Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

14

khoản 1, điều 6, Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo quyết định

1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13/9/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

thì: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền

gửi tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi và được

bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”.

Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng,

họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và hưởng

lãi đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo tồn. Do vậy khoản

tiết kiệm khơng được dùng để phát hành séc hay thực hiện các thanh khoản

khác ngoại trừ người gửi tiền đề nghị trích tài khoản tiền gửi tiết kiệm để trả

nợ vay hay chuyển sang một tài khoản khác của chính chủ tài khoản. Nhằm

thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các NH cố gắng khuyến khích dân cư

thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới

huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp

dẫn (như tiền gửi với các kỳ hạn, tiết kiệm bằng ngoại tệ, vàng…).

1.1.2. Phân loại tiền gửi khách hàng cá nhân của ngân hàng thương

mại

Để gia tăng quy mô tiền gửi cá nhân cũng như chất lượng nguồn tiền

gửi, các NHTM đã và đang đưa ra nhiều hình thức huy động đa dạng. Tùy

theo tiêu chí phân loại mà có thể phân loại tiền gửi cá nhân thành nhiều hình

thức khác nhau.

- Phân loại theo hình thức huy động: Phân loại theo hình thức huy động

thì tiền gửi khách hàng cá nhân được chia thành 2 loại sau

+ Huy động tiền gửi qua tài khoản khách hàng

Đây là hình thức huy động phổ biến nhất của các NHTM. Ngày nay,

các loại hình tiền gửi của NH vô cùng đa dạng, ngày càng đáp ứng được nhu

cầu của KH. Tùy theo mục đích sử dụng, KH có thể lựa chọn các sản phẩm



15

phục vụ cho nhu cầu tích lũy cho tương lai bằng các sản phẩm tiền gửi tiết

kiệm, hay lựa chọn tiền gửi thanh toán cho nhu cầu giao dịch, thanh toán…

Mỗi loại tiền gửi cũng rất đa dạng về kỳ hạn cho khách hàng lựa chọn, và bên

cạnh các sản phẩm truyền thống có thể xuất hiện nhiều biến thể tiền gửi khác

với những đặc trưng riêng để phục vụ nhu cầu của khách hàng một cách tốt

nhất.

+ Huy động tiền gửi qua phát hành giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức phát hành để huy động vốn,

trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một hạn nhất định,

theo điều kiện trả lãi và các khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và

người mua, thường ở dưới dạng phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín

phiếu...

- Phân loại theo kỳ hạn: Theo kỳ hạn, tiền gửi khách hàng cá nhân

được chia thành 2 loại sau:

+ Tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn là tiền gửi mà người

gửi tiền có thể rút theo yêu cầu mà khơng báo trước và NH ln có nghĩa vụ

hồn trả đầy đủ. Loại tiền này có mục đích chính là để thanh tốn.

Đối với NH, vì loại tiền gửi này KH muốn rút bất kỳ lúc nào cũng được

nên NH phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi

để cấp tín dụng. Do vậy, lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp, thậm chí có

những khoản tiền gửi NH khơng phải trả lãi. Cho nên, nguồn vốn này giúp

cho NH hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và

đầu tư. Tuy nhiên, loại tiền gửi này có độ ổn định thấp. Do tính chất khơng ổn

định nên NH chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm nhất định nào đó của

lượng tiền gửi khơng kỳ hạn nhận được, và NH muốn sử dụng thì phải dự tính

về sự ổn định tương đối của lượng tiền này. Do vậy, quản lý tiền gửi không kỳ

hạn là một phần quan trọng của quản lý dự trữ trong NH.



16

+ Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa người

gửi tiền và NH về số lượng, kỳ hạn, lãi suất của khoản tiền gửi.

Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm định kỳ

được thiết kế dành cho KHCN và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an

toàn và sinh lời, thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đa số

KH thích lựa chọn hình thức gửi tiền này là cơng nhân, viên chức hưu trí có

thu nhập ổn định và thường xuyên. Mục tiêu quan trọng của họ khi lựa chọn

hình thức tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy, lãi suất đóng

vai trò quan trọng để thu hút đối tượng khách hàng này. Dĩ nhiên, lãi suất trả

cho tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi khơng kỳ hạn. Ngồi

ra lãi suất còn thay đổi tùy theo loại kỳ hạn gửi, tùy vào loại đồng tiền (VNĐ,

USD hay vàng…)

Tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn có thể phân thành nhiều loại. Căn cứ vào kỳ

hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn 1, 2, 3, 6, 9, 12 tháng, hoặc lâu hơn đến

36 tháng cho khách hàng lựa chọn. Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể chia

thành:

* Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ

*Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ

* Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ

Việc phân chia tiền gửi kỳ hạn thành các loại khác nhau làm cho sản

phẩm tiền gửi của NH trở nên đa dạng và phong phú có thể đáp ứng được nhu

cầu gửi tiền đa dạng của KH.

