Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 13 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN XÓI MÒN ĐẤT

CHƯƠNG 13 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN XÓI MÒN ĐẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

13.1.2



Ở Việt Nam



Theo Lê Huy Bá (2000), đất đai của Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều,

nhiệt dộ khơng khí cao, khống hóa mạnh, màu mỡ làm cho ruộng đất dễ bị xói mòn, mơi

trường đất phần lớn có xu thế thối hóa và khó khơi phục lại trạng thái ban đầu. Thêm

vào đó, với phương thức canh tác không đúng kỹ thuật, đốt nương làm rẫy trên các vùng

đất dốc, tưới tiêu không hợp lý ở vùng đồng bằng làm nảy sinh nhiều q trình gây thối

hóa đất như ; rửa trơi, xói mòn, phèn hóa, mặn hóa thứ sinh và chua hóa thứ sinh.

Biểu hiện suy thối mơi trường đất lớn nhất ở Việt Nam là có đến hơn 13 triệu ha

đất trống đồi núi trọc, trong đó những diện tích đã bị xói mòn trơ sỏi dá, mất tính năng

sản xuất, đạt xấp xỉ 1,2 triệu ha. Đất núi trọc khơng có rừng là 1,98 triệu ha. Nếu kể đất

và mặt nước đang bị bỏ hoang thì diện tích đất trống đồi trọc lên tới 13,4 triệu ha.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2015, riêng vùng

Đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm mất khoảng 500 ha đất và tốc độ xói lở lên đến 30 –

40 m/năm xảy ra ở nhiều vùng dọc theo bờ biển. Sạt lở khơng chỉ xảy ra ở bờ biển mà

còn ở vùng ven bờ sông, cửa sông...Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 265 điểm sạt lở

bờ sơng, bờ biển với tổng chiều dài 450km. Trong đó có 20 điểm nóng sạt lở bờ biển với

tổng chiều dài hơn 200 km, chiếm khoảng tổng chiều dài bờ biển của vùng. Tại Gò Cơng

Đơng (Tiền Giang) có những đoạn sạt 30 m/năm, ở cửa Gành Hào (Bạc Liêu) có đoạt sạt

đến 100m/năm, một số đoạn ra mũi Cà Mau lở khoảng 30 - 40m/năm. Bên cạnh đó, hằng

năm vùng ven sơng Tiền, sơng Hậu thường xuyên xảy ra nhiều điểm nóng sạt lở vào đầu

và cuối mùa lũ ở An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và một số tỉnh khác.

Riêng tại tỉnh An Giang, theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An

Giang năm 2015, trên địa bàn tỉnh có 48 đoạn sông được đưa vào danh mục cảnh báo sạt

lở, với tổng chiều dài 156.960m. Trong đó, 10 đoạn được cảnh báo ở mức độ rất nguy

hiểm, 31 đoạn ở mức độ nguy hiểm, 6 đoạn ở mức độ trung bình và 1 đoạn ở mức độ nhẹ.

Hàng năm, số vụ sạt lở xảy ra trên địa bàn tỉnh từ 5 đến 10 vụ, làm mất từ 15 đến 20 hécta đất/năm, ước thiệt hại khoảng 10 tỷ đồng/năm. Từ năm 2014 đến đầu năm 2015, tình

hình sạt lở ở mức độ nhẹ, với 10 vụ, mất 13 héc-ta. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2015,

trên địa bàn tỉnh đã xảy 6 vụ sạt lở tại: Hòa Lạc (Phú Tân), Vĩnh Trường (An Phú),

phường Mỹ Thạnh (TP. Long Xuyên), Kiến An (2 vụ) và thị trấn Mỹ Luông (Chợ Mới),

với tổng diện tích sạt lở đất bờ sơng 60.000m2 .



