Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
6 BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG XÓI MÒN

6 BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG XÓI MÒN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các tác dụng sinh học: gia tăng các hoạt động sinh học và đa dạng loài của hệ thực

vật và hệ động vật đất, như trùn đất, gia tăng sinh khối carbon, và cải thiện sinh

trưởng của hoa màu; và

• Các tác dụng hóa học: thay đổi tình trạng dưỡng liệu và ảnh hưởng lên sinh trưởng

của hoa màu.





Một lợi ích chính của canh tác che tủ đất là giảm lượng nước

chảy mặt và xói mòn đất. Dữ liệu trong Bảng 13 ghi nhận từ các độ

dốc 1% đến 15%, cho thấy rằng với một mức che tủ đất 4 Mg/ha,

hiệu quả giảm nước chảy mặt được được ghi nhận ngay cả ở độ dốc

đến 15%. Dữ liệu trong Bảng 14 cho thấy giá trị âm của số mũ của

mức độ hay số lượng vật liệu che tủ đất (M), cho thấy rằng nước

chảy mặt và xói mòn đất giảm theo hàm mũ với một sự gia tăng số

lượng vật liệu che tủ đất ngay cả kh không hoa màu che phủ. Ngoài

sự gia tăng vận tốc thấm, che tủ đất cũng làm giảm bốc hơi từ đất

và bảo tồn nước trong vùng rễ. Hạn chế chính của phương pháp là

nó đòi hỏi một lượng lớn phế liệu thực vật (thường là 4 Mg/ha/năm)

để dùng làm áp dụng vật liệu che tủ đất đều đặn và thường xuyên

một cách kinh tế (cùng với nhu cầu thức ăn xanh, chất đốt hay vật

liệu xây dựng) và chi phí lao động cần thêm, bao gồm chi phí thu

hoạch và áp dụng vật liẹu che tủ đất. Hệ quả là canh tác che tủ đất

có thể chỉ khả thi trên quy mơ nhỏ cho một số hoa màu hàng hóa có

giá trị cao.

13.6.1.2 Canh tác bảo tồn





Không cày đất



Đây là một hệ thống làm đất trong đó khơng có sự chuẩn bị đất trước khi gieo trồng

và phần lớn phế liệu hoa màu được để lại trên mặt đất . Sự kết hợp của giải pháp không

gây nhiễu loạn đất và sự hiện diện của phế liệu hoa màu có tác dụng che tủ đất giúp tối

thiểu hóa các rũi ro do xói mòn. Vài các thí nghiệm được tiến hành trong khắp vùng nhiệt

đới ẩm đã chứng minh hiệu quả kiểm soát xói mòn của canh tác khơng cày đất. Tuy

nhiên, để có thể áp dụng được và có hiệu quả, một hệ thống khơng cày đất phải được

thích ứng với các điều kiện cụ thể. Có vài các biến cách của các hệ thống khơng cày đất

có thể được thích ứng để đáp ứng với các hạn chế cụ thể của đất.

Gieo qua lớp cỏ: Sự gieo trồng được thực hiện trực tiếp trên lớp thực bì, cỏ dại, lớp

cây che phủ đất hay phế liệu hoa màu của vụ trước được diệt bằng hóa chất hay cơ giới.

Thuốc diệt cỏ Paraquat hay một loại thuốc diệt cỏ tiếp xúc khác thường được sử dụng để

đàn áp cỏ dại hay cây che phủ đất. Thuốc diệt cỏ tồn lưu (ví dụ, atrazine lasso) cũng đã

được sử dụng để kiểm soát cỏ dại tiền nẫy mầm. Hoa màu có thể được trồng thủ công hay

dùng máy tạo rãnh hẹp (rộng 5 - 7 cm và sâu 5 cm) để gieo hạt (Plate 22).

Cây che phủ đất: Hệ thống bao gồm trồng hoa màu lấy hạt hay hoa màu lương

thực thực phẩm thông qua một lớp cây che phủ đất được gieo trồng đặc biệt để tạo ra một

13



lớp phủ bảo vệ mặt đất. Một hệ thống che phủ đất bằng cây sống dựa trên nguyên tắc đa

canh.

