Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Giải pháp thực hiện.

I. Giải pháp thực hiện.

Tải bản đầy đủ - 0trang

nước sân đình, khu vườn nhà...sau đó giúp học sinh hình dung được cụ thể về

cảnh miêu tả ở thời gian nào (mùa nào) ở không gian nào ( cảnh đó như thế

nào) ... Việc xác định được đúng yêu cầu của đề như ở ví dụ trên sẽ giúp các

em rất nhiều trong việc định hình được đối tượng miêu tả.

2. Hướng dẫn cách tìm ý cho bài văn tả cảnh.

Khi học sinh đã xác định đúng yêu cầu của đề, xác định chính xác đối

tượng miêu tả nhưng chắc chắn chưa thể định hình được hướng đi cho bài

viết. Để giúp học sinh định hình được hướng đi của bài viết văn miêu tả cảnh

tôi đã hướng dẫn học sinh bước tìm ý cho bài văn tả cảnh :

- Nhất thiết phải theo một trình tự: Tìm ý bao qt khơng gian của cảnh

chung sẽ tả, sau đó cụ thể sẽ có những cảnh nào? Cảnh như thế nào?

- Bao quát không gian cảnh được coi là một thao tác sơ thảo của bức tranh

cảnh, rất quan trọng trong việc định hình tâm thế cũng như nhãn thế cho

người thưởng thức bức tranh cảnh bằng ngôn từ. Vậy học sinh cần phải nắm

được cách viết phần bao quát không gian cảnh như thế nào ? Thực tế tôi thấy

học sinh thường viết một cách cộc lốc cụt ngủn, có khi chỉ viết được một, hai

câu cho phần tả bao quát. Nên dù không phải lĩnh vực tự nhiên, nhưng tôi đã

đưa ra theo ý như một công thức dễ nhớ cho học sinh :

+ Để tả bao quát cảnh, trước hết phải có câu xác định vị trí miêu tả khái

quát. Thường là một vị trí cao hơn, xa cảnh trung tâm để có thể “chụp’ được

toàn cảnh miêu tả vào nhãn quan của người quan sát một cách tương đối trọn

vẹn.

+ Sau câu văn giúp người đọc biết được vị trí của người quan sát là những

lời văn nhận xét, đánh giá khái quát đầy nghệ thuật về cảnh chung đó.

- Cũng khơng qn lưu ý với học sinh rằng : Lời văn nhận xét, đánh giá

khái quát đầy nghệ thuật là những lời văn sử dụng linh hoạt các biện pháp tu

từ sao cho cảnh tả nổi lên sống động, tự nhiên, trong sáng,...sát hợp với yêu

cầu của đề mà phần (1) đã xác định và mang tính biểu cảm của người quan

sát cảnh.

6



* Một vài ví dụ cụ thể:

Ví dụ:

Tả bao quát cảnh quê hương em vào một buổi sáng đẹp trời : “Đứng trên đầu

đê, ngắm nhìn toàn cảnh làng q, tơi như đang đắm mình trong sắc thu vàng

của chốn quê hương thanh bình, trù phú.”

Hay một ví dụ khác về cảnh q hương vào sáng mùa xuân : “Đứng giữa

cánh đồng giang rộng cánh tay mà cảm nhận về làng quê. Ôi ! quê hương tôi

đẹp như một nàng tiên đang mỉm cười trước nhân gian. Thật ấm áp, thanh

