Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các hiệp định chính trong AEC

Các hiệp định chính trong AEC

Tải bản đầy đủ - 0trang

xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và

các hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chu ẩn s ản

phẩm (hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các th ủ t ục h ải quan và xu ất

nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đ ầu t ư, tăng

cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuy ển hơn c ủa dòng v ốn, thu ận l ợi

hóa di chuyển thể nhân v.v., song song với vi ệc củng c ố mạng l ưới s ản xu ất khu v ực thông

qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao

thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích

hợp.

II - PHÂN TÍCH CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHUNG CỦA VIỆT NAM KHI AEC VẬN HÀNH



1. Cơ hội

Xét về cơ hội, thì sự hội nhập ASEAN sâu rộng hơn nữa t ất nhiên sẽ giúp doanh nghi ệp

Việt Nam có nhiều cơ hội về thị trường hơn, vì chi phí l ưu chuyển các loại hàng hóa, c ả ở

dạng nguyên liệu, chi phí trung gian cho tới thành phẩm đều hạ xuống.

Tạo ra thị trường rộng lớn: ASEAN có tổng GDP trên 2,7 nghìn t ỷ USD, tăng tr ưởng trung

bình 5%-6% hàng năm. Dân số trên 600 triệu người, với c ơ c ấu dân s ố t ương đ ối tr ẻ. Thu

nhập bình quân đầu người trên 4.500 USD/người/năm. Thu hút đầu tư n ước ngoài năm

2012 đạt 110 tỷ USD. Tổng giá trị giao dịch thương m ại 2,5 nghìn t ỷ USD. Vì v ậy, t ham gia

vào AEC, thị trường xuất khẩu cho hàng hóa của Việt Nam sẽ ngày càng mở rộng.

Thêm vào đó, Việt Nam sẽ có cơ hội thu hút được nhi ều vốn đầu tư n ước ngồi h ơn, đ ặc

biệt là từ các nước có nền kinh tế phát triển cao hơn như Singapore, Indonesia... Đi ều

quan trọng nhất là việc tham gia sâu rộng vào AEC sẽ giúp Vi ệt Nam tăng c ường c ải cách

nền kinh tế ở trong nước theo những tiêu chuẩn của hội nhập, giúp cho n ền kinh t ế Vi ệt

Nam phát triển hiệu quả hơn, qua đó dần vượt qua những thách thức.

AEC cũng sẽ giúp các cơng dân Việt Nam có nhi ều c ơ h ội vi ệc làm h ơn, đ ặc bi ệt v ới nh ững

người có tay nghề, chun mơn cao.

Khi hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), hàng nông sản, th ực ph ẩm xu ất kh ẩu

(XK) của Việt Nam sẽ được ưu đãi về thuế nhập khẩu (NK) vào các nước ASEAN.

Về khoa học kỹ thuật, trình độ cơng nghệ của các n ước ASEAN đ ược đ ầu t ư vào Vi ệt Nam

thông qua các cơng ty có thể coi là đáp ứng các yêu c ầu v ề đ ổi m ới khoa h ọc cơng ngh ệ,

tiến tới hiện đại hóa- cơng nghiệp hóa.

2. Thách thức

Một trong những thách thức lớn nhất đối với Việt Nam khi gia nhập vào AEC là s ự chênh

lệch về trình độ phát triển so với các nước ASEAN thể hi ện ở cả quy mô vốn c ủa n ền kinh



tế, các doanh nghiệp, trình độ kĩ thuật, lao động,… Thời đi ểm c ộng đ ồng kinh t ế ASEAN

AEC bắt đầu có hiệu lực vào năm 2015, các doanh nghi ệp Vi ệt Nam sẽ ph ải đ ối m ặt v ới

sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, sản phẩm, đầu tư của các nước ASEAN đặc biệt

là khi các nước ASEAN loại bỏ các hàng rào phi thuế quan. M ột s ố ngành sẽ ph ải thu h ẹp

sản xuất thậm chí đóng cửa.