Một loài cây bộ đậu mọc nhanh được thiết lập với các mục tiêu đàn áp cỏ dại đa

niên và trồng hoa màu lấy hạt theo mùa qua nó mà khơng đàn áp nghiêm trọng sự sinh

trưởng và năng suất của hoa màu. Một băng hẹp được mở có hay khơng dùng thuốc diệt

cỏ để gieo trồng hoa màu qua lớp cây che phủ đất đã được thiết lập. Hệ thống vận hành

tốt khi lớp cây che phủ đất là cây thấp không thuộc loại dây leo và không cạnh tranh ánh

sáng, nước hay dưỡng liệu. Tuy nhiên, sự sụt giảm năng suất của hoa màu lương thực

thực phẩm có thể xẫy ra do tác dụng sinh hóa, che bóng, và cạnh tranh nước trong thời kỳ

khô hạn. Cây che phủ đất thường là cây bộ đậu thấp, có rễ cạn. Tuy nhiên, có thể có sự

cạnh tranh nghiêm trọng giữa cây sống che phủ đất và hoa màu lương thực thực phẩm về

nước và dưỡng liệu. Một số cây sống che phủ đất là dây leo và có thể đàn áp hoa màu

lương thực thực phẩm và làm giảm đáng kể năng suất.

Luân canh: Hệ thống canh tác không cày đất này bao gồm cho gia súc ăn cây che

phủ đất trước khi gieo hoa màu lương thực với hệ thống không cày đất. Hệ thống có thể

có ích khi cây che phủ đất được quản lý đúng đắn và sự chăn thả được kiểm sốt chặt

chẻ.





Cày đất cục bộ



Từ ngữ này nói đến một hệ thống làm đất trong đó sự nhiễu loạn cơ học của đất chỉ

xẫy ra cục bộ trong các hàng. Phần đất giữa các hàng được giữ không bị xáo trộn và được

bảo vệ với sự che tủ bằng phế liệu hoa màu. Làm đất cục bộ cũng bao gồm sự mở các

đám nhỏ hay sử dụng luân phiên các băng nhỏ để thúc đầy sự tiếp xúc giữa hạt giống và

đất và tối thiểu hóa sự cạnh tranh. Các biến cách thường gặp của làm đất cục bộ bao gồm

các hình thức sau:

Cày theo băng: Sự cày đất khơng được thực hiện trong phần lớn diện tích giữa các

băng, và các băng hẹp được mở bằng cách cày đất để tạo điều kiện thuận lợi cho việc

gieo trồng và bón phân. Phế liệu hoa màu được để lại khơng bị xáo trộn trong phần giữa

các băng.

Cày đục: Hệ thống thay cách cày sơ bộ bằng sự cày ngầm với lưởi đục (chisel

plow) ăn sâu vào đất. Sự cày ở lớp sâu được thực hiện tởi độ sâu 30 - 50 cm. Mục đích

chính là làm tơi lớp đất sâu bị nén chặt.

Cày ngầm: Cày lưởi được sử dụng để làm rời lớp đất bên dưới mà không đất lật

đất. Hệ thống đòi hỏi một máy kéo cơng suất lớn và đắt tiền.

Làm đất tối thiểu: Thuật ngữ "làm đất tối thiểu" thường được định nghĩa là "sự

thao tác đất đai ở mức tối thiểu cần thiết để sản xuất hoa màu hay đáp ứng các yêu cầu

làm đất dưới các điều kiện đất đai và khí hậu hiện tại". Nó thường có nghĩa là mọi hệ

thống có sự xới xáo đất ít hơn các hệ thống dựa trên sự làm đất quy ước.

Tuy nhiên, làm đất theo "quy ước" phụ thuộc vào điều kiện đất đai và sinh thái cụ

thể. Các hệ thống dựa trên sự làm đất quy ước trong vùng nhiệt đới ẩm dựa trên nguồn

lao động thủ công hay sức kéo động vật và thường gồm một hệ thống líp và rãnh hay ụ

đất (Plate 27). Trong một số trường hợp, làm đất theo truyền thống đơn giản có nghĩa là



14



sự chọc lỗ bỏ hạt ngay sau cơn mưa đầu tiên. Một số biến cách của sự làm đất tối thiểu

bao gồm các biện pháp sau:

Líp cũ: Trong hệ thống này, sự cày lật đất bằng cày đĩa được thực hiện vào cuối chu

kỳ hoa màu hay mùa canh tác trước. Hoa màu của vụ canh tác kế được gieo hạt với sự

chuẩn bị líp gieo tối thiểu, như bừa đĩa thực hiện vào đầu mùa mưa tiếp theo.