- Phân loại theo loại tiền: Phân loại theo loại tiền thì tiền gửi khách

hàng cá nhân được chia thành 2 loại sau

+ Tiền gửi nội tệ: Là tiền gửi bằng đồng Việt Nam vào NH, được

hưởng tiền lãi bằng đồng Việt Nam. Đây là nguồn tiền gửi quan trọng của các

NH, nó phụ thuộc vào thu nhập trong nước và chiếm tỷ trọng rất lớn trong



17

tổng lượng tiền gửi huy động được.

+ Tiền gửi ngoại tệ: Là tiền gửi bằng ngoại tệ (USD, EUR…) vào NH,

được hưởng lãi bằng chính ngoại tệ gửi. Những khoản ngoại tệ này cũng rất

quan trọng cho hoạt động NH như kinh doanh ngoại tệ trong nước, tài trợ xuất

nhập khẩu, thanh toán quốc tế…

- Phân loại theo tính chất giao dịch: Phân loại theo tính chất giao dịch

thì tiền gửi khách hàng cá nhân được chia thành 2 loại sau:

+ Tiền gửi giao dịch: Là một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời

nhất mà NH cung cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán ngay các lệnh

rút tiền cho một cá nhân hay cho bên thứ ba, được chỉ rõ là người thụ hưởng.

Tiền gửi giao dịch bao gồm: Tiền gửi giao dịch không hưởng lãi thông thường

và tiền gửi giao dịch hưởng lãi.

+ Tiền gửi phi giao dịch: Là loại tiền gửi chỉ có tính cất trữ và sinh lợi,

khơng sử dụng được dịch vụ thanh tốn của NH, thông thường là tiền gửi tiết

kiệm.

1.1.3. Đặc điểm của hoạt động nhận tiền gửi KHCN của NHTM

KHCN luôn mua và sử dụng những gì phù hợp với nhận thức bản thân.

Điều này có nghĩa là khi KHCN muốn gửi tiết kiệm họ đã xác định được

chính xác kỳ hạn và số tiền mà họ muốn gửi, do đó chúng ta rất khó tác động

để khách hàng thay đổi suy nghĩ ở đặc điểm này.

KHCN ln đề cao lợi ích và quyền lợi của bản thân lên trên hết. KH

luôn mong muốn lãi suất tiền gửi cao, quà khuyến mãi giá trị cũng như việc

chăm sóc khách hàng sau khi gửi tiết kiệm.

KHCN dễ bị tác động bởi thị hiếu của thị trường và bị ảnh hưởng của

những người xung quanh. Khi có biến động thị trường hay có sự điều chỉnh

lãi suất, khách hàng thường hay theo số đông.



18

KHCN luôn chú trọng vào chất lượng và thương hiệu của sản phẩm.

Ngồi việc lựa chọn được loại hình phù hợp thì khách hàng còn chú trọng vào

việc khoản tiền của mình có được đảm bảo hay khơng, thủ tục gửi rút có

thuận tiện hay khơng, dẫn đến khách hàng sẽ lựa chọn NH uy tín có những

sản phản nổi trội (như gửi rút nhiều nơi, tiết kiệm linh hoạt,…)

1.1.4. Vai trò nhận tiền gửi khách hàng cá nhân của ngân hàng

thương mại

a. Đối với nền kinh tế

Thông qua hoạt động nhận tiền gửi mà các ngân hàng đã và đang thực

hiện các dịch vụ trung gian trong nền kinh tế. Với vai trò là trung gian tài

chính, NHTM đã góp phần điều hòa vốn giữa những khách hàng có vốn và

khách hàng thiếu vốn thơng qua hoạt động cấp tín dụng. Thực tế cho thấy dù

các doanh nghiệp có lớn mạnh bao nhiêu cũng khơng thể có được một lượng

vốn lớn hơn tổng số tiền dự trữ của dân chúng. Mỗi người trong xã hội chỉ có

một số tiền nhỏ nhưng tập hợp lại sẽ trở thành một nguồn vốn lớn. Thơng qua

các hình thức nhận tiền gửi, phần lớn số vốn tích trữ tập trung qua hệ thống

ngân hàng và từ đó được đưa vào cơng cuộc đầu tư mang tính chất sản xuất để

tạo ra của cải cho xã hội. Nhờ đó, vốn đầu tư được mở rộng, hoạt động sản

xuất kinh doanh được kích thích, sản phẩm xã hội tăng lên, đời sống nhân dân

được cải thiện.

b. Đối với ngân hàng thương mại

Ngân hàng với đặc trưng là doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa đặc

biệt là tiền tệ thì tiền gửi khơng chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn

là đối tượng kinh doanh chủ yếu.