13.2 XĨI MỊN ĐẤT LÀ GÌ ?

Đến nay, có rất nhiều các định nghĩa, khái niệm khác nhau về xói mòn đất. Theo từ

điển bách khoa tồn thư về khoa học đất, xói mòn xuất phát từ tiếng Latin là “erodere”

chỉ sự ăn mòn dần, thuật ngữ xói mòn dùng để chỉ các quá trình liên quan đến các lớp đất,

đá tơi ra và bị mang đi bởi các tác nhân nhân gió, nước, băng, tuyết tan hoặc hoạt động

của sinh vật.

Theo Ellison (1944), “Xói mòn là hiện tượng di chuyển đất bởi nước mưa, bởi gió

dưới tác động của trọng lực lên bề mặt của đất. Xói mòn đất được xem như là một hàm số

với biến số là loại đất, độ dốc địa hình, mật độ che phủ của thảm thực vật, lượng mưa và

cường độ mưa”.



3



Ngoài ra, theo Hudson (1968) xói mòn đất còn đƣợc xem là sự chuyển dời vật lý

của lớp đất do nhiều tác nhân khác, nhau như lực đập của giọt nƣớc, gió, tuyết và bao

gồm cả q trình sạt lở do trọng lực.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, gọi tắt là FAO (1994 ),

“Xói mòn là hiện tượng các phần tử mảnh, cục và có khi cả lớp bề mặt đất bị bào mòn,

cuốn trơi do sức gió và sức nước”.

R.P.C Morgan, 2005 thì cho rằng, xói mòn đất là một q trình gồm hai pha bao

gồm sự tách rời của các phần tử nhỏ từ mặt đất sau đó vận chuyển chúng dưới các tác

nhân gây xói như nước chảy và gió. Khi năng lượng khơng còn đủ để vận chuyển các

phần tử này, pha tứ ba – quá trình bồi lắng - sẽ xảy ra.

Cũng dựa trên yếu tố trọng lực, tác giả Cao Đăng Dư có quan niệm cho rằng q

trình xói mòn, trượt lở, bồi lấp thực chất là quá trình phân bố lại vật chất dưới ảnh hưởng

của trọng lực, xảy ra khắp nơi và bị chi phối bởi yếu tố địa hình.

Theo một trong những cách tiếp cận khác khi nghiên cứu về lớp phủ thực vật

Nguyễn Quang Mỹ và Nguyễn Tứ Dần (1986) lại cho rằng: “Xói mòn là một quá trình

động lực phá hủy độ màu mỡ của đất, làm mất trạng thái cân bằng của cả vùng bị xói

mòn lẫn vùng bị bồi tụ”.



13.3 NGUN NHÂN

13.3.1



Tự nhiên

13.3.1.1 Xói mòn do gió



Hiện tượng xói mòn đất do gió thường xày ra ở những vùng đất có thành phần cơ

giới nhẹ: như những vùng đất cát ven biển, đất vùng đồi bán khơ cạn.

Mức độ xói mòn do gió mạnh hay yếu phụ thuộc vào những yếu tố sau:











Tốc độ gió

Thành phần cơ giới của đất

Độ ẩm đất

Độ che phủ của thảm thực vật

13.3.1.2 Xói mòn do nước



Xói mòn do nước là loại xói mòn do sự cộng phá của những hạt mưa đối với lớp đất

mặt và sức cuốn trơn của dòng chảy trên bề mặt đất. Đây là loại xói mòn ở những vàng

đất dốc khi khơng có lớp phủ thực vật, gây ra các hiện tượng xói mặt, xói rãnh, xói khe.



4



Hình 13.1 Đất bị xói mòn tạo thành rãnh

(Nguồn: Baobinhdinh.com.vn)



Các nhân tố ảnh hưỡng đến xói mòn do nước:

Mưa: là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến xói mòn đất. Chỉ

cần lượng mưa trên 100mm, ở những nơi có độ dốc trên 10 0 là có thể gây ra hiện

tượng xói mòn đất. Giọt mưa cơng phá đất trực tiếp gây ra xói mòn, giọt mưa càng

lớn sức cơng phá càng mạnh.