Thứ hai, vấn đề năng suất lao động của Việt Nam thấp là m ột trong nh ững thách th ức đ ối

với Việt Nam. Nguy cơ của một nền kinh tế với lao động giá r ẻ và năng su ất lao đ ộng th ấp

là rất cao. Bởi lao động chất lượng thấp đồng nghĩa v ới tính kém đa d ạng c ủa các lo ại kỹ

năng, khả năng sang tạo cũng như hiệu quả tổ chức. Với những đặc đi ểm này, Vi ệt Nam sẽ

không phải điểm đến hấp dẫn cho những dự án đầu tư mang tính tiên phong v ề công

nghệ hoặc quy mô. Và điều này sẽ là nguyên nhân tách Việt Nam và các n ước đi sau ra ngày

càng xa các nước đã có nền tảng tốt hơn trong ASEAN (như Thái Lan, Malaysia ho ặc

Indonesia).

Hơn nữa, Khi AEC hoàn tất mục tiêu tự do lưu chuy ển lao động, nếu khơng có s ự chu ẩn b ị

đầy đủ, lao động Việt Nam tay nghề kém, thiếu các kỹ năng cần thi ết (ngo ại ng ữ, tính

chun nghiệp…) sẽ có nguy cơ thất nghiệp cao.



Thứ ba là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, khốc li ệt h ơn cho các doanh nghi ệp Vi ệt Nam.

Với mức giảm thuế sâu (tính đến tháng 7 năm 2013, Vi ệt Nam đã gi ảm thu ế nh ập kh ẩu

cho hơn 10.000 dòng thuế xuống mức 0% - 5%), trong tương lai, hàng hóa các n ước

ASEAN sẽ tràn ngập thi trường Việt Nam, dẫn đến vi ệc cải thi ện tình tr ạng nh ập siêu c ủa

Việt Nam đối với các nước ASEAN ngày càng khó khăn. Các sản ph ẩm xu ất kh ẩu c ủa Vi ệt

Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng hóa t ừ các n ước khác trên th ị tr ường

ASEAN do AEC hình thành sẽ tạo ra thị trường chung, khơng còn các rào c ản hàng hóa, d ịch

vụ, vốn,… với cơ cấu sản phẩm tương đối giống nhau ở cả 10 nước ASEAN, vi ệc m ở c ửa

thị trường sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghi ệp Vi ệt Nam, đ ặc bi ệt

là các doanh nghiệp có sức cạnh tranh yếu và ở các ngành vốn đ ược b ảo hộ cao t ừ tr ước

tới nay. Nhiều mặt hàng của Việt Nam chưa có giá trị cao do t ỷ lệ chế bi ến sâu thấp l ại

gặp nhiều rào cản kỹ thuật.

Thuận lợi hóa thương mại trong AEC cũng sẽ tạo ra sự cạnh tranh của hàng hóa nh ập

khẩu đối với các sản phẩm, ngành hay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ngay t ại th ị tr ường

Việt Nam. Khi một nền kinh tế chưa được chuẩn bị đầy đủ tr ước nh ững đ ối th ủ c ạnh

tranh trong điều kiện các hàng rào thuế quan đã sớm bị d ỡ bỏ sẽ d ẫn đ ến nh ững t ổn th ất

về kinh tế trong cuộc cạnh tranh không cân sức, đồng th ời còn gây s ức ép đ ối v ới n ền

cơng nghiệp còn non trẻ của Việt Nam.



Với việc hạ hàng rào thuế quan, hàng hóa Việt Nam chắc chắn sẽ phải v ượt qua nhi ều khó

khăn, thách thức trước tiên là trụ vững ngay tại sân nhà.

Thứ tư: Một yếu điểm nữa của Việt Nam khi gia nhập AEC là nguồn nhân lực. Do đi ểm

xuất phát thấp với cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghi ệp, t ỷ l ệ lao đ ộng trong khu

vực nông thôn vẫn nhiều, tay nghề thấp và hầu như chưa được đào tạo. Vì v ậy, khi tham

gia hợp tác lao động trong AEC, Việt Nam chưa phát huy l ợi th ế v ề ti ềm năng lao đ ộng b ởi

chưa thể cung ứng nhiều chuyên gia giỏi, lao động tay nghề cao. Dẫn đến nguy cơ nguồn

lao động tay nghề thấp, thiếu trình độ kĩ thuật bị thất nghiệp

Với AEC, nếu việc thu hút đầu tư nước ngồi khơng vượt trội, Vi ệt Nam có nguy c ơ tr ở

thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của khu vực

Thách thức về dịch vụ: Nếu mục tiêu tự do lưu chuyển dịch vụ trong AEC được hi ện thực

hóa, các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ chắc chắn sẽ b ị đ ặt trong môi

trường cạnh tranh khốc liệt hơn nhiều (bởi hiện nay các rào c ản/điều ki ện đ ối v ới nhà

cung cấp dịch vụ nước ngoài vào Việt Nam vẫn còn tương đối cao, do đó doanh nghi ệp

dịch vụ Việt Nam hiện đang được “bao bọc” khá kỹ lưỡng trong nhiều lĩnh vực dịch vụ);

