Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XÓI MÒN ĐẤT

4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XÓI MÒN ĐẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong thời gian ngắn thì đó chính là tiền đề cho sự hình thành lũ quét, trượt lở ở vùng núi

gập lụt ở hạ lưu, cùng với việc gia tăng xói mòn đất.

13.4.1.4 Đặc tính của mưa

Đặc tính của mưa cũng ảnh hưởng lớn đến xói mòn của đất. Mưa rào nhiệt đới gây

tác hại nhiều hơn nhiều so với mưa nhỏ ở các vùng ôn đới.

13.4.1.5 Thời gian mưa

Hay là mức độ tập trung của những trận mưa. Lượng đất bị xói mòn chủ yếu là vào

mùa mưa, nhất là những nơi đất đang thời kỳ bỏ hố khơng có sự điều tiết và cản nước

của lớp phủ thực vật.

13.4.1.6 Các yếu tố khác

Tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự xói mòn đất như nhiệt độ khơng khí, sự bay

hơi nước, tốc độ gió (khi mưa xuống),... Những tác động này nếu so sánh với tác động do

mưa gây ra thì có thể xem là khơng đáng kể, trừ một số trường hợp đặc biệt như lượng

mưa q nhỏ.

13.4.2



Địa hình



Địa hình ảnh hưởng rất lớn lên xói mòn và với mỗi kiểu địa hình sẽ có những loại

hình xói mòn khác nhau. Nếu địa hình núi, phân cắt có độ dốc lớn thì xói mòn khe rãnh

dạng tuyến diễn ra mạnh mẽ. Còn đối với những mặt sườn phơi và địa hình thấp, thoải thì

xói mòn theo diện (hay xói mòn bề mặt) sẽ chiếm ưu thế. Với địa hình núi đá vơi thì

khơng có hai loại hình trên mà có xói mòn ngầm, tạo các dạng hang động.

Ảnh hưởng của địa hình có thể trực tiếp hay gián tiếp đến sự xói mòn đất. Trước

hết, địa hình làm thay đổi vi khí hậu trong vùng đến ảnh hưởng gián tiếp đến xói mòn đất

thơng qua tác động của khí hậu. Địa hình núi cao cùng với sườn chắn gió ẩm là một trong

những yếu tố tạo nên những tâm mưa lớn. Ảnh hưởng trực tiếp của địa hình đến xói mòn

được thơng qua yếu tố chính là độ dốc và chiều dài sườn dốc:

13.4.2.1 Độ dốc

Độ dốc là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến xói mòn và dòng chảy mặt. Độ dốc

càng lớn thì xói mòn mặt càng lớn và ngược lại. Nó ảnh hưởng tới sự phân chia dòng

nước và cường độ dòng nước chảy. Xói mòn có thế xảy ra cường độ dốc từ 3 0 và nếu độ

dốc tăng lên hai lần thì cường độ xói mòn tăng lên 4 lần hoặc hơn.

Trong điều tra lập bảng đồ đất quy hoạch sử dụng đất tỷ lệ nhỏ có thế xác định độ

dốc theo 3 cấp sau:

-



-



Đất có độ dốc dưới 150: được coi là vùng đất bằng, ít dốc. Trong số này chủ yếu là các

vùng đất ven biển, đồng bằng thung lũng, cao nguyên và đồng bằng thấp, vùng bán sơn

địa. Cây nông nghiệp trồng chủ yếu trên những loại đất này.

Đất có độ dốc từ 150 - 250: đây là những vùng có độ dốc trung bình nhưng đã phải hạn

chế sản xuất nông nghiệp với các loại cây nông nghiệp ngắn ngày, có độ che phủ thấp

hoặc cây trồng cần chăm sóc đặc biệt khơng nên trồng trên đất dốc trên 150. Các loại cây

8



-



trồng lâu năm có tán lá rộng, che phủ cao có thể trồng được nhưng phải có biện pháp hạn

chế xói mòn. Mơ hỉnh sử dụng hợp lý nhất là sản xuất nông lâm kết hợp.

Độ dốc trên 250: theo quy định thì khơng được bố trí cây nơng nghiệp ở đây. Vùng này

chỉ được phép bảo vệ, phục hồi và trồng lại rừng.