• Đất: đất có độ thấm nước càng lớn thì hạn chế được xói mòn, vì lượng nước dòng

chảy giảm. Độ thấm nước phụ thuộc vào: độ dày của lớp đất, thành phần cơ giới

của đất, kết cấu đất...

• Địa hình: độ dốc quyết định đến thế năng của hạt đất và dòng chảy phát sinh trên

bề mặt. Độ dốc càng lớn thì độ xói mòn càng mạnh, cường độ xói mòn còn phụ

thuộc vào chiều dài dốc: dốc càng dài khối lượng nước chảy, tốc độ dòng chảy, lực

qn tính càng tăng, xói mòn càng mạnh.

• Độ che phủ thực vật: thảm thực vật có tác dụng ngăn chặn xói mòn làm tắt năng

lượng hạt mưa, làm chậm tích tụ nước, tạo kết cấu bền của thể đất, tăng mức độ

thấm nước của đất, tăng ma sát cơ học thơng qua bộ rễ và thảm lá rụng.





Bảng 13.1: Một số ngun nhân gây xói mòn đất ( đơn vị %)

Ngun

nhân



Xói mòn

do nước



Xói mòn

do gió



Thối hóa

hóa học



Thái hóa

lý học



Tổng số



Phá rừng



43



8



26



2



384



Chăn thả

quá mức



29



50



6



16



388



5



Canh tác

không

hợp lý



24



16



58



80



389



Nguyên

nhân khác



4



16



10



2



93



Tổng số



100



100



100



100



1214



(Nguồn: Đào Châu Thu, 2006)



13.3.1.3 Xói mòn do trọng lực

Do đặc tính vật lý của đất là có độ xốp, đất có nhiều khe hở với nhiều kích thước

khác nhau và dolực hút của quả đất ên đất có khả năng di chuyển từ tầng đất trên của bền

mặt xuống tầng đất sâu do chính trọng lượng của nó hoặc có thể đất bị trơi nhẹ theo khe,

rãnh. hay người ta còn gọi là hiện tượng rửa trôi đất theo chiều của phẩu diện đất.

13.3.2



Xói mòn đất do các hoạt động sản xuất và quản lý của con người



Nhịp độ tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội trong nhiều thập kỷ qua đã làm cạn

kiệt các nguồn tài nguyên đặc biệt là tài nguyên đất. Con người với các hoạt động và

quản lí tài ngun đất khác nhau đã góp phần gây ra xói mòn đất dẫn đến suy thối đất.



Hình 13.1: Chặt phá rừng làm nương rẫy làm xói mòn đất

6



(Nguồn: Tintaynguyen.com)



Các hoạt động và quản lí đất đã dẫn đến xói mòn đất: khai thác rừng khơng hợp lý,

phá rừng làm nương rẫy. Canh tác nông nghiệp không bền vững, cháy rừng, chăn thả gia

súc quá mức, xây dựng dường điện, cầu cống, dường điện ở vùng núi không hợp lý, trồng

rừng quy mô lớn nhưng không chú ý đến hỗn lồi và trồng loại cây thích hợp.

Bảng 13.2: Diện tích đất nương rẫy bình qn 1 hộ gia đình ở các vùng (ha )

Quảng

Ninh



Lạng

Sơn



3,56



0,17



Tuyên Sơn Nghệ Bình

Quang La

An Định

1,97



1,2



0,59



1,48



Bình

Thuận

1,37



Đắk Đồng Bình

Lắk Nai Phước





Mau



0,44



1,4



2,14



1,73



(Nguồn: Đào Châu Thu, 2006 )



13.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XĨI MỊN ĐẤT

13.4.1



Khí hậu



Yếu tố khí hậu có thể nói là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến xói mòn đất. Trong các

yếu tố gây xói mòn chính thì mưa là quan trọng hơn cả, ngồi ra có những yếu tố ảnh

hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến xói mòn như nhiệt độ khơng khí, độ ẩm, tốc độ gió...