Thách thức về quản lý dòng vốn: Nếu AEC hồn thành mục tiêu tự do lưu chuyển về vốn,

Việt Nam sẽ đứng trước thách thức trong việc ki ểm sốt dòng v ốn ra/vào; đ ối v ới doanh

nghiệp, đây cũng sẽ là vấn đề hai mặt, vừa tích c ực (có th ể ti ếp nh ận v ốn đ ầu t ư, h ợp tác

dễ dàng hơn), vừa tiêu cực (có thể sẽ khơng còn nh ững hàng rào b ảo v ệ doanh nghi ệp

trước việc rút vốn của đối tác…).

3. Kết luận

Sự kiện Việt Nam gia nhập AEC sẽ đem lại cho Vi ệt Nam nhiều c ơ h ội l ớn, giúp Vi ệt Nam

tăng cường vị thế và uy tín trên diễn đàn ASEAN cũng như các diễn đàn qu ốc t ế khác, n ắm

bắt được những cơ hội và chủ động đối phó với những thách th ức trong ti ến trình h ợp tác

khu vực nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, cơ hội luôn đi liền cùng những thách thức l ớn như sự c ạnh tranh gay g ắt h ơn

không chỉ cạnh tranh về sản phẩm, thị trường mà còn cạnh tranh c ả v ề ngu ồn nhân l ực

chất lượng cao. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt c ơ hội, ch ủ đ ộng

thay đổi công nghệ sản xuất, áp dụng công nghệ tiên ti ến đ ể t ạo ra các s ản ph ẩm có ch ất

lượng tốt, giá thành phù hợp mới có thể cạnh tranh trên thị trường.



C – TÌNH HÌNH BÁN LẺ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2013 – 2015

I – ĐỊNH NGHĨA NGÀNH BÁN LẺ

Bán lẻ là bán hàng hoá dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng làm thay đ ổi giá tr ị

hàng hoá từ hàng sang tiền nhằm mục đích thoả mãn t ối đa nhu c ầu khách hàng và th ực

hiện hiệu quả trong quá trình bán hàng.

Ví dụ một số nhà bán lẻ trên thị trường Việt Nam: Aeon, Satramart, Maximart, Lotte,

VNgroup, Big C, Co.opmart, Citymart; chuỗi cửa hàng ti ện ích K circle, B’smart, shop & go,

Nguyễn Kim, Thế giới di động, Viễn Thông A, Pico, Pakson…



Ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những mô hinh kinh doanh bán lẻ khác nhau. Sự đa

dạng của các mơ hình cũng như đặc trưng của một mơ hình cũng th ể hiện sự khác

nhau ở từng quốc gia. Các loại hình bán lẻ của Việt Nam bao gồm loại hình hi ện đại

và loại hình kinh doanh truyền thống.

 Loại hình bán lẻ truyền thống bao gồm :

- Chợ.

- Qn tạp hóa.

 Loại hình bán lẻ hiện đại bao gồm:

- Đại siêu thị (hyper market).

- Các siêu thị ( super market).

- Các trung tâm thuơng mại (department store).

- Các trung tâm mua sắm (shopping mall).

- Cửa hàng tiện ích.

- Cửa hàng chuyên doanh.

II – THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2013 - 2015

1. Năm 2013

Doanh thu bán lẻ năm 2013 là 1986.3 nghìn tỷ đồng (74.7%). Quy mô thị trường nhỏ, sức

mua yếu, chủ yếu bán theo phương thức truyền thống (về phương thức này thì đến nay

theo báo cáo của Neilsen, có đến 1.3 triệu cửa hàng truy ền thống trên toàn qu ốc, chi ếm

80% doanh thu ngành). Bên cạnh đó, số lượng chuỗi cửa hàng tiện ích tăng lên gấp đơi

trong năm 2013 (384 cửa hàng) so với 2012 (147 cửa hàng), theo thống kê của Bộ Công

Thương, thị phần bán lẻ hiện đại ở Việt Nam mới chiếm khoảng 25% tổng mức bán lẻ. Cả

nước hiện có khoảng 724 siêu thị và 132 TTTM).

