Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguyên nhân dẫn đến tình huống:

Nguyên nhân dẫn đến tình huống:

Tải bản đầy đủ - 0trang

xã hội. Bên cạnh đó, do sự hạn chế về mặt kinh phí hoạt động cũng đã làm cho

hiệu quả của việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại cơ sở chưa thật sự tốt.

Thứ ba, hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân còn hạn chế.

Cơng tác tun truyền, phổ biến pháp luật (trong đó có pháp luật hơn nhân & gia

đình) chưa hiệu quả đã kéo theo việc hạn chế cơ hội tiếp cận, nắm bắt và hiểu biết

pháp luật của người dân. Tuy nhiên, hiểu biết pháp luật chưa cao còn là hệ quả của

sự thiếu chủ động, thái độ thờ ơ, bàng quan của chính những người dân. Thậm chí,

dù đã hiểu quy định của pháp luật, nhưng họ vẫn “vượt rào” để đạt được ý muốn

của mình. Chế độ hơn nhân một vợ - một chồng đã được ghi nhận như một ngun

tắc của pháp luật hơn nhân và các chính sách về hơn nhân, gia đình. Song thực tế,

tình trạng “ngoại tình”, chung sống như vợ chồng với người thứ ba không phải là

hiếm ở Việt Nam hiện nay. Điều này để lại hậu quả lớn không chỉ đối với các cặp

vợ chồng, mà sẽ lớn hơn khi con sinh ra khơng phải con chung của các cặp vợ

chồng đó.

Thứ tư, hệ thống văn bản pháp luật nói chung và pháp luật về hộ tịch hiện nay

còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Liên quan đến nội dung về xóa bỏ phần thơng

tin của người cha trong Giấy khai sinh của con và thay đổi họ cho con do thông tin

của người cha trong Giấy khai sinh bị xóa bỏ, pháp luật hiện hành chưa có quy

định cụ thể. Điều đó đã dẫn đến những vướng mắc cho cán bộ, công chức khi giải

quyết vụ việc trên thực tế và khó có thể bảo đảm được quyền, lợi ích chính đáng

của cơng dân có u cầu.

3. Hậu quả của tình huống:

Tình huống xảy ra nếu khơng được giải quyết sẽ để lại những hậu quả không

hề nhỏ đối với những chủ thể liên quan cũng như đối với xã hội. Cụ thể:

Thứ nhất, tình huống khơng được giải quyết sẽ tác động, ảnh hưởng xấu đến

xã hội. Đó là việc để lại nguy cơ lây truyền những biểu hiện tiêu cực về mặt đạo

đức, ý thức pháp luật trong quan hệ hơn nhân - gia đình như vấn đề quan hệ, chung

sống như vợ chồng với người đang có quan hệ hơn nhân; có con chung với người

đang có quan hệ hơn nhân với người khác,... Đồng thời, người có hành vi trái đạo

đức (người vợ trong tình huống) cũng khơng có cơ hội để nhận thức được hậu quả



kéo theo sau hành vi của mình, đặc biệt đối với “số phận” của người con sinh ra

không được cha thừa nhận.

Thứ hai, việc khơng giải quyết tình huống sẽ dẫn đến làm suy giảm pháp chế

xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy, pháp luật là cơng cụ chủ yếu giúp Nhà nước điều

chỉnh các quan hệ xã hội, nhằm hướng các quan hệ đó theo một trật tự nhất định,

đảm bảo hài hòa lợi ích chung của các chủ thể trong xã hội. Mọi chủ thể có trách

nhiệm, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Do đó, nếu có những vụ việc phát sinh yêu cầu

sự can thiệp của pháp luật (như vụ việc trong tình huống) mà pháp luật khơng được

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để điều chỉnh, giải quyết thì vai trò

của pháp luật trong con mắt người dân sẽ bị suy giảm. Điều này sẽ dẫn đến việc

người dân khơng còn tôn trọng, tuân thủ pháp luật nữa. Đặc biệt, những hành vi

trái pháp luật không kịp thời được ngăn chặn, răn đe cũng sẽ làm giảm pháp chế xã

hội chủ nghĩa.