13.4.1.1 Lượng mưa

Lượng mưa ảnh hưởng rất lớn đến q trình xói mòn. Ở những khu vực có lượng

mưa thấp thì khả năng xói mòn là rất thấp vì lượng mưa khơng đủ để tạo thành dòng chảy

(vì bị mất do ngấm vào đất, bay hơi, thực vật sử dụng...) và do đó khơng có khả năng vận

chuyển vật chất đi xa. Lượng mưa trung bình hàng năm thường phải lớn hơn 300 mm thì

xói mòn do mưa mới xuất hiện rõ. Nếu lượng mưa lớn hơn 1000 mm/năm thì cũng tạo

điều kiện tốt cho lớp phủ thực vật phát triển và lượng xói mòn cũng khơng đáng kể.

Nhưng với lượng mưa như vậy mà tại những khu vực có rừng bị tàn phá thành đất trống,

đồi núi trọc thì xói mòn thì sẽ là rất lớn.

13.4.1.2 Bốc hơi nước

Một phần bốc hơi trực tiếp vào khí quyển, phần khác bốc hơi qua hoạt động của

thực vật và động vật sau đó được ngấm xuống đất theo khe nứt, thẩm thấu. Lượng nước

còn lại hình thành dòng chảy bề mặt.

13.4.1.3 Cường độ mưa

Q trình hình thành dòng chảy phụ thuộc nhiều vào cường độ của trận mưa. Cường

độ mưa là lượng mưa trong một thời gian nhất định trong một đơn vị tính là mm/h. Theo

các kết quả nghiên cứu ở nhiều khu vực trên thế giới thì những trận mưa có cường độ

mưa trên 25 mm/h thì mới có tác dụng tạo nên dòng chảy và từ đó mới gây xói mòn. Tỷ

lệ lượng mưa tạo ra trong năm được tạo ra bởi các trận mưa có cường độ lớn hơn

25 mm/h càng nhiều thì khả năng gây xói mòn càng lớn. Nếu thời gian mưa dồn dập



7



trong thời gian ngắn thì đó chính là tiền đề cho sự hình thành lũ qt, trượt lở ở vùng núi

gập lụt ở hạ lưu, cùng với việc gia tăng xói mòn đất.

13.4.1.4 Đặc tính của mưa

Đặc tính của mưa cũng ảnh hưởng lớn đến xói mòn của đất. Mưa rào nhiệt đới gây

tác hại nhiều hơn nhiều so với mưa nhỏ ở các vùng ôn đới.

13.4.1.5 Thời gian mưa

Hay là mức độ tập trung của những trận mưa. Lượng đất bị xói mòn chủ yếu là vào

mùa mưa, nhất là những nơi đất đang thời kỳ bỏ hố khơng có sự điều tiết và cản nước

của lớp phủ thực vật.

13.4.1.6 Các yếu tố khác

Tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự xói mòn đất như nhiệt độ khơng khí, sự bay

hơi nước, tốc độ gió (khi mưa xuống),... Những tác động này nếu so sánh với tác động do

mưa gây ra thì có thể xem là không đáng kể, trừ một số trường hợp đặc biệt như lượng

mưa quá nhỏ.

13.4.2



Địa hình



Địa hình ảnh hưởng rất lớn lên xói mòn và với mỗi kiểu địa hình sẽ có những loại

hình xói mòn khác nhau. Nếu địa hình núi, phân cắt có độ dốc lớn thì xói mòn khe rãnh

dạng tuyến diễn ra mạnh mẽ. Còn đối với những mặt sườn phơi và địa hình thấp, thoải thì

xói mòn theo diện (hay xói mòn bề mặt) sẽ chiếm ưu thế. Với địa hình núi đá vơi thì

khơng có hai loại hình trên mà có xói mòn ngầm, tạo các dạng hang động.