Còn ở thị trường TP HCM, theo Savills Việt Nam, doanh thu bán lẻ 9 tháng đầu năm 2013

vào khoảng 441.000 tỷ đồng. Nếu khơng tính lạm phát, doanh thu bán lẻ tăng khoảng

8.7% so với cùng kỳ năm trước . Tỷ lệ tăng này cao hơn so với năm 2012 (8.2%) và 2011



(8.1%). Tuy nhiên, sự phục hồi trong chi tiêu cho các mặt hàng xa xỉ và khơng thi ết y ếu còn

chậm.

Cuối năm 2013, số nhà bán lẻ nước ngoài chiếm hơn 40% trong số 700 siêu thị tại Việt

Nam. Đồng thời, 31 trong tổng số 125 trung tâm thương mại hiện tại có yếu tố đầu tư

nước ngoài. Con số này cho thấy mức độ quan tâm và phát triển mạnh c ủa các nhà bán l ẻ

nước ngoài tại thị trường Việt Nam.

Khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen Vi ệt Nam cho bi ết, kênh bán hàng

truyền thống vẫn chiếm ưu thế trên thị trường, chiếm khoảng 78%. Trong năm 2013,

53% người mua hàng chi tiêu nhiều nhất ở chợ và tần suất h ọ ghé ch ợ kho ảng 21,5 l ần

mỗi tháng. Tuy nhiên, những cửa hàng tiện lợi lại đang bắt đầu có xu hướng phát triển và

có tốc độ mở rộng nhanh.

2. Năm 2014

Tổng mức bán lẻ của Việt Nam tăng trưởng mạnh hơn trong năm 2014, cho thấy sức tiêu

thụ hàng hóa của người tiêu dùng trong nước có phần được cải thiện.



Tổng cục Thống kê (GSO) cho biết tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu

dùng trong cả năm 2014 đạt 2,95 triệu tỷ đồng, tăng 10,6% so với năm 2013. Nếu loại trừ

yếu tố giá, tổng mức bán lẻ của Việt Nam tăng 6,3% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng

5,5% của năm 2013.



Sức tiêu dùng trong nước tăng trong bối cảnh thị trường giá cả ổn định, được phản ánh

qua việc chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm 2014 chỉ tăng 4,09%, mức tăng khá thấp

trong 10 năm trở lại đây.

Giá lương thực thực phẩm ổn định do nguồn cung trong nước dồi dào, giá các mặt hàng

thiết yếu trên thế giới khá ổn định; giá nhiên liệu trên thị trường thế giới gần đây giảm

mạnh dẫn đến giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm. Ngồi ra, các đồ dùng gia

đình có xu hướng giảm giá, và nhiều cơ sở bán lẻ thực hiện các chương trình khuyến mại,

giúp thúc đẩy sức mua.

Xét về ngành hoạt động, tổng mức bán lẻ của khu vực kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt

2.216,2 nghìn tỷ đồng, tăng11,3%;dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 352,8 nghìn tỷ đồng, tăng

7,4%; dịch vụ khác đạt 347,3 nghìn tỷ đồng, tăng9,4%; du lịch lữ hành đạt 28,9 nghìn tỷ

đồng, tăng15,3%.



Xét theo loại hình kinh tế, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của

khu vực kinh tế nhà nước năm 2014 đạt 299,7 nghìn tỷ đồng, tăng9,6%so với năm 2013;

khu vực kinh tế ngồi nhà nước đạt 2.547,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5%; khu vực có vốn

đầu tư nước ngồi đạt 97,8 nghìn tỷ đồng, tăng 16,9%.



3. Năm 2015

Nếu loại trừ yếu tố tăng giá tiêu dùng bình quân (tăng 0,86%), thì tổng mức bán lẻ 7 tháng

đầu năm nay đã tăng gần 9%, cao nhất so với tốc độ tăng bình quân c ủa cùng kỳ trong 4

năm trước đây.