Thứ ba, tình huống khơng được giải quyết sẽ khơng bảo đảm quyền, lợi ích

chính đáng của các chủ thể có liên quan. Cụ thể, về phía anh Minh và cháu Khang,

việc giải quyết tình huống sẽ đảm bảo cho họ những quyền, lợi ích chính đáng: (i)

về mặt tinh thần, đó là được cơng nhận mối quan hệ thực tế không phải là cha con, đặc biệt, cháu Khang từ đó cũng sẽ có cơ hội để tìm lại được người cha thật sự

của mình; (ii) về mặt vật chất, đó là việc xác lập các quan hệ liên quan đến thừa kế,

nghĩa vụ cấp dưỡng sau này (cụ thể, nếu được pháp luật thừa nhận khơng có quan

hệ cha - con thì giữa anh Minh và cháu Khang sẽ khơng phát sinh các quan hệ

trên).

Thứ tư, tình huống khơng được giải quyết sẽ làm giảm uy tín của cơ quan nhà

nước. Cơ quan nhà nước là chủ thể được Nhà nước trao quyền để giúp Nhà nước

thực hiện chức năng quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội trong phạm vi nhất

định. Vì thế, nếu người dân có yêu cầu cơ quan nhà nước giải quyết vấn đề thuộc

phạm vi thẩm quyền của cơ quan đó, mà cơ quan nhà nước khơng giải quyết thì

đương nhiên cơ quan nhà nước đó chưa làm hết trách nhiệm của mình. Điều này sẽ

làm giảm sút uy tín của cơ quan nhà nước trong con mắt của người dân.

4. Mục tiêu xử lý tình huống:



Trên cơ sở xác định những ngun nhân và hậu quả của tình huống, có thể

thấy, việc giải quyết tình huống là yêu cầu tất yếu. Mục tiêu của việc xử lý tình

huống đó là:

Thứ nhất, nhằm giải quyết các vấn đề do tình huống đặt ra, cụ thể là tìm ra

giải pháp hợp lý hướng dẫn UBND xã Ia Piơr để tư vấn cho anh Minh. Từ đó, giúp

anh Minh thực hiện được yêu cầu, nguyện vọng của mình về việc xóa phần thơng

tin người cha trong Giấy khai sinh của cháu Khang, đồng thời thay đổi họ của cháu

Khang (không cho cháu mang họ của anh).

Thứ hai, giúp bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của chủ thể có liên quan. Trên

cơ sở giải quyết vấn đề do tình huống đặt ra, quyền, lợi ích chính đáng về mặt tinh

thần của các bên chủ thể sẽ được đảm bảo (anh Minh và cháu Khang sẽ được công

nhận mối quan hệ thực tế không phải là cha - con; đồng thời, cháu Khang sẽ có cơ

hội để tìm lại được người cha thật sự của mình). Về mặt vật chất, quyền, lợi ích

chính đáng liên quan đến việc xác lập các quan hệ thừa kế, nghĩa vụ cấp dưỡng sau

này sẽ được đảm bảo (cụ thể, nếu được pháp luật thừa nhận khơng có quan hệ cha con thì giữa anh Minh và cháu Khang sẽ không phát sinh hai quan hệ trên).

Thứ ba, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Việc giải quyết tình huống sẽ

góp phần thể hiện được vai trò của pháp luật, răn đe và giáo dục kịp thời đối với

những hành vi không tuân thủ pháp luật. Quá trình giải quyết tình huống giúp các

chủ thể nhận thức được hậu quả pháp lý có thể xảy ra, từ đó tơn trọng và tn thủ

pháp luật.

Thứ tư, bảo đảm việc giải quyết hài hòa giữa tính pháp lý, lợi ích kinh tế, lợi

ích xã hội. Giải pháp xử lý tình huống phải đáp ứng yêu cầu đúng pháp luật; bảo vệ

được tối đa quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể có liên quan và ít tốn kém về

thời gian, chi phí, thuận tiện cho người dân.

5. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống:

5.1. Căn cứ pháp lý để xây dựng phương án giải quyết tình huống:

-



Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015;



-



Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014;



-



Luật Hộ tịch năm 2014;



-



Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số



điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (gọi tắt là Nghị định 123/2015/NĐ-CP);

- Thông tư 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 Quy định chi tiết thi

hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng

11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành

Luật hộ tịch (gọi tắt là Thông tư 15/2015/TT-BTP).