Lên líp: Phương thức gieo trồng hoa màu trên các hệ thống líp được chấp nhận

rộng rãi trong các khí hậu nhiệt đới. Hoa màu có thể được trồng trên mặt líp ở đỉnh hay

hai bên hay trong rãnh. Kỹ thuật lên líp thúc đẩy việc áp dụng các hệ thống hoa màu như

hệ thống canh tác dựa trên lúa-hoa màu, trong đó hoa màu đất cao có thể được trồng trên

đỉnh líp và lúa trong các rãnh.

Các líp có thể được sử dụng trong các mùa khác nhau. Một cách bố trí khác là hệ

thống líp-rãnh bán vĩnh viễn, chỉ cần sửa chửa vào đầu mùa canh tác mới. Các líp có thể

được bố trí theo đường đồng mức với các rãnh nằm ngang chuyễn nước chảy tràn vào các

mương có cỏ bảo vệ hay các líp có thể có các bờ ngang ngắn để tạo ra các chổ trũng chứa

nước. Hệ thống có bờ ngang được gọi là hệ thống líp liên kết (Plate 28).

Phạm vi rộng của các hệ thống làm đất được mô tả trong phần này cho thấy các phương

pháp này ít nhiều có tính chun biệt theo loại đất. Trong thực tế, khó có thể chấp nhận

một hệ thống làm đất cho một phạm vi rộng của vùng sinh thái, loại đất, hoa màu và hệ

thống hoa màu khác nhau. Các đặc điểm tổng quát được trình bày trong Bảng 17 là một

nổ lực mơ tả sự thích hợp của các hệ thống canh tác bảo tồn khác nhau cho các loại đất và

các vùng sinh thái của vùng nhiệt đới ẩm.

13.6.1.3 Canh tác theo băng

Canh tác theo băng đồng mức là phương pháp phân chia một diện tích canh tác có

độ dốc lớn thành các băng đồng mức cắt ngang hành trình của nước chảy mặt và làm

chậm vận tốc của nó. Hoa màu thấp có tác dụng bảo tồn đất (ví dụ đậu bò, đậu nành,

Stylosanthes, Pueraria) được gieo trồng trong các băng xen kẻ với các băng hoa màu dễ

gây suy thối đất (ví dụ bắp, lúa). Một hoa màu có tác dụng bảo tồn đất được gieo trồng

trên băng đồng mức sẽ làm giảm sự xói mòn của sườn dốc, thúc đẩy hoa màu hấp thu

nước chảy mặt, làm chậm vận tốc nước chảy mặt, và giữ lại vật liệu xói mòn do nước

chảy mặt mang đi (Plate 29). Nhiều biến cách canh tác theo băng đã được mô tả, bao gồm

các phương pháp như sau:

Canh tác theo băng đồng mức: Các băng xen kẻ được bố trí theo đường đồng

mức. Các băng đồng mức này thúc đẩy việc thực hiện các hoạt động canh tác theo đường

đồng mức.

Canh tác theo băng đệm: Các băng đệm được bố trí trên địa hình dợn sóng với các

độ dốc phức tạp, khó thiết lập các băng đồng mức. Điều này được thực hiện bằng cách

mở rộng vùng đệm thành một băng đệm liên tục. Các băng đệm thường được trồng cây

che phủ đất và cây gỗ.

Canh tác theo băng trên đồng ruộng: Kỹ thuật này bao gồm việc thiết lập các

băng hình chữ nhật song song với một cạnh của đồng ruộng. Kiểu canh tác theo băng này

chỉ có thể được thực hiện trên đất hơi dốc nhẹ có khả năng bị xói mòn thấp.