- Là cơ sở để ngân hàng quyết định kinh doanh:

Vốn là điều kiện tiền đề, điều kiện đầu tiên để một ngân hàng thực hiện



19

hoạt động kinh doanh của mình. Ngồi lượng vốn bắt buộc phải có (vốn điều

lệ), ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác trong đó hoạt động nhận tiền

gửi nhàn rỗi trong dân cư chiếm tỷ trọng lớn và mang tính ổn định. Nguồn

vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng, do vậy việc thu hút tiền

gửi của ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.

- Tạo thêm nguồn vốn để cho vay:

Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nguồn vốn của

ngân hàng. Nguồn vốn huy động từ tiền gửi cá nhân có tính ổn định cao, tạo

điều kiện cho ngân hàng mở rộng tín dụng, tạo nguồn lực cho ngân hàng có

điều kiện thực hiện đầu tư các dự án quy mô lớn. Như vậy, nguồn vốn huy

động từ tiền gửi cá nhân đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định quy mơ

và khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng.

- Quyết định khả năng thanh toán:

Khả năng thanh tốn của ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng

trong hoạt động ngân hàng, luôn được các ngân hàng tính tốn đảm bảo tỷ lệ

theo quy định. Ngân hàng có khả năng huy động tiền gửi, có ưu thế và chủ

động hơn trong việc đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng. Hơn nữa,

do danh mục vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trên bảng tổng kết tài sản của

ngân hàng nên việc huy động đóng vai trò quan trọng, quyết định khả năng

thanh tốn của ngân hàng.

1.1.5 Rủi ro trong hoạt động nhận tiền gửi của khách hàng cá nhân

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng rủi ro là khơng thể tránh khỏi,

vì vậy việc kiểm soát rủi ro nhằm giúp giảm thiểu tối đa rủi ro xảy ra cho

ngân hàng hoặc kiểm soát giữa rủi ro so với thu nhập từ hoạt động đó đạt

được.

- Rủi ro lãi suất: là khả năng thu nhập ròng giảm do sự biến động về



20

lãi suất. Với những diễn biến khó lường trước của lãi suất trên thị trường sẽ

làm tăng hoặc giảm thu nhập ròng từ lãi tùy thuộc vào đặc điểm của nguồn

huy động và danh mục tài sản của ngân hàng. Do đó, NHTM cần phải có

chiến lược quản lý rủi ro lãi suất theo hướng giảm thiểu tối đa rủi ro xảy ra

cho ngân hàng.

- Rủi ro thanh khoản: là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi

cung thanh khoản không đáp ứng được cầu thanh khoản, là một vấn đề thông

thường xảy ra hàng ngày đối với hoạt động của ngân hàng. Tính thanh khoản

của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng bởi hoạt động rút trước hạn tiền gửi cá

nhân với một khối lượng tiền đủ lớn khi có thơng tin xấu tác động đến tâm lý

người gửi tiền,khi đó hiệu ứng rút tiền đột xuất hàng loạt sẽ làm cho ngân

hàng mất thanh khoản. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề rủi ro thanh khoản có thể

được giải quyết bằng cách ngân hàng có thể vay trên thị trường liên ngân

hàng.

- Rủi ro tác nghiệp: là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán

bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc do các sự

kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Để hạn chế rủi ro tác

nghiệp, các ngân hàng cần tăng cường huấn luyện, đào tạo cán bộ, đặc biệt là

liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tác nghiệp, hồn thiện quy trình,

quy chế...

Trên thực tế hiện nay, ở các chi nhánh ngân hàng chỉ quản lý được rủi

ro tác nghiệp. Còn rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản cần có sự quản lý, đo

lưởng trên cả hệ thống, ở cấp độ chi nhánh không đo lường, không đánh giá

được những rủi ro này. Do đó luận văn chỉ tập trung đánh giá tiêu chí rủi ro

tác nghiệp trong nhận tiền gửi của khách hàng cá nhân tại ngân hàng.