Ảnh hưởng của địa hình có thể trực tiếp hay gián tiếp đến sự xói mòn đất. Trước

hết, địa hình làm thay đổi vi khí hậu trong vùng đến ảnh hưởng gián tiếp đến xói mòn đất

thơng qua tác động của khí hậu. Địa hình núi cao cùng với sườn chắn gió ẩm là một trong

những yếu tố tạo nên những tâm mưa lớn. Ảnh hưởng trực tiếp của địa hình đến xói mòn

được thơng qua yếu tố chính là độ dốc và chiều dài sườn dốc:

13.4.2.1 Độ dốc

Độ dốc là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến xói mòn và dòng chảy mặt. Độ dốc

càng lớn thì xói mòn mặt càng lớn và ngược lại. Nó ảnh hưởng tới sự phân chia dòng

nước và cường độ dòng nước chảy. Xói mòn có thế xảy ra cường độ dốc từ 3 0 và nếu độ

dốc tăng lên hai lần thì cường độ xói mòn tăng lên 4 lần hoặc hơn.

Trong điều tra lập bảng đồ đất quy hoạch sử dụng đất tỷ lệ nhỏ có thế xác định độ

dốc theo 3 cấp sau:

-



-



Đất có độ dốc dưới 150: được coi là vùng đất bằng, ít dốc. Trong số này chủ yếu là các

vùng đất ven biển, đồng bằng thung lũng, cao nguyên và đồng bằng thấp, vùng bán sơn

địa. Cây nông nghiệp trồng chủ yếu trên những loại đất này.

Đất có độ dốc từ 150 - 250: đây là những vùng có độ dốc trung bình nhưng đã phải hạn

chế sản xuất nơng nghiệp với các loại cây nơng nghiệp ngắn ngày, có độ che phủ thấp

hoặc cây trồng cần chăm sóc đặc biệt khơng nên trồng trên đất dốc trên 150. Các loại cây

8



-



trồng lâu năm có tán lá rộng, che phủ cao có thể trồng được nhưng phải có biện pháp hạn

chế xói mòn. Mơ hỉnh sử dụng hợp lý nhất là sản xuất nông lâm kết hợp.

Độ dốc trên 250: theo quy định thì khơng được bố trí cây nơng nghiệp ở đây. Vùng này

chỉ được phép bảo vệ, phục hồi và trồng lại rừng.

Trong quy hoạch sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, độ dốc được chia thành 5 cấp như

sau:

Bảng 13.3: Các cấp của độ dốc



13.4.2.2 Chiều dài sườn dốc:

Cùng một cấp độ dốc, nếu chiều dài sườn dốc càng lớn thì nguy cơ gây xói mòn đất

càng cao. Chiều dài sườn dốc dài bao nhiêu thì lượng đất bị bào mòn cũng tăng lên tuỳ

thuộc vào mơ hình sử dụng đất.

Một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nếu chiều dài sườn dốc tăng lên hai lần

thì lượng đất xói mòn cũng tăng xấp xỉ hai lần (đối với đất sản xuất lâm nghiệp ) và tăng

lên gần ba lần trên đất trồng cà phê. Trong điều kiện nhiệt đới ảnh hưởng của chiều dài

sườn dốc cũng rõ nét hơn so với các nước ôn đới (Hudson, 1981 ). Theo Lê Văn Khoa và

đồng tác giả (2001 ), nghiên cứu ảnh hưởng của chiều dài sườn dốc tới cường độ xói mòn

đã rút ra nhận xét: nếu tăng chiều dài sườn dốc lên hai lần thì lượng đất bị xói mòn tăng

7-8 lần.

13.4.3



Con người



Trong các hoạt động của mình con người tác động đến thế giới tự nhiên theo hai

hướng tích cực và tiêu cực, các hoạt động này có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián

tiếp tác động lên xói mòn. Các hoạt động của con người có thể là:

-



Du canh, đốt rừng làm rẩy.

Hủy hoại thảm thực vật rừng tự nhiên.

Khai thác gỗ không hợp lý.

Bao gồm phá rừng, xây dựng đường sá.