Trong quy hoạch sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, độ dốc được chia thành 5 cấp như

sau:

Bảng 13.3: Các cấp của độ dốc



13.4.2.2 Chiều dài sườn dốc:

Cùng một cấp độ dốc, nếu chiều dài sườn dốc càng lớn thì nguy cơ gây xói mòn đất

càng cao. Chiều dài sườn dốc dài bao nhiêu thì lượng đất bị bào mòn cũng tăng lên tuỳ

thuộc vào mơ hình sử dụng đất.

Một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nếu chiều dài sườn dốc tăng lên hai lần

thì lượng đất xói mòn cũng tăng xấp xỉ hai lần (đối với đất sản xuất lâm nghiệp ) và tăng

lên gần ba lần trên đất trồng cà phê. Trong điều kiện nhiệt đới ảnh hưởng của chiều dài

sườn dốc cũng rõ nét hơn so với các nước ôn đới (Hudson, 1981 ). Theo Lê Văn Khoa và

đồng tác giả (2001 ), nghiên cứu ảnh hưởng của chiều dài sườn dốc tới cường độ xói mòn

đã rút ra nhận xét: nếu tăng chiều dài sườn dốc lên hai lần thì lượng đất bị xói mòn tăng

7-8 lần.

13.4.3



Con người



Trong các hoạt động của mình con người tác động đến thế giới tự nhiên theo hai

hướng tích cực và tiêu cực, các hoạt động này có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián

tiếp tác động lên xói mòn. Các hoạt động của con người có thể là:

-



Du canh, đốt rừng làm rẩy.

Hủy hoại thảm thực vật rừng tự nhiên.

Khai thác gỗ không hợp lý.

Bao gồm phá rừng, xây dựng đường sá.



9



-



-



Chăn thả quá mức: Khai thác đòng cỏ chăn thả tự do, làm giảm thảm phủ thực vật

tự nhiên, và tăng mức độ nén chặt đất, dẫn đến kết quả là gia tăng nước chảy tràn,

tăng xói mòn đất, mất nhiều nước.

Khai thác hầm mỏ.

Kỹ thuật canh tác khơng thích hợp.

13.4.4



Thảm thực vật



Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) cho thấy: nếu giảm độ tàn che từ 0,7 - 0,8 xuống

mức 0,3 - 0,4 thì xói mòn đất sẽ tăng lên 42,2% và dòng chảy mặt tăng 30,4% đối với

rừng tự nhiên; xói mòn đất tăng 27,1% và dòng chảy mặt tăng 33,8% đối với rừng le.

Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rừng càng có nhiều tầng tán thì khả năng giữ nước và đất

càng tốt, rừng có một tầng tán thì lượng đất xói mòn cao gấp 3 lần so với rừng có 3 tầng

tán.

13.4.5



Đất đai



Mỗi loại đất khác nhau thì có tính chống xói mòn khác nhau. Có thể định nghĩa tính

xói mòn của đất là đại lượng biểu hiện tính chất dễ bị xói mòn của đất. Tính xói mòn

mang tính chất ngược lại với tính chống xói mòn của đất. Những yếu tố tác dụng đến tính

xói mòn của đất được chia làm 2 nhóm:

Nhóm 1: Các tính chất vật lý của đất như cấu trúc đất, thành phần cơ giới, tốc độ

thấm.

• Nhóm 2: Các biện pháp làm đất trong q trình sử dụng đất. Những tính chất quan

trọng của đất gồm: thành phần cơ giới, cấu trúc, tốc độ thấm và giữ nước, độ xốp

hay độ nén của đất.





13.5 ẢNH HƯỞNG

13.5.1



Mất đất do xói mòn



Lượng đất mất do xói mòn là rất lớn phụ thuộc vào độ dốc, chiều dài sườn dốc, thực

trạng lớp phủ trên mặt đất dao động từ 100 đến 500 tấn đất/ha/năm.

Theo nghiên cứu về lượng xói mòn trên đất canh tác rẫy ở Tây Bắc của hội Khoa Học

Đất Việt Nam:

Bảng 13.4: Lượng đất hằng năm bị mất do xói mòn

Vụ



Độ dày tầng đất bị xói

mòn (cm)



Lượng đất mất

(tấn/ha)



Vụ 1 (1962)

Vụ 2 (1963)

Vụ 3 (1964)



0,79

0,88

0,77



119,2

134,0

115,5



10



Cả 3 vụ gieo



2,44



266,7

(Nguồn: Đào Châu Thu, 2006)



13.5.2

-



Mất dinh dưỡng



Đất bị thối hóa bạc màu.

Làm thay đổi tính chất vật lý của đất, đất trở nên khô cần, khả năng thấm hút và

giữ nước của đất kém.