Các chỉ số thống kê cho thấy, tốc độ tăng tổng mức bán lẻ 7 tháng đầu năm 2015 so v ới

cùng kỳ năm trước có 7 điểm nhấn đáng lưu ý:

Thứ nhất, tốc độ tăng đã cao trở lại . Nếu loại trừ yếu tố tăng giá tiêu dùng bình quân

(tăng 0,86%), thì tổng mức bán lẻ 7 tháng đầu năm nay đã tăng g ần 9%, cao nh ất so v ới

tốc độ tăng bình quân của cùng kỳ trong 4 năm trước đây.

Thứ hai, đà cao lên của tổng mức bán lẻ trong 7 tháng đầu năm, cộng v ới các y ếu t ố tác

động trong thời gian tới là tín hiệu khả quan để cả năm tốc độ tăng tổng mức bán l ẻ (đã

loại giá) có thể vượt qua mốc 9,5%, cao gấp rưỡi tốc độ tăng bình quân năm của thời kỳ

2011-2014.

Thứ ba, hệ số giữa tốc độ tăng tổng mức bán lẻ /tốc độ tăng GDP đã cao lên qua các năm

(từ 0,74 lần năm 2011, 0,82 lần năm 2012 lên 1,05 l ần năm 2013 và năm 2014- bình quân

2011-2014 là 0,91 lần lên khoảng 1,5 lần trong 7 tháng đầu năm 2015).

Thứ tư, theo loại hình kinh tế, đã có sự chuyển dịch đáng quan tâm . Tổng mức bán lẻ khu

vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức bán lẻ (85,6%) và

tăng khá. Khu vực nhà nước chiếm 11,1% tổng mức bán lẻ và tăng cao nhất (14,1%).

Khu vực có vốn đầu tư nước ngồi , tuy còn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng mức bán lẻ

(3,3%), nhưng có tốc độ khá và có xu hướng tiếp tục tăng cao hơn trong thời gian tới, khi

Việt Nam thực hiện các hiệp định thương mại tự do FTA thế hệ mới...

Thứ năm, cơ cấu theo ngành thương mại, dịch vụ đã có sự chuyển dịch nhất định . Ngành

bán lẻ hàng hóa (thương nghiệp thuần túy) quyết định tốc độ tăng chung do tăng cao nhất

(10,6%) và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng mức bán lẻ (75,9%). Ngành dịch vụ lưu trú,

ăn uống ngoài gia đình bước đầu đã chiếm tỷ trọng cao hơn trước đây (11,7%), nhưng vẫn

còn tăng với tốc độ thấp (7,2%). Ngành dịch vụ khác chiếm tỷ trọng khá hơn (11,5%) và

tăng với tốc độ cao (9,8%), do trong dân cư, bộ phận trung l ưu có thu nh ập và s ức mua có

khả năng thanh tốn cao hơn đã tăng lên, khơng ch ỉ “ăn” mà còn “ch ơi”, có m ột s ố còn

“chơi” nhiều hơn “ăn”. Đây là xu hướng chung của những n ước chuy ển từ thu nh ập th ấp

sang thu nhập cao hơn.

Thứ sáu, tổng mức bán lẻ tăng do tổng tiêu dùng cuối cùng tăng và do t ỷ l ệ tiêu dùng

thông qua việc mua bán trên thị trường tăng. Tốc độ tăng tiêu dùng cuối cùng 6 tháng đầu

năm 2015 lên đến 8,7%, đóng góp tới 7,74 đi ểm phần trăm vào t ốc đ ộ tăng tr ưởng GDPchiếm 77,5% tổng đóng góp của tích lũy và tiêu dùng cuối cùng.

Cùng với tốc độ tăng tổng tiêu dùng cuối cùng cao hơn nhi ều so với t ốc đ ộ tăng GDP, thì t ỷ

lệ tiêu dùng thơng qua việc mua bán trên thị trường tăng lên, tính tự cấp tự, túc gi ảm đi.



Thứ bảy, việc tăng lên của tổng mức bán lẻ có tác động về ba mặt. Một mặt, góp phần cải

thiện đời sống của người tiêu dùng. Mặt khác, góp phần giảm lượng sản phẩm, hàng hóa

tồn kho, tăng tiêu thụ và tăng trưởng sản xuất - kinh doanh, tăng tr ưởng kinh t ế. Mặt nữa,

là tăng tính thị trường của người tiêu dùng, của các chủ thể trên thị trường, cũng như của

cả nền kinh tế.