9



-



-



Chăn thả quá mức: Khai thác đòng cỏ chăn thả tự do, làm giảm thảm phủ thực vật

tự nhiên, và tăng mức độ nén chặt đất, dẫn đến kết quả là gia tăng nước chảy tràn,

tăng xói mòn đất, mất nhiều nước.

Khai thác hầm mỏ.

Kỹ thuật canh tác khơng thích hợp.

13.4.4



Thảm thực vật



Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) cho thấy: nếu giảm độ tàn che từ 0,7 - 0,8 xuống

mức 0,3 - 0,4 thì xói mòn đất sẽ tăng lên 42,2% và dòng chảy mặt tăng 30,4% đối với

rừng tự nhiên; xói mòn đất tăng 27,1% và dòng chảy mặt tăng 33,8% đối với rừng le.

Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rừng càng có nhiều tầng tán thì khả năng giữ nước và đất

càng tốt, rừng có một tầng tán thì lượng đất xói mòn cao gấp 3 lần so với rừng có 3 tầng

tán.

13.4.5



Đất đai



Mỗi loại đất khác nhau thì có tính chống xói mòn khác nhau. Có thể định nghĩa tính

xói mòn của đất là đại lượng biểu hiện tính chất dễ bị xói mòn của đất. Tính xói mòn

mang tính chất ngược lại với tính chống xói mòn của đất. Những yếu tố tác dụng đến tính

xói mòn của đất được chia làm 2 nhóm:

Nhóm 1: Các tính chất vật lý của đất như cấu trúc đất, thành phần cơ giới, tốc độ

thấm.

• Nhóm 2: Các biện pháp làm đất trong quá trình sử dụng đất. Những tính chất quan

trọng của đất gồm: thành phần cơ giới, cấu trúc, tốc độ thấm và giữ nước, độ xốp

hay độ nén của đất.





13.5 ẢNH HƯỞNG

13.5.1



Mất đất do xói mòn



Lượng đất mất do xói mòn là rất lớn phụ thuộc vào độ dốc, chiều dài sườn dốc, thực

trạng lớp phủ trên mặt đất dao động từ 100 đến 500 tấn đất/ha/năm.

Theo nghiên cứu về lượng xói mòn trên đất canh tác rẫy ở Tây Bắc của hội Khoa Học

Đất Việt Nam:

Bảng 13.4: Lượng đất hằng năm bị mất do xói mòn

Vụ



Độ dày tầng đất bị xói

mòn (cm)



Lượng đất mất

(tấn/ha)



Vụ 1 (1962)

Vụ 2 (1963)

Vụ 3 (1964)



0,79

0,88

0,77



119,2

134,0

115,5



10



Cả 3 vụ gieo



2,44



266,7

(Nguồn: Đào Châu Thu, 2006)



13.5.2

-



Mất dinh dưỡng



Đất bị thối hóa bạc màu.

Làm thay đổi tính chất vật lý của đất, đất trở nên khô cần, khả năng thấm hút và

giữ nước của đất kém.

Làm tổn hại tới môi trường sống của sinh vật, động thực vật đất nên hạn chế khả

năng phân giải của chúng, do đó độ phì nhiêu của đất giảm.

13.5.3



Tác hại đến sản xuất

13.5.3.1 Tác hại đến sản xuất nông nghiệp



Đất mặt bị bào mòn, đất trở nên nghèo xấu, mất hết chất hữu cơ độ phì trong đất.

Xói mòn đất gây nhiều thiệt hại to lớn trong nông nghiệp, đã lơi cuốn phần lớn các hạt

đất có kích thước nhỏ có chứa chất phì làm đất trở nên nghèo nàn. Làm giảm năng xuất

cây trồng



Hình 13.2: Đất bị xói mòn mất chất dinh dưỡng

(Nguồn: Nghệ Tính Plus)



13.5.3.2 Tác hại đến sản xuất cơng nghiệp

Do xói mòn đất, nương rẫy chỉ làm vài ba vụ rồi bỏ hóa. Chế độ canh tác bừa bãi

theo kiểu đốt nương rẫy đã làm cho nông sản giảm đi rất nhiều kéo theo việc sản xuất

công nghiệp bị ảnh hưởng.