Làm tổn hại tới môi trường sống của sinh vật, động thực vật đất nên hạn chế khả

năng phân giải của chúng, do đó độ phì nhiêu của đất giảm.

13.5.3



Tác hại đến sản xuất

13.5.3.1 Tác hại đến sản xuất nông nghiệp



Đất mặt bị bào mòn, đất trở nên nghèo xấu, mất hết chất hữu cơ độ phì trong đất.

Xói mòn đất gây nhiều thiệt hại to lớn trong nông nghiệp, đã lôi cuốn phần lớn các hạt

đất có kích thước nhỏ có chứa chất phì làm đất trở nên nghèo nàn. Làm giảm năng xuất

cây trồng



Hình 13.2: Đất bị xói mòn mất chất dinh dưỡng

(Nguồn: Nghệ Tính Plus)



13.5.3.2 Tác hại đến sản xuất cơng nghiệp

Do xói mòn đất, nương rẫy chỉ làm vài ba vụ rồi bỏ hóa. Chế độ canh tác bừa bãi

theo kiểu đốt nương rẫy đã làm cho nông sản giảm đi rất nhiều kéo theo việc sản xuất

công nghiệp bị ảnh hưởng.



11



13.5.3.3 Tác hại đến thủy lợi

Mức độ xói mòn ở nước ta thuộc loại cao, phù sa các sông lớn cuốn từ thượng

nguồn về bồi đắp các sông ở hạ lưu làm nâng mực nước sông dẫn đến lụt lội. Ngồi ra, sa

bồi làm cho các cơng trình thủy lơi như hồ chứa nước, kênh mương bị thu hẹp diện tích,

hiệu suất sử dụng bị hạn chế, cơng tác tưới tiêu gặp nhiều trở ngại.

-



Năng suất cây trồng giảm nhanh chống.

Tăng chi phí sản xuất để phục hồi đất, thu nhập của người dân thấp, đời sống của

người dân gặp khó khăn.

13.5.4



Tác hại đến mơi trường



Mơi trường bị ơ nhiễm nghiêm trọng, hạn hán lũ lụt xảy ra liên tục làm ô nhiễm

nguồn nước và gây ra nhiều thiệt hại cho người dân.

Xói mòn đất ở mức độ cao người ta gọi là hiện tượng lở đất, sát núi gắn liền với

hiện tượng lũ quét đã gây thiệt hại không những cho môi trường sinh thái, cảnh quan mà

cả con người và xã hội.



13.6 BIỆN PHÁP PHỊNG CHỐNG XĨI MỊN

13.6.1



Các biện pháp phi cơng trình



Các biện pháp phòng ngừa đề cập ở đây là các biện pháp canh tác hay “phi cơng

trình”, dựa trên ngun tắc quản lý đất để tối thiểu hóa tác động của các giọt mưa, tăng

cường và duy trì một cấu trúc của đất thuận lợi, tối thiểu hóa sự đóng váng bề mặt, thúc

đẩy một vận tốc thấm nước cao, và giảm vận tốc và số lượng nước chảy mặt. Một kỹ

thuật quản lý ngăn ngừa xói mòn đất thường được khuyến cáo là sử dụng cây che phủ

đất, che tủ đất bằng phế liệu , và canh tác bảo tồn .

Các kỹ thuật quản lý hoa màu có liên quan để kiểm sốt xói mòn đất bao gồm sự

cung cấp một thảm phủ thực vật liên tục (ví dụ, đa canh , canh tác theo băng ), và các hệ

thống của quản lý hoa màu được cải thiện (ví dụ, các giống mới, hạt giống có chất lượng

tốt, trồng sớm, sử dụng phân bón cân bằng, các biện pháp kiểm sốt dịch hại, và các kỹ

thuật nông học dựa trên phương thức canh tác tốt khác đảm bảo cấu trúc, sinh trưởng và

năng suất tối ưu của hoa màu ).

13.6.1.1 Canh tác che phủ đất

Che tủ đất là tạo một lớp phế liệu hoa màu trên mặt đất. Có nhiều loại vật liệu che tủ đất

khác nhau, phụ thuộc vào nguồn và phương pháp thu nhận và áp dụng vật liệu của che tủ

đất (Hình 13). Các phương pháp cơng nghệ của canh tác che tủ đất khác nhau trên cơ sở

nguồn gốc của vật liệu che tủ đất là mang từ nơi khác đến hay được sản xuất tại chỗ. Mặc

dù một phạm vi rộng các vật liệu đã được sử dụng để che tủ đất, thực tế và khả thi nhất là

phế liệu hoa màu từ vụ trước.