15



Băng cản: Các băng này gồm các hàng cây đơn hay kép trồng cỏ hay ngủ cốc ở mật

độ cao, bố trí theo đường đồng mức để cung cấp sự bảo vệ chống lại các tác động của

nước chảy mặt. Các băng cỏ Vetiver được xếp vào loại băng cản này.



Hình 13.3: Băng cỏ Vetiver



Băng theo đường biên

Ranh giới của lô đất canh tác thường được thiết lập với các hàng thực vật đa niên.

Các hàng rào này cũng giúp tối thiểu hóa các rũi ro của sự xói mòn đất.

Ngồi sự kiểm sốt xói mòn, sự canh tác luân phiên trong các băng xe kẻ có thể

giúp tái tạo độ phì của đất, cải thiện cấu trúc của đất, và phục hồi sức sản xuất. Sinh khối

được sản xuất trong các băng bỏ hóa/băng đệm có thể được sử dụng làm vật liệu che tủ

đất, thức ăn xanh và phân ủ. Các băng đệm thường được trồng với các loài bộ đậu mọc

nhanh và dễ thiết lập. Một số loài cây bộ đậu phổ biến phù hợp cho các loại đất và môi

trường của vùng nhiệt đới ẩm.

Canh tác theo băng thường có hiệu quả trên đất có độ dốc nhỏ (< 7%) địa hình dợn

sóng nhẹ. Đối với độ dốc lớn, canh tác theo băng phải được tăng cường bằng các giải

pháp cơng trình.



16



Hình 13.4: Băng cây xanh chống xói mòn

(Nguồn: Tài Ngun Xanh )



13.6.1.4 Canh tác theo đường đồng mức

Hiệu quả của canh tác theo đường đồng mức giảm theo sự gia tăng độ dốc và độ dài

sườn dốc, và gia tăng theo cường độ mưa. Nếu lượng mưa vượt quá khả năng giữ nước

mặt của hệ thống đường đồng mức, nước chảy mặt sẽ chảy xuống dốc khơng được kiểm

sốt có thể dẫn tới xói mòn gia tốc và thậm chí xói mòn rãnh nghiêm trọng.

Do đó, chỉ áp dụng đơn thuần canh tác theo đường đồng mức là không đủ để kiểm

sốt xói mòn trên các vùng có độ dốc lớn, sườn dốc dài, đất dễ bị xói mòn, và trong các

cơn mưa lớn. Các nhược điểm của canh tác theo đường đồng mức là thường xuyên thay

đổi hướng canh tác, đòi hỏi nhiều thời gian lao động và máy móc hơn, và mất của một số

diện tích có thể dùng cho sản xuất.



17



Hình 13.5: Trồng cây theo đường đồng mức

(Nguồn: Baotaynguyen.vn)



13.6.1.5 Trồng cây che phủ đất

Trồng cây che phủ đất họ cỏ hay bộ đậu hai hay ba năm một lần có thể là kỹ thuật

cần thiết cho sự quản lý bền vững tài nguyên đất và nước. Cây che phủ đất mang lại

nhiều lợi ích cho việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên (ví dụ, phục hồi độ phì,

kiểm sốt cỏ dại, tránh gieo lại và di chuyễn trên đất canh tác, bảo tồn nước mưa, và giảm

chi phí năng lượng). Ngồi ra, cây che phủ đất giúp kiểm sốt dịch hại, cải thiện tính chất

vật lý của đất và độ thấm nước của đất và giảm xói mòn đất.

Cây che phủ đất đã được sử dụng từ lâu trong vùng nhiệt đới cho việc bảo tồn đất và

nước, đặc biệt là trong các đồn điền hoa màu trên đất dốc. Ngồi sự gia tăng độ phì của

đất, cây che phủ đất cũng cải thiện cấu trúc của đất và gia tăng tỷ lệ khoảng trống lớn.