Tuy tổng mức bán lẻ tăng cao trở lại, nhưng do quy mô tiêu dùng đang trong quá trình phát

triển từ nhỏ đến lớn dần, nên tổng cầu vẫn còn yếu. Tổng cầu y ếu lại là y ếu tố tác đ ộng

tiêu cực đối với sản xuất - kinh doanh. Điều đó có th ể lý gi ải t ại sao trong 6 tháng đ ầu

năm nay, CPI tăng thấp. Do vậy, ngoài việc đẩy mạnh đầu tư, tăng xu ất kh ẩu, c ần tăng thu

nhập có khả năng thanh tốn để tăng tiêu thụ trong nước nhằm tăng t ổng c ầu, góp ph ần

thực hiện mục tiêu phục hồi tăng trưởng kinh tế...

III – CUỘC CHẠY ĐUA TRÊN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM

Tại châu Á, Trung Quốc (TQ) là thị trường bán lẻ l ớn nhất . Cho dù tốc độ tăng trưởng kinh

tế chậm lại, Chính phủ TQ quyết đạt mức tăng trưởng khoảng 7,5% đến h ết năm nay. T ốc

độ tăng trưởng bán lẻ tại TQ khá ấn tượng với mức trên 10%. Tiếp đến là Nhật và Ấn. Đặc

biệt, theo khảo sát công bố đầu năm nay của CBRE, Việt Nam n ổi lên nh ư một th ị tr ường

bán lẻ tiềm năng nhất khi các nhà bán lẻ quốc tế cho bi ết họ sẽ chọn Vi ệt Nam làm th ị

trường đầu tư với tỷ lệ ngang bằng Hong Kong và Singapore. Trong đó, các thành ph ố l ớn

như Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM đều nằm trong top 10 thị trường bán l ẻ sơi đ ộng nh ất

châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt Hà Nội nằm trong top 3, chỉ sau Bắc Kinh và Thượng

Hải. Cũng theo khảo sát của CBRE, Hà Nội và TP.HCM là hai trong s ố m ười thành ph ố có

nhiều thương hiệu nước ngồi xâm nhập nhất trong vòng hai năm qua trên tồn khu vực.

Còn theo tổ chức tư vấn Mỹ A.T.Kearney , Việt Nam đứng thứ 28 thế giới trong danh sách

thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất trên thế gi ới . “Kinh tế vĩ mô dần ổn định, lạm phát gi ảm

và nhiều điều kiện kinh doanh tốt như việc sắp sửa gỡ bỏ rào cản thương mại và giảm

thuế là những yếu tố chính giúp Việt Nam thu hút các nhà bán l ẻ qu ốc t ế”, A.T.Kearney

đánh giá.

Theo ông Nguyễn Hồng Sơn - Hiệu trưởng Đại học kinh t ế, Đại học Qu ốc gia Hà N ội cho

biết, trong ngắn hạn, lĩnh vực gặp cạnh tranh lớn nhất khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được

thành lập sẽ là ngành bán lẻ, cụ thể là lĩnh vực sản xuất hàng hóa tiêu dùng.

Ơng Sơn dẫn chứng, hiện tại các doanh nghiệp phân phối bán lẻ c ủa n ước ngoài, đ ặc bi ệt

là các doanh nghiệp của Thái Lan đang cố g ắng tiếp c ận thị tr ường bán l ẻ c ủa Vi ệt Nam.

Hàng hóa của các nước ASEAN, trong đó có hàng hóa của Thái Lan sẽ xâm nh ập m ạnh vào

Việt Nam.

Bên cạnh đó, tầng lớp trung lưu của Việt Nam đang ngày càng gia tăng và có xu h ướng ưa

dùng hàng ngoại vì chất lượng tốt, giá thành cạnh tranh. Do đó, trong th ời gian t ới, ngành



bán lẻ sẽ là ngành đầu tiên “gặp khó” khi AEC được thành l ập. C ơ c ấu dân s ố tr ẻ, s ức mua

ngày càng được cải thiện nhờ tầng lớp trung lưu tăng tr ưởng m ạnh mẽ, ý th ức v ề v ệ sinh

an toàn thực phẩm của người dân ngày càng được nâng cao sẽ là nh ững y ếu t ố chính thúc

đẩy nhu cầu các cửa hàng bán lẻ hiện đại.