11



13.5.3.3 Tác hại đến thủy lợi

Mức độ xói mòn ở nước ta thuộc loại cao, phù sa các sông lớn cuốn từ thượng

nguồn về bồi đắp các sông ở hạ lưu làm nâng mực nước sơng dẫn đến lụt lội. Ngồi ra, sa

bồi làm cho các cơng trình thủy lơi như hồ chứa nước, kênh mương bị thu hẹp diện tích,

hiệu suất sử dụng bị hạn chế, công tác tưới tiêu gặp nhiều trở ngại.

-



Năng suất cây trồng giảm nhanh chống.

Tăng chi phí sản xuất để phục hồi đất, thu nhập của người dân thấp, đời sống của

người dân gặp khó khăn.

13.5.4



Tác hại đến mơi trường



Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, hạn hán lũ lụt xảy ra liên tục làm ô nhiễm

nguồn nước và gây ra nhiều thiệt hại cho người dân.

Xói mòn đất ở mức độ cao người ta gọi là hiện tượng lở đất, sát núi gắn liền với

hiện tượng lũ quét đã gây thiệt hại không những cho môi trường sinh thái, cảnh quan mà

cả con người và xã hội.



13.6 BIỆN PHÁP PHỊNG CHỐNG XĨI MỊN

13.6.1



Các biện pháp phi cơng trình



Các biện pháp phòng ngừa đề cập ở đây là các biện pháp canh tác hay “phi cơng

trình”, dựa trên ngun tắc quản lý đất để tối thiểu hóa tác động của các giọt mưa, tăng

cường và duy trì một cấu trúc của đất thuận lợi, tối thiểu hóa sự đóng váng bề mặt, thúc

đẩy một vận tốc thấm nước cao, và giảm vận tốc và số lượng nước chảy mặt. Một kỹ

thuật quản lý ngăn ngừa xói mòn đất thường được khuyến cáo là sử dụng cây che phủ

đất, che tủ đất bằng phế liệu , và canh tác bảo tồn .

Các kỹ thuật quản lý hoa màu có liên quan để kiểm sốt xói mòn đất bao gồm sự

cung cấp một thảm phủ thực vật liên tục (ví dụ, đa canh , canh tác theo băng ), và các hệ

thống của quản lý hoa màu được cải thiện (ví dụ, các giống mới, hạt giống có chất lượng

tốt, trồng sớm, sử dụng phân bón cân bằng, các biện pháp kiểm sốt dịch hại, và các kỹ

thuật nơng học dựa trên phương thức canh tác tốt khác đảm bảo cấu trúc, sinh trưởng và

năng suất tối ưu của hoa màu ).

13.6.1.1 Canh tác che phủ đất

Che tủ đất là tạo một lớp phế liệu hoa màu trên mặt đất. Có nhiều loại vật liệu che tủ đất

khác nhau, phụ thuộc vào nguồn và phương pháp thu nhận và áp dụng vật liệu của che tủ

đất (Hình 13). Các phương pháp công nghệ của canh tác che tủ đất khác nhau trên cơ sở

nguồn gốc của vật liệu che tủ đất là mang từ nơi khác đến hay được sản xuất tại chỗ. Mặc

dù một phạm vi rộng các vật liệu đã được sử dụng để che tủ đất, thực tế và khả thi nhất là

phế liệu hoa màu từ vụ trước.

Các tác dụng có lợi của sự che tủ đất là do các cơ chế:





Các tác dụng vật lý: tối thiểu hóa tác động của các giọt mưa, cải thiện sự tiếp nhận

lượng mưa của mặt đất thông qua tăng cường của cấu trúc của đất, giảm nước

chảy mặt và do đó, giảm xói mòn;

12



Các tác dụng sinh học: gia tăng các hoạt động sinh học và đa dạng loài của hệ thực

vật và hệ động vật đất, như trùn đất, gia tăng sinh khối carbon, và cải thiện sinh

trưởng của hoa màu; và

• Các tác dụng hóa học: thay đổi tình trạng dưỡng liệu và ảnh hưởng lên sinh trưởng

của hoa màu.





