn hơn. Những lý luận nhận thức này là nền tảng cho những nghiên cứu khoa học

của nhân loại, đi tới sự phát triển cao hơn, tiến bộ hơn sau này.

Giá trị trong những quan niệm về con người và xã hội

Vấn đề đạo đức được các nhà duy vật Hy Lạp lần đầu tiên đề cập đến như

là mối quan tâm hàng đầu của triết học, đã đạt tới một trong những bước quan trọng

nhất. Lần đầu tiên con người được đề cập tới phẩm chất và hạnh phúc của mình.

Bên cạnh đó thể hiện sự tiến bộ qua việc cung cấp cơ sở ý niệm về chủ

nghĩa thế giới đại đồng, theo đó mọi người đều là những cơng dân bình đẳng. Đề đạt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I.2 Các trường phái triết học Duy vật chất phác Hy Lạp cổ đại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×