Dễ dàng nhận thấy, năm 2014 là một năm hết sức sôi động của thị trường bán lẻ Việt

Nam; Đặc biệt là trong hoạt động mua bán sáp nhập, liên kết, liên doanh…cả về sản xuất



lẫn kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) bán lẻ như: Kinh Đô, Citimart, Metro… và m ới

nhất là Nguyễn Kim.

Tính đến năm 2012, các tập đồn bán lẻ ngoại đã lấn lướt doanh nghiệp bán lẻ trong

nước khi chiếm tỷ lệ 40% (so với 25% của các doanh nghiệp trong nước ). Tính tới thời

điểm này, Co.opmart, BigC và Metro được xem là 3 nhà bán l ẻ hàng đ ầu, ch ưa k ể thêm

những chuỗi cửa hàng hiện đại, nhưng chỉ có Co.opmart là doanh nghiệp Việt Nam.

Không phải đến bây giờ người ta mới nhận ra đối tác Thái Lan là m ột đ ối th ủ “đáng g ờm”

trên thị trường M&A. Giai đoạn 2010-2011 đến nay, người Thái qua các t ập đoàn nh ư

Charoen Pokphand, TCC Group, PTT, Xi măng Siam (SCG), BJC, Central Group... b ằng con

đường M&A hoặc đầu tư trực tiếp đã âm thầm tấn công vào các lĩnh v ực bán l ẻ, v ật li ệu

xây dựng, khí đốt của Việt Nam.

Đầu tiên phải kể đến SCG với thương vụ M&A gây xôn xao thị tr ường vào năm 2012 khi

SCG bỏ ra 240 triệu USD mua lại 85% cổ phần Prime Group . Hiện SCG đang có gần 20

cơng ty con và cơng ty liên kết tại Vi ệt Nam. Tính đ ến ngày 30/6/2015, t ổng giá tr ị tài s ản

của SCG tại Việt Nam đạt xấp xỉ 716 triệu USD ... Trong 5 năm tiếp theo, SCG sẽ chi 6-8 t ỷ

USD cho các nước trong khu vực, trong đó, một phần lớn sẽ được rót vào Việt Nam.

Gây ấn tượng không kém là Berli Jucker Pcl (BJC) khi cuối năm 2014 , tập đồn này thơng

báo bỏ ra 879 triệu USD mua lại hệ thống Metro Cash & Carry Vi ệt Nam. Tr ước đó, vào

năm 2013, BJC đã mua lại 60 cửa hàng của Family Mart và mua c ổ ph ần 65% t ại T ập đoàn

Thái An đang sở hữu mạng lưới gồm 200 nhà phân phối, 2.500 đại lý bán buôn và hàng

ngàn nhà bán lẻ tại các chợ truyền thống.

Thương vụ gây bất ngờ vì trong hơn 10 năm có mặt tại Việt Nam, Metro dù th ường xuyên

báo lỗ nhưng vẫn được coi là đang hoạt động tốt tại Vi ệt Nam, bằng ch ứng là t ốc đ ộ m ở

thêm trung tâm mới của Metro Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc tại châu Á.

Năm 2014, F&N Dairy Investments Pte Ltd (F&N), công ty con của BJC đã mua cổ phiếu của

Vinamilk, nâng tỷ lệ sở hữu tại đây lên 11,04%, đạt giá tr ị khoảng 591 tri ệu USD. Ông ch ủ

của BJC còn ngỏ ý muốn nắm giữ 40% cổ phần tại Sabeco và định giá Sabeco kho ảng 2,4

tỷ USD.

Ngồi ra, Central Group thơng qua cơng ty thành viên Power Buy mua 49% cổ phần Công ty

Đầu tư phát triển công nghệ và giải pháp mới NKT (NKT) - đ ơn v ị s ở h ữu Công ty Th ương

mại Nguyễn Kim, được định giá 200 triệu USD… cũng là thương vụ gây chú ý lớn.