5.2. Xây dựng, phân tích phương án giải quyết tình huống:

Hiện nay, pháp luật chưa có quy định về việc xóa thông tin của cha (hoặc

mẹ) trong Giấy khai sinh của con. Do đó, trên cơ sở những căn cứ pháp lý đã liệt

kê ở trên, có thể đưa ra ba phương án giải quyết tình huống như sau:

Phương án 1:

Trong Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án

nhân dân huyện Chư Prơng về việc cơng nhận thuận tình ly hơn giữa anh Hồng

Ngọc Minh và chị Nguyễn Thị Thảo đã ghi nhận nội dung: “Chị Nguyễn Thị Thảo

có một con riêng. Giao chị Thảo ni con riêng là Hồng Gia Khang”. Như vậy,

Quyết định trên của Tòa án đã gián tiếp xác định việc cháu Khang là không phải là

con của anh Minh. Vì vậy, với đề nghị của anh Minh, UBND xã Ia Piơr có thể coi

Quyết định này là một căn cứ để giải quyết vụ việc hộ tịch của cháu Khang. Theo

đó, UBND Ia Piơr lập tờ trình đề nghị UBND huyện thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh

đã cấp cho Hoàng Gia Khang theo thẩm quyền quy định tại điểm h khoản 1 Điều

70 Luật Hộ tịch 2014. UBND huyện sẽ xác minh, xem xét và ra quyết định thu hồi,

hủy bỏ Giấy khai sinh theo quy định pháp luật.

Trên cơ sở quyết định thu hồi và hủy bỏ Giấy khai sinh của UBND huyện,

công chức Tư pháp - Hộ tịch xã phải thực hiện việc xóa thơng tin đăng ký khai

sinh của cháu Hồng Gia Khang trong sổ đăng ký khai sinh trước đây (Sổ đăng ký

khai sinh năm 2017). Mặt khác, do sổ đăng ký khai sinh của năm 2017 đã chuyển

lưu 01 quyển tại UBND huyện, nên UBND xã Ia Piơr phải có văn bản thơng báo

cho Phòng Tư pháp huyện về việc xóa thơng tin đăng ký khai sinh đối với trường



hợp của cháu Hồng Gia Khang để Phòng Tư pháp xóa bỏ thơng tin tương ứng

trong sổ đăng ký khai sinh, làm cơ sở quản lý hộ tịch sau này.

Sau khi cơ quan có thẩm quyền xóa thơng tin đăng ký khai sinh của cháu

Khang, anh Minh hoặc chị Thảo (hoặc bố/mẹ của chị Thảo) phải đến UBND xã Ia

Piơr thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Khang theo quy định tại Điều 36

Luật Hộ tịch 2014. Trong đó, phần họ của cháu Khang sẽ được đăng ký theo họ

của mẹ; phần thông tin về người cha được bỏ trống, nếu có người nhận là cha của

cháu Khang tại thời điểm đăng ký khai sinh thì giải quyết việc khai sinh kết hợp

cha nhận con theo quy định tại Điều 12 Thông tư 15/2015/TT – BTP. Nếu sau này

có người nhận là cha thì giải quyết việc cha nhận con theo quy định tại Điều 25

Luật Hộ tịch 2014 và bổ sung hộ tịch theo quy định tại Điều 29 Luật Hộ tịch 2014.

- Ưu điểm :

Bên cạnh việc đáp ứng các mục tiêu giải quyết tình huống đã nêu, phương án

này có ưu điểm đó là tạo sự thuận lợi, nhanh chóng, bảo đảm kịp thời quyền, lợi

ích chính đáng của các chủ thể có liên quan trong tình huống. Cụ thể, anh Minh

khơng cần phải thực hiện nhiều thủ tục pháp lý. Bởi thủ tục xem xét, quyết định

thu hồi và hủy bỏ Giấy khai sinh là thủ tục giữa các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền ở huyện Chư Prơng và xã Ia Piơr. Anh Minh chỉ cần thể hiện yêu cầu của

mình, nộp các giấy tờ làm căn cứ cho yêu cầu đó (gồm: bản chính Giấy khai sinh

của cháu Hồng Gia Khang; bản sao hoặc bản photo có đối chiếu Quyết định cơng

nhận thuận tình ly hơn số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án

nhân dân huyện Chư Prơng, cùng các giấy tờ hợp pháp khác chứng minh quan hệ

giữa anh và cháu Khang không phải là cha, con) và phối hợp với các cơ quan nhà

nước trong quá trình xác minh sự thật vụ việc.