Tuy nhiên, lợi ích chính của cây che phủ đất là kiểm sốt xói mòn. Một phạm vi rộng của

các lồi cây che phủ đất có thể được sử dụng để bảo tồn đất và nước trong vùng nhiệt đới

ẩm . Hiện có một phạm vi rộng các lồi và giống cây trồng thích hợp có thể lựa chọn để

làm cây che phủ đất. Sự lựa chọn một loài cây che phủ đất thích hợp cho các loại đất và

các vùng sinh thái khác nhau phụ thuộc vào nhiều yéu tố, bao gồm:



















Sự dễ dàng và tính kinh tế của việc thiết lập, bao gồm sự có sẳn của nguồn hạt

giống;

Khả năng tạo một lớp che phủ và sinh trưởng nhanh trong mùa bất lợi;

Cố định N thay vì tiêu thụ N;

Có hệ thống rễ sâu và tiêu thụ nước ít;

Có giá trị làm thức ăn gia súc;

Ít có khả năng trở thành ký chủ thay thế cho dịch hại và bảo vệ động vật hoang dã;

Chiều cao tán thấp;

Khả năng đàn áp cỏ dại

18









Thời gian sinh trưởng (nghĩa là, đa niên đối chiếu với cây hằng năm);

Chịu bóng và dễ quản lý để trồng một hoa màu lương thực với phương thức canh

tác bảo tồn.



Hình 13.6: Lạc dại che phủ đất

(Nguồn: Tài Nguyên Xanh )

13.6.2



Ứng dụng kĩ thuật hạt nhân để chống xói mòn đất



Theo viện Khoa học Kỹ thuật nơng nghiệp miền nam thì kĩ thuật hạt nhân là

phương pháp đo xói mòn để biết chính xác xói mòn của từng vùng và đề ra giải pháp

thích hợp để giảm thiệt hại.

Thơng qua đồng vị phóng xạ rơi lắng và phân tích các đồng vị phóng xạ bền chỉ

báo phức hợp Đồng vị phóng xạ rơi lắng (Fallout radionuclides - FRNs) được khởi đầu

từ các vụ thử vũ khí hạt nhân và bị phân tán trên diện rộng. Chúng lơ lửng trong khí

quyển và bị lắng lại trên bề mặt đất sau các trận mưa. FRNs có thể giúp các nhà khoa học

nhận diện được những thay đổi về tốc độ và kiểu phân bố lại đất ở các lưu vực lớn, qua

đó đánh giá hiệu quả các biện pháp bảo tồn đất trong kiểm sốt xói mòn đất. FRNs có thể

được đo tương đối dễ dàng và khơng cần phá mẫu bằng cách sử dụng phổ kế gamma

phân giải cao.

Kỹ thuật đồng vị bền chỉ báo phức hợp (Compound specific stable isotope - CSSI)

thường được sử dụng để nhận biết nơi có đất bị xói mòn bởi CSSI là dành riêng cho

những loại cây khác nhau. Bằng việc nghiên cứu bổ cập CSSI (make up CSSI) của đất bị

xói mòn, các nhà khoa học có thể truy tìm lại ngun gốc của nó.



19



Hình 13.7: Biểu đồ hiển thị hiệu quả của việc sử dụng kỹ thuật hạt nhân bảo vệ đất khỏi xói mòn

(Theo IAEA, 2015)



Việc kết hợp cả hai cách tiếp cận này sẽ đem lại sự liên hệ giữa đất trầm tích trong

lưu vực và nguồn xói mòn của nó. Phương pháp này đang được ứng dụng rộng rãi ở Khu

vực Châu Á – Thái Bình Dương: Cải thiện chất lượng đất giảm diện tích đất trồng cà phê

ở Việt Nam, khu vực Mỹ LaTinh,….



13.7 ĐÁNH GIÁ, XỬ LÝ PHỊNG TRÁNH XĨI MỊN ĐẤT

13.7.1



Phương thức đánh giá xói mòn đất



Đất bị xói mòn là hậu quả của một loạt các q trình sinh hóa và kinh tế - xã hội, vì

vậy, rất khó để đánh giá mức độ suy thoái đất nếu chỉ dựa vào một vài biện pháp đo

lường đơn giản. Do đó, khi đánh giá lương đất bị mất đi do xói mòn cần phải dựa trên các

yếu tố sau:

-



Thời gian có ý nghĩa nhất đói với đất sử dụng (ví dụ: nên xác định xói mòn trong

các mùa vụ đặc thù ).