21

1.2. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG

CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 . Mục tiêu của hoạt động nhận tiền gửi KHCN

a. Phát triển quy mô hoạt động nhận tiền gửi KHCN

Để phát triển kinh doanh và chiếm vị trí dẫn đầu thì ngân hàng phải

khơng ngừng gia tăng quy mơ hoạt động, đặc biệt là phải không ngừng gia

tăng quy mô hoạt động tiền gửi cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu về tăng trưởng

tín dụng cho nền kinh tế.

Hoạt động nhận tiền gửi cá nhân có hiệu quả khơng chỉ dừng lại ở việc

gia tăng quy mơ mà còn phải đảm bảo được tốc độ tăng trưởng của nó. Việc

tăng trưởng nguồn tiền gửi cá nhân cần gắn liền với chất lượng của nguồn tiền

gửi đảm bảo cho sự tăng trưởng ổn định. Khi quy mô và tăng trưởng nhận

nhận tiền gửi cá nhân ổn định các ngân hàng có thể xây dựng và thực hiện tốt

kế hoạch kinh doanh của mình.

b. Phát triển thị phần hoạt động nhận tiền gửi KHCN

Tăng thị phần là một trong những điều kiện tất yếu trong quá trình hoạt

động của bất kỳ một ngân hàng nào. Tăng thị phần hoạt động nhận tiền gửi cá

nhân của NHTM thể hiện năng lực tài chính, uy tín và vị trí của ngân hàng

trên thị trường nhận tiền gửi.

Thị phần hoạt động nhận tiền gửi cá nhân của một ngân hàng được hiểu

là nhận tiền gửi của ngân hàng đó đang ở vị trí nào trên thị trường, thể hiện

qua việc so sánh nhận tiền gửi cá nhân của ngân hàng đó so với tổng số dư

nhận tiền gửi cá nhân của địa bàn.

Để phát triển thị phần, chiếm lĩnh thị trường ngân hàng cần sử dụng

nhiều biện pháp phối hợp như đa dạng hóa sản phẩm, chính sách lãi suất hợp

lý, quảng cáo sản phẩm, chăm sóc khách hàng,... Để làm được điều này ngân



22

hàng cần thường xuyên nghiên cứu thị trường như là thực hiện khảo sát lãi

suất, các sản phẩm hiện có trên thị trường từ đó phân tích đánh giá điểm

mạnh, điểm yếu các sản phẩm tiền gửi nhằm cải tiến và phát triển sản phẩm

phù hợp với nhu cầu của khách hàng.

c. Cơ cấu hoạt động nhận tiền gửi cá nhân hợp lý

Cơ cấu hoạt động nhận tiền gửi cá nhân nhằm phản ánh cơ cấu của

từng kỳ hạn, loại tiền huy động, đối tượng tiền gửi... Qua cơ cấu hoạt động

tiền gửi cá nhân có thể thấy phân đoạn thị trường gắn với quy mô và tốc độ

tăng trưởng của mỗi nguồn tiền gửi tương ứng.

Việc phân tích cơ cấu tiền gửi cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng vì nó

phản ánh sự hợp lý giữa cơ cấu các nguồn tiền gửi, và sự hợp lý giữa cơ cấu

nguồn tiền với cơ cấu sử dụng vốn, quyết định đến các hoạt động quản trị rủi

ro của ngân hàng như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản.

d. Đảm bảo chi phí hợp lý

Với mục tiêu cuối cùng của hoạt động nhận tiền gửi cá nhân là sử dụng

chính nguồn tiền gửi đó để đưa vào kinh doanh của ngân hàng thông qua hoạt

động cho vay nhằm tạo lợi nhuận. Xác định được chi phí nhận tiền gửi cá

nhân hợp lý để từ đó có thể xây dựng chính sách kinh doanh có hiệu quả. Việc

xác định được chi phí hoạt động tiền gửi hợp lý theo từng nguồn tiền gửi sẽ

tạo điều kiện cho ngân hàng gia tăng lợi nhuận, đảm bảo lãi suất cho vay cạnh

tranh.

e. Nâng cao chất lượng dịch vụ

Các NHTM thường xuyên quan tâm đến việc tăng chất lượng dịch vụ

cung ứng cho khách hàng nhằm thu hút khách hàng, quảng bá hình ảnh của

NHTM ra bên ngồi. Thơng qua đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với

các sản phẩm dịch vụ tiền gửi cá nhân của ngân hàng có thể đánh giá chất

lượng sản phẩm dịch vụ của mình đối với thị trường như thế nào. Đề từ đó



23

khơng ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng cung ứng cho khách

hàng được tốt hơn.