Ngồi ra, sau khi có quyết định thu hồi và hủy bỏ Giấy khai sinh, việc đăng

ký khai sinh cho cháu Khang cũng yêu cầu thủ tục hết sức đơn giản, nếu có người

nhận con thì sẽ kết hợp giải quyết việc nhận con. Điều này cũng sẽ giúp cháu

Khang có cơ hội được biết rõ nguồn gốc của mình và “tìm lại” được người cha

đích thực của cháu.

- Hạn chế:



Bên cạnh ưu điểm trên, phương án này còn một số hạn chế:

Một là, áp dụng giải pháp thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh trong trường hợp

này chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề của vụ việc. Cụ thể, việc thực hiện thủ tục

thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh tức là đã mặc nhiên coi việc đăng ký khai sinh trước

đây của UBND xã Ia Piơr đối với cháu Hoàng Gia Khang là trái pháp luật. Bởi,

theo quy định tại điểm điểm h khoản 1 Điều 70 Luật Hộ tịch 2014: UBND huyện

Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định của

Luật này, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, thực tế, UBND xã

khơng hề có sai sót hay sự trái pháp luật nào trong quá trình đăng ký khai sinh cho

cháu Khang. Việc có thơng tin người cha: Hồng Ngọc Minh trong Giấy khai sinh

của cháu Hoàng Gia Khang là dựa trên Giấy chứng nhận kết hôn hợp pháp giữa

anh Minh và chị Thảo do chị Thảo xuất trình khi đi đăng ký cho cháu Khang. Vì

thế, biện pháp này chưa phản ánh đúng bản chất của vụ việc, và chưa phù hợp với

nội hàm quy định của pháp luật về thu hồi, hủy bỏ các giấy tờ hộ tịch (trong đó có

Giấy khai sinh).

Hai là, thủ tục thu hồi, hủy giấy tờ hộ tịch mặc dù không đặt ra những yêu

cầu phức tạp về thủ tục pháp lý đối với người dân, nhưng lại khá phức tạp và đòi

hỏi khơng ít thời gian đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan

như: xác minh, lập biên bản, xây dựng dự thảo và ban hành quyết định thu hồi, hủy

bỏ Giấy khai sinh. Thậm chí, việc giải quyết tình huống theo phương án này có thể

làm giảm uy tín của cơ quan nhà nước nói chung và UBND xã Ia Piơr nói riêng, do

thủ tục thu hồi, hủy giấy tờ hộ tịch chỉ được áp dụng khi việc cấp giấy tờ hộ tịch

trước đó là trái quy định pháp luật.

Ba là, chưa giúp Tòa án có cơ hội để nhận thức và điều chỉnh lại tính khơng

đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ thụ lý giải

quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải

quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó (khoản 1 Điều 5 Bộ Luật Tố

tụng dân sự 2015). Trong tình huống, theo đơn yêu cầu ly hơn gửi đến Tòa án vào

tháng 10 năm 2018, anh Minh và chị Thảo chỉ có yêu cầu Tòa án về việc cơng



nhận thuận tình ly hơn giữa anh, chị và xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng hai con mà

khơng có u cầu xác định mối quan hệ cha - con giữa anh Minh và cháu Khang.

Tuy nhiên, Quyết định cơng nhận thuận tình ly hơn số 20/2018/QĐST-HN&GĐ

ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prơng lại xác định ln “chị

Nguyễn Thị Thảo có một con riêng” và “giao chị Thảo ni con riêng là Hồng

Gia Khang”. Như vậy, phạm vi giải quyết của Tòa án đã vượt ra khỏi yêu cầu của

đương sự. Tòa án đã nhập hai vụ việc dân sự (gồm: việc công nhận thuận tình ly

hơn giữa anh Minh và chị Thảo; việc xác định mối quan hệ cha - con giữa anh

Minh và cháu Khang) để giải quyết.