Một lợi ích chính của canh tác che tủ đất là giảm lượng nước

chảy mặt và xói mòn đất. Dữ liệu trong Bảng 13 ghi nhận từ các độ

dốc 1% đến 15%, cho thấy rằng với một mức che tủ đất 4 Mg/ha,

hiệu quả giảm nước chảy mặt được được ghi nhận ngay cả ở độ dốc

đến 15%. Dữ liệu trong Bảng 14 cho thấy giá trị âm của số mũ của

mức độ hay số lượng vật liệu che tủ đất (M), cho thấy rằng nước

chảy mặt và xói mòn đất giảm theo hàm mũ với một sự gia tăng số

lượng vật liệu che tủ đất ngay cả kh khơng hoa màu che phủ. Ngồi

sự gia tăng vận tốc thấm, che tủ đất cũng làm giảm bốc hơi từ đất

và bảo tồn nước trong vùng rễ. Hạn chế chính của phương pháp là

nó đòi hỏi một lượng lớn phế liệu thực vật (thường là 4 Mg/ha/năm)

để dùng làm áp dụng vật liệu che tủ đất đều đặn và thường xuyên

một cách kinh tế (cùng với nhu cầu thức ăn xanh, chất đốt hay vật

liệu xây dựng) và chi phí lao động cần thêm, bao gồm chi phí thu

hoạch và áp dụng vật liẹu che tủ đất. Hệ quả là canh tác che tủ đất

có thể chỉ khả thi trên quy mô nhỏ cho một số hoa màu hàng hóa có

giá trị cao.

13.6.1.2 Canh tác bảo tồn





Khơng cày đất



Đây là một hệ thống làm đất trong đó khơng có sự chuẩn bị đất trước khi gieo trồng

và phần lớn phế liệu hoa màu được để lại trên mặt đất . Sự kết hợp của giải pháp không

gây nhiễu loạn đất và sự hiện diện của phế liệu hoa màu có tác dụng che tủ đất giúp tối

thiểu hóa các rũi ro do xói mòn. Vài các thí nghiệm được tiến hành trong khắp vùng nhiệt

đới ẩm đã chứng minh hiệu quả kiểm sốt xói mòn của canh tác khơng cày đất. Tuy

nhiên, để có thể áp dụng được và có hiệu quả, một hệ thống khơng cày đất phải được

thích ứng với các điều kiện cụ thể. Có vài các biến cách của các hệ thống khơng cày đất

có thể được thích ứng để đáp ứng với các hạn chế cụ thể của đất.

Gieo qua lớp cỏ: Sự gieo trồng được thực hiện trực tiếp trên lớp thực bì, cỏ dại, lớp

cây che phủ đất hay phế liệu hoa màu của vụ trước được diệt bằng hóa chất hay cơ giới.

Thuốc diệt cỏ Paraquat hay một loại thuốc diệt cỏ tiếp xúc khác thường được sử dụng để

đàn áp cỏ dại hay cây che phủ đất. Thuốc diệt cỏ tồn lưu (ví dụ, atrazine lasso) cũng đã

được sử dụng để kiểm soát cỏ dại tiền nẫy mầm. Hoa màu có thể được trồng thủ cơng hay

dùng máy tạo rãnh hẹp (rộng 5 - 7 cm và sâu 5 cm) để gieo hạt (Plate 22).

Cây che phủ đất: Hệ thống bao gồm trồng hoa màu lấy hạt hay hoa màu lương

thực thực phẩm thông qua một lớp cây che phủ đất được gieo trồng đặc biệt để tạo ra một

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 13 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN XÓI MÒN ĐẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×