Các tác dụng có lợi của sự che tủ đất là do các cơ chế:





Các tác dụng vật lý: tối thiểu hóa tác động của các giọt mưa, cải thiện sự tiếp nhận

lượng mưa của mặt đất thông qua tăng cường của cấu trúc của đất, giảm nước

chảy mặt và do đó, giảm xói mòn;

12



Các tác dụng sinh học: gia tăng các hoạt động sinh học và đa dạng loài của hệ thực

vật và hệ động vật đất, như trùn đất, gia tăng sinh khối carbon, và cải thiện sinh

trưởng của hoa màu; và

• Các tác dụng hóa học: thay đổi tình trạng dưỡng liệu và ảnh hưởng lên sinh trưởng

của hoa màu.





Một lợi ích chính của canh tác che tủ đất là giảm lượng nước

chảy mặt và xói mòn đất. Dữ liệu trong Bảng 13 ghi nhận từ các độ

dốc 1% đến 15%, cho thấy rằng với một mức che tủ đất 4 Mg/ha,

hiệu quả giảm nước chảy mặt được được ghi nhận ngay cả ở độ dốc

đến 15%. Dữ liệu trong Bảng 14 cho thấy giá trị âm của số mũ của

mức độ hay số lượng vật liệu che tủ đất (M), cho thấy rằng nước

chảy mặt và xói mòn đất giảm theo hàm mũ với một sự gia tăng số

lượng vật liệu che tủ đất ngay cả kh không hoa màu che phủ. Ngoài

sự gia tăng vận tốc thấm, che tủ đất cũng làm giảm bốc hơi từ đất

và bảo tồn nước trong vùng rễ. Hạn chế chính của phương pháp là

nó đòi hỏi một lượng lớn phế liệu thực vật (thường là 4 Mg/ha/năm)

để dùng làm áp dụng vật liệu che tủ đất đều đặn và thường xuyên

một cách kinh tế (cùng với nhu cầu thức ăn xanh, chất đốt hay vật

liệu xây dựng) và chi phí lao động cần thêm, bao gồm chi phí thu

hoạch và áp dụng vật liẹu che tủ đất. Hệ quả là canh tác che tủ đất

có thể chỉ khả thi trên quy mơ nhỏ cho một số hoa màu hàng hóa có

giá trị cao.

13.6.1.2 Canh tác bảo tồn





Không cày đất



Đây là một hệ thống làm đất trong đó khơng có sự chuẩn bị đất trước khi gieo trồng

và phần lớn phế liệu hoa màu được để lại trên mặt đất . Sự kết hợp của giải pháp không

gây nhiễu loạn đất và sự hiện diện của phế liệu hoa màu có tác dụng che tủ đất giúp tối

thiểu hóa các rũi ro do xói mòn. Vài các thí nghiệm được tiến hành trong khắp vùng nhiệt

đới ẩm đã chứng minh hiệu quả kiểm soát xói mòn của canh tác khơng cày đất. Tuy

nhiên, để có thể áp dụng được và có hiệu quả, một hệ thống khơng cày đất phải được

thích ứng với các điều kiện cụ thể. Có vài các biến cách của các hệ thống khơng cày đất

có thể được thích ứng để đáp ứng với các hạn chế cụ thể của đất.

Gieo qua lớp cỏ: Sự gieo trồng được thực hiện trực tiếp trên lớp thực bì, cỏ dại, lớp

cây che phủ đất hay phế liệu hoa màu của vụ trước được diệt bằng hóa chất hay cơ giới.

Thuốc diệt cỏ Paraquat hay một loại thuốc diệt cỏ tiếp xúc khác thường được sử dụng để

đàn áp cỏ dại hay cây che phủ đất. Thuốc diệt cỏ tồn lưu (ví dụ, atrazine lasso) cũng đã

được sử dụng để kiểm soát cỏ dại tiền nẫy mầm. Hoa màu có thể được trồng thủ công hay

dùng máy tạo rãnh hẹp (rộng 5 - 7 cm và sâu 5 cm) để gieo hạt (Plate 22).

Cây che phủ đất: Hệ thống bao gồm trồng hoa màu lấy hạt hay hoa màu lương

thực thực phẩm thông qua một lớp cây che phủ đất được gieo trồng đặc biệt để tạo ra một

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XÓI MÒN ĐẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×