Tuy nhiên, cần thấy rằng, hiện pháp luật mới quy định cho phép việc nhập,

tách giải quyết các vụ án dân sự (tức là, các tranh chấp dân sự) (Điều 42 Bộ Luật tố

tụng dân sự 2015), mà chưa quy định về việc nhập, tách giải quyết các việc dân sự

(tức là, các yêu cầu dân sự). Do đó, Tòa án khơng thể tùy tiện giải quyết việc xác

định cha - con trong quá trình cơng nhận u cầu thuận tình ly hơn đối với trường

hợp của anh Minh và chị Thảo (trừ khi các bên đương sự đồng ý và thể hiện rõ

trong đơn yêu cầu). Nói cách khác, Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày

10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prơng đối với phần nội dung xác định

cha - con giữa anh Minh và cháu Khang là chưa đúng pháp luật.

Phương án 2:

Để thực hiện u cầu về việc xóa thơng tin người cha và thay đổi họ trong

Giấy khai sinh của cháu Khang, anh Minh phải cung cấp được đầy đủ tài liệu, căn

cứ hợp pháp chứng minh mối quan hệ giữa anh và cháu Khang cho cơ quan có

thẩm quyền giải quyết việc hộ tịch.

Theo khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trong trường

hợp cha, mẹ khơng thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác

định”. Nói cách khác, việc xác định mối quan hệ cha, mẹ - con phải được ghi nhận

bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực của Tòa án.

Trong trường hợp này, Quyết định cơng nhận thuận tình ly hơn số

20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prơng,

mặc dù có nêu: “Giao cho anh Hồng Ngọc Minh ni con chung là Hồng Thị



Thu Hiền”, “Chị Nguyễn Thị Thảo có một con riêng. Giao chị Thảo ni con riêng

là Hồng Gia Khang”. Nhưng về mặt pháp lý, như đã phân tích (ở phần hạn chế

của phương án 1), nội dung về xác định mối quan hệ cha - con giữa anh Minh và

cháu Khang là vấn đề vượt ra khỏi phạm vi giải quyết của Tòa án. Bởi, Tòa án chỉ

thụ lý giải quyết vụ việc dân sự trong phạm vi đơn yêu cầu của đương sự (khoản 1

Điều 5 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015). Trong khi đó, khi có đơn u cầu gửi Tòa án

giải quyết việc ly hơn (vào tháng 10 năm 2018), anh Minh và chị Thảo chỉ trình

bày u cầu Tòa án cơng nhận thuận tình ly hôn và giải quyết sự thỏa thuận về

nghĩa vụ nuôi dưỡng các con, mà khơng có u cầu xác định mối quan hệ cha - con

giữa anh Minh và cháu Khang. Tòa án “tự” quyết định nhập hai việc dân sự để giải

quyết trong trường hợp này là chưa thỏa đáng với yêu cầu của đương sự và thực tế

pháp luật tố tụng cũng chưa có quy định cho phép Tòa án được gộp các việc dân sự

khác nhau để giải quyết. Do đó, phần nội dung xác định cha - con trong Quyết định

này của Tòa án là khơng đúng pháp luật.

Vì vậy, để giải quyết yêu cầu về việc hộ tịch của mình, trước hết, trong thời

hạn kháng cáo quy định tại Điều 372 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, anh Minh phải

làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với Quyết định số

20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông

(Điều 371 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015), do nội dung giải quyết vấn đề xác định

mối quan hệ cha - con trong Quyết định này không đúng quy định pháp luật.

Sau khi có Quyết định phúc thẩm có hiệu lực về việc sửa Quyết định số

20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prơng

bỏ nội dung xác định mối quan hệ cha - con, anh Minh phải tiếp tục làm đơn lên

Tòa án nhân dân huyện Chư Prông giải quyết yêu cầu xác định mối quan hệ cha con giữa anh và cháu Khang (điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự

2015). Quyết định có hiệu lực của Tòa án về việc không công nhận quan hệ cha con giữa anh Minh và cháu Khang là căn cứ để tiếp tục thực hiện thủ tục về hộ

tịch.

Cụ thể, anh Minh sẽ phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin trong Giấy khai

sinh của cháu Khang tại UBND xã Ia Piơr theo quy định tại Điều 30, Điều 31 Luật



Hộ tịch 2014. UBND xã Ia Piơr thực hiện việc thay đổi hộ tịch trên cơ sở Quyết

định của Tòa án về việc không công nhận quan hệ cha, con giữa anh Minh và cháu

Khang. Nội dung thay đổi phải được ghi chú rõ việc: bỏ thông tin về anh Minh

trong cột thông tin của người cha trong Giấy khai sinh; đồng thời thay đổi họ của

cháu Khang từ họ “Hoàng” sang họ “Nguyễn” (theo họ của mẹ).

Do Sổ đăng ký khai sinh năm 2017 đã chuyển lưu 01 quyển tại UBND

huyện, nên sau khi thực hiện việc thay đổi hộ tịch, UBND xã có trách nhiệm gửi

thơng báo cho UBND huyện để ghi chú những nội dung cải chính đó vào Sổ đăng

ký khai sinh lưu tại UBND huyện (Điều 13 Nghị định 123/2015/NĐ-CP).

-



Ưu điểm .

Phương án này đã đáp ứng được các mục tiêu đặt ra khi giải quyết tình



huống. Bên cạnh đó, phương án cũng có những ưu điểm riêng. Cụ thể:

Một là, đảm bảo quyền, lợi ích của các chủ thể có liên quan mà khơng đòi

hỏi sự phức tạp trong quá trình thực hiện thủ tục giải quyết việc hộ tịch (thủ tục

thay đổi thông tin trong Giấy khai sinh) đối với công dân cũng như cơ quan nhà

nước có thẩm quyền. Đồng thời, cũng tránh làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ

quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc hộ tịch như phương án 1 do thủ tục

thay đổi hộ tịch được áp dụng khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật.

Hai là, giúp Tòa án nhận thức và điều chỉnh lại quyết định chưa đúng đắn khi

giải quyết vụ việc dân sự. Thông qua thủ tục phúc thẩm, Tòa án tỉnh Gia Lai sẽ

xem xét lại nội dung Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của

Tòa án nhân dân huyện Chư Prông theo nội dung đơn kháng cáo. Từ đó, sẽ phát

hiện những nội dung chưa đúng quy định của pháp luật và ra quyết định phúc thẩm

để điều chỉnh lại những nội dung trái pháp luật bằng cách sửa Quyết định số

20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông

bỏ nội dung xác định mối quan hệ cha – con giữa anh Minh và cháu Khang. Đây

cũng sẽ là cơ sở để Tòa án nhân dân huyện Chư Prơng tránh được tình trạng nhận

thức chưa chính xác khi ban hành những quyết định, bản án tương tự sau này.

-



Hạn chế:

Bên cạnh ưu điểm trên, phương án này còn một số hạn chế:



Một là, việc áp dụng thủ tục thay đổi hộ tịch trong trường hợp này đã phản

ánh đúng bản chất vấn đề của vụ việc. Tuy nhiên, Pháp luật hộ tịch hiện nay không

cho phép cấp lại bản chính giấy khai sinh nên mặc dù trong phần ghi chú về thay

đổi hộ tịch cho cháu Khang từ có cha thành khơng có cha nhưng về mặt thực tế tên

của anh Minh vẫn thể hiện trên giấy khai sinh của cháu Khang. Điều này sẽ ảnh

hưởng khơng nhỏ tới tâm lý và tình cảm của cháu Khang cũng như việc giải quyết

và bổ sung hộ tịch sau này.

Hai là, phương án này yêu cầu khá nhiều thời gian và tiền bạc của cơng dân

và đòi hỏi phải thực hiện quy trình tố tụng khá phức tạp (gồm 02 thủ tục: thủ tục

kháng cáo Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án

nhân dân huyện Chư Prơng; thủ tục yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Prông xác

định mối quan hệ cha - con giữa anh Minh và cháu Khang). Tổng thời gian giải

quyết 02 thủ tục tố tụng trên có thể kéo dài đến hơn 03 tháng (Điều

363,365,366,372,373 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015), chưa kể thời gian thực hiện

việc thủ tục thay đổi hộ tịch. Về mặt chi phí, cơng dân sẽ phải chịu án phí phúc

thẩm, án phí để giải quyết yêu cầu dân sự, lệ phí hộ tịch.

5.3. Lựa chọn phương án giải quyết tình huống:

Trên cơ sở phân tích hai phương án trên, tôi quyết định lựa chọn phương án

2 bởi những lý do sau:

Thứ nhất, phương án này đã đáp ứng được đầy đủ các mục tiêu đặt ra khi

giải quyết tình huống. Đặc biệt, đảm bảo tối đa sự thuận tiện nhất cho công dân

trong việc tiếp cận và giải quyết các thủ tục hành chính về hộ tịch, đảm bảo giải

quyết nhanh chóng, triệt để, phù hợp với bản chất vụ việc và đúng pháp luật.

Thứ hai, phương án này hạn chế được những nhược điểm của phương án 1

trước đó. Điển hình như:

(i) Phương án 2 đưa ra cách giải quyết hiệu quả, phản ánh đúng bản chất vấn



đề của vụ việc thay vì áp dụng giải pháp thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh như

phương án 1. Bởi, thủ tục thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh (phương án 1) chỉ được

áp dụng khi việc cấp giấy tờ hộ tịch đó là trái quy định pháp luật. Ngược lại, thực



tế việc đăng ký và cấp Giấy khai sinh đối với trường hợp của cháu Khang tại

UBND xã Ia Piơr là đúng pháp luật.

(ii) Thủ tục hành chính giải quyết yêu cầu hộ tịch theo phương án 2 rất đơn



giản, nhanh chóng đối với cả cơng dân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong

khi, phương án 1 đặt ra yêu cầu khá phức tạp về thủ tục pháp lý và đòi hỏi khơng ít

thời gian đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan như: xác minh,

lập biên bản, xây dựng dự thảo và ban hành quyết định thu hồi, hủy bỏ Giấy khai

sinh. Ngược lại, ở phương án 2, thủ tục ghi vào sổ khai sinh thay đổi liên quan đến

phần thông tin người cha và thay đổi họ tên đơn giản đối với cả công dân và cơ

quan nhà nước có thẩm quyền chỉ cần căn cứ vào quyết định của Tòa án để tiến

hành thay đổi hộ tịch cho cơng dân.

(iii) Việc giải quyết tình huống theo phương án 2 khơng làm ảnh hưởng đến



uy tín của cơ quan nhà nước nói chung và UBND xã Ia Piơr nói riêng như phương

án 1.

(iv) Phương án 2 đưa ra cách thức để giúp Tòa án có cơ hội để nhận thức và



điều chỉnh lại tính khơng đúng đắn trong q trình giải quyết vụ việc dân sự thơng

qua thủ tục kháng cáo. Điều này khắc phục hạn chế của phương án 1.

5.4. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án:

Trên cơ sở phương án đã lựa chọn, kế hoạch tổ chức thực hiện phương án

được xây dựng như sau:

Bước 1: Phòng Tư pháp huyện Chư Prơng xây dựng và gửi công văn hướng

dẫn UBND Ia Piơr. Công văn phải đáp ứng đúng thể thức theo quy định của pháp

luật về thể thức văn bản hành chính. Nội dung cơng văn ngắn gọn dễ hiểu, trong đó

có ghi nhận cụ thể trình tự và nội dung các bước để giải quyết vụ việc.

Bước 2: Trên cơ sở hướng dẫn của Phòng Tư pháp, UBND xã Ia Piơr tổ chức

01 buổi làm việc để trao đổi, phân tích, giải thích và hướng dẫn cơng dân (anh

Minh) một cách khái qt về quy trình các cơng việc phải thực hiện để giải quyết

được yêu cầu hộ tịch của công dân.

Bước 3: Dựa vào hướng dẫn của UBND xã Ia Piơr, anh Minh thực hiện thủ

tục kháng cáo tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với phần nội dung liên quan



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguyên nhân dẫn đến tình huống:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×