1.2.2. Các biện pháp nhằm đạt mục tiêu nhận tiền gửi KHCN

Có rất nhiều biện pháp mà các NHTM đang thực hiện để đạt dược mục

tiên hoạt động nhận tiền gửi cá nhân. Một số biện pháp chủ yếu như sau:

- Các NHTM thường xuyên xây dựng các sản phẩm nhận tiền gửi cá

nhân và nhận tiện ích kèm theo: ngân hàng khơng ngừng cải tiến, phát triển

các sản phẩm mới, đa dạng hóa các hình thức huy động, phát triển các dịch vụ

giá trị gia tăng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng một

cách tốt nhất như gửi tiền tiết kiệm online, tiết kiệm tự động, internet

banking... giúp khách hàng vừa có thể gửi tiền vừa có thể thực hiện các giao

dịch thanh tốn mà khơng cần đến quầy giao dịch. Ngồi ra các NHTM khơng

ngừng phát triển các sản phẩm mới với lãi suất hấp dẫn, phương thức thanh

toán lãi đa dạng để thu hút mọi nguồn vốn từ khách hàng.

- Hồn thiện cơng tác truyền thơng, quảng cáo: như công tác tuyên

truyền, tiếp thị, quảng cáo… nhằm quảng bá hình ảnh của ngân hàng đến

cơng chúng một cách nhanh nhất và hiệu quả, đồng thời thu hút sự chú ý của

khách hàng đến các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng để từ đó nâng cao uy tín

và hình ảnh ngân hàng nhằm mục tiêu gia tăng quy mô hoạt động tiền gửi

cũng như gia tăng số lượng khách hàng. Đây là một trong những giải pháp

không thể thiếu của các NHTM, thông qua quảng cáo trên các phương tiện

truyền thông mà khách hàng biết đến ngân hàng cũng như các sản phẩm mới

của ngân hàng.

- Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ: là quá trình giao dịch được chuẩn hóa

nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro tác nghiệp cho ngân hàng cũng như cho khách



24

hàng, rút ngắn thời gian tác nghiệp. Đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ

khách hàng đảm bảo nhanh chóng, chính xác và an tồn.

- Đổi mới phong cách làm việc, thái độ phục vụ: thay đổi nhận thức đối

với cán bộ ngân hàng để công tác nhận tiền gửi đạt hiệu quả cao, bằng việc

quan tâm khuyến khích bằng lợi ích vật chất và tinh thần như tặng quà trong

các ngày lễ, tết, sinh nhật, giảm phí…phát động phong trào thi đua tiếp thị

khách hàng mới cũng như giao chỉ tiêu huy động đến từng cán bộ.

- Xây dựng chính sách khách hàng: là một trong những giải pháp quan

trọng và luôn được đặt lên hàng đầu của các ngân hàng. Việc xây dựng chính

sách khách hàng nhằm giúp ngân hàng giữ vững và duy trì các khách hàng

truyền thống ngồi ra còn giúp ngân hàng thu hút thêm khách hàng mới nhằm

thu hút mọi tầng lớp dân cư có nguồn tiền nhàn rỗi lớn, và ổn định thơng qua

nhiều hình thức như thực hiện giao dịch tận nhà đối với khách hàng có lượng

giao dịch lớn, phân đoạn khách hàng theo khu vực, tập qn để có chính sách

huy động phù hợp và có hiệu quả.

- Xây dựng mức lãi suất phù hợp với từng thời kỳ: các ngân hàng

thường xuyên theo dõi sát sao, nắm bắt diễn biến của lãi suất trên thị trường,

để từ đó đề ra các mức lãi suất huy động sao cho vừa phù hợp với sự biến

động của thị trường, vừa đảm bảo có tính cạnh tranh, vừa đảm bảo chi phí

hợp lý. Các ngân hàng thường chú trọng đối với giải pháp này, do hiện nay

khách hàng thường xuyên cân đo lãi suất giữa các ngân hàng, đồng thời có

nhiều sự lựa chọn, khách hàng sẽ đưa ra quyết định rút tiền gửi ra và gửi tại

các ngân hàng có lãi suất gửi cao hơn. Do đó, để giảm tác động từ các quyết

định gửi tiền của khách hàng, các NHTM thường xuyên cạnh tranh nhau bằng

lãi suất để sao cho thu hút tối đa mọi nguồn tiền nhàn rỗi từ thị trường.

- Đẩy mạnh công tác phát triển mạng lưới Phòng Giao dịch/Quỹ tiết

kiệm nhằm tạo điều kiện tối đa cho khách hàng, đặc biệt là các khách hàng ở



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×