Thống kê của HSBC Thái Lan cho thấy, các công ty Thái Lan đã tham gia ít nh ất 377 d ự án

tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký 6,7 tỷ USD, tr ở thành nhà đ ầu t ư đ ứng th ứ 10 t ại đây

và đang cải thiện thứ hạng nhanh chóng. Đặc biệt, hai n ước đặt m ục tiêu nâng kim ng ạch

thương mại hai chiều lên 15 tỷ USD vào năm 2020.

Ông Đặng Xuân Minh, Trưởng nhóm Nghiên cứu MAF nhận xét, xu h ướng mua l ại và thâu

tóm từ các tập đồn của Thái Lan thể hiện rõ trong năm 2014 - 2015 v ới th ương v ụ đi ển



hình PowerBuy - Nguyễn Kim, BJC - Metro. Thông qua các thương vụ M&A trong lĩnh vực

bán lẻ, nhà đầu tư Thái muốn tiếp cận và nắm thị trường phân phối tại Việt Nam .

Ngành bán lẻ của Việt Nam hiện cũng thu hút nhà đầu tư Thái Lan. Bà Busaba Butrat,

Tham tán thương mại Sứ quán Thái Lan nhận xét, thị trường Vi ệt Nam đang r ất thu hút

các các doanh nghiệp nhỏ và vừa nước này do lợi thế dân số trẻ, có kh ả năng chi tiêu dùng

ngay. “Một số hãng siêu thị lớn đang tìm hiểu và đánh giá th ị tr ường Vi ệt Nam r ất h ấp d ẫn

để đầu tư”, bà nói. Điều này được thể hiện qua việc Tập đoàn Berli Jucker (BJC) của người

giàu thứ ba Thái Lan (theo số liệu của Forbes) – ông Charoen Sirivadhanabhakdi v ừa chi

gần 880 triệu USD mua lại toàn bộ chuỗi bán lẻ Metro Cash & Carry Vi ệt Nam h ồi tháng

8/2014. Đây được coi là vụ mua bán – sáp nhập (M&A) quy mô l ớn nh ất trong ngành bán

lẻ Việt Nam từ trước đến nay, khi Metro đang có 19 trung tâm trên c ả n ước, doanh thu

năm 2012 – 2013 đạt hơn 690 triệu USD. Trước đó, BJC đã h ợp tác v ới m ột h ệ th ống bán

lẻ khác là Family Mart sau khi đối tác Nhật Bản rút hoàn toàn kh ỏi liên doanh này. H ệ

thống sau đó đã được đổi tên thành B’mart – thương hi ệu lâu đ ời c ủa BJC. Trước thương

vụ trị giá hàng trăm triệu USD của BJC, báo chí n ước ngồi cũng đ ưa tin ng ười giàu th ứ hai

Thái Lan, Chủ tịch Tập đoàn CP Group Dhanin Chearavanont ra giá 500 tri ệu USD đ ể thâu

tóm Metro Việt Nam song đã bị từ chối. Dù bất thành, CP Group vẫn t ỏ tham v ọng thâm

nhập sâu hơn vào hệ thống bán lẻ, phân phối của Việt Nam.

Ngoài hai đại gia muốn mua lại hệ thống siêu thị, người giàu nhất Thái Lan theo xếp hạng

của Forbes mới đây, gia đình Chirathivat – chủ hệ thống bán lẻ Central Group trong tháng

4/2014 đã mở một trung tâm mua sắm tại Hà Nội, mang tên Robins. Bên c ạnh đó, ơng ch ủ

này cũng tham vọng cuối năm nay sẽ mở trung tâm thứ hai (ước tính rộng 1000 m2) có tên

Crescent Mall tại TP HCM chỉ để bán các thương hi ệu c ủa hàng Thái t ại Vi ệt Nam . Ông Tos

Chirativath, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Central Group đánh giá Vi ệt Nam là th ị tr ường

bán lẻ tiềm năng lớn với 90 triệu dân, trong đó 60% ở độ tu ổi lao đ ộng và có kh ả năng chi

trả cao. “Việt Nam đã và đang trở thành thị trường mục tiêu tuy ệt vời và h ứa h ẹn cho các

nhà đầu tư trong lĩnh vực bán lẻ, trong đó có Thái Lan”, vị này cho bi ết.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các hiệp định chính trong AEC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×