Lợi ích của người sử dụng đất (Ví dụ: xói mòn ảnh hưởng đến năng xuất mùa vụ ).

Chỉ số và chỉ thị dùng để xác đinh phải đơn giản

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, tùy theo từng loại đất và hình thức canh

tác mà có thể xác định được các loại xói mòn thường xảy ra.

(Lê Huy Bá, Thái Thành Lượm, Nguyễn Thị Kiều Diễm, 2011 )



20



Đánh giá, lập bản đồ xói mòn đất trên lưu vực sơng Đa Dâng – Tỉnh

Lâm Đồng

13.7.2



Sông Đa Dâng là một trong những chi lưu nằm ở thượng nguồn sơng Đồng Nai có

vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước khu vực hạ lưu. Ứng dụng

các phương pháp đánh giá và thành lập bản đồ xói mòn đất tại lưu vực sơng Đa Dâng

bằng phương trình mất đất phổ dụng (USLE - Universal Soil Loss Equation) kết hợp

công nghệ Viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS). Các hệ số sử dụng trong phương

trình USLE (R, K, LS, C và P) được tính tốn bằng việc sử dụng các dữ liệu thu thập

được từ trạm khí tượng, bản đồ địa hình, tài ngun đất và ảnh viễn thám.

Ngồi ra, dữ liệu về hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) của 75 mẫu nước mặt

tại 15 vị trí quan trắc thuộc lưu vực đã được thu thập trong giai đoạn 5 năm (2012 –

2016). Kết quả cho thấy 14,41% diện tích của lưu vực có mức xói mòn cao trên 10

tấn/ha/năm. Đồng thời, kết quả nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ giữa việc sử dụng

đất, sự phân bố khơng gian của xói mòn với hàm lượng TSS trong nguồn nước mặt của

lưu vực sông Đa Dâng. Những kết quả này có ý nghĩa thực tiễn cho cơng tác hoạch định

chính sách trong sử dụng đất, quản lý và bảo vệ đất và nước đối với vùng đồi núi có tính

nhạy cảm như lưu vực sơng Đa Dâng trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

(Phạm Hùng, Võ Lê Phú, Lê Văn Trung, 2017 )

13.7.2.1 Phương trình mất đất phổ dụng

Lượng đất xói mòn trung bình hàng năm phụ thuộc vào các yếu tố khí tượng, địa hình,

thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật và điều kiện canh tác. Phương trình mất đất phổ dụng

(USLE ) được biểu diễn như sau:

Trong đó:

A: Lượng đất mất trung bình hàng năm (tấn/ha/năm )

LS: Hệ số độ dài sườn và độ dốc (tỷ lệ đất mất đi của sườn và độ dốc thực tế so với sườn dài

22,6 m và nghiêng đều với độ dốc 9% )

R: Hệ số xói mòn do mưa trung bình năm (thang đo độ xói mòn được lập trên cơ sở cường độ

mưa, năng lượng mưa EI30 )

K: Hệ số xói mòn đất (được xác định bằng lượng đất mất đi cho một đơn vị xói mòn của mưa

trong các điều kiện chuẩn )

C: Hệ số lớp phủ bề mặt đất (hệ số thực phủ )

P: Hệ số bảo vệ đất (tỷ lệ lượng đất mất đi theo số liệu đã có so với lượng đất mất đi từ thửa

ruộng không thực hiện biện pháp bảo vệ đất ).

(TCVN 5299:2009 )



13.7.2.2 Lập bản đồ đánh giá xói mòn đất

Sơng Đa Dâng nằm ở thượng nguồn của sông Đồng Nai, thuộc địa bàn tỉnh Lâm

Đồng. Lưu vực sơng với diện tích khoảng 157.000 ha, bao phủ một phần các huyện Lạc

Dương, Đam Rông, Đức Trọng, Di Linh và thành phố Đà Lạt của tỉnh Lâm Đồng. Lưu

vực sơng Đa Dâng có địa hình dốc ở phía Bắc và có độ cao thay đổi từ 670m – 2.167m.

Khí hậu của khu vực nghiên cứu thay đổi theo độ cao, chịu sự chi phối của chế độ nhiệt

đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ cuối tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

6 BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG XÓI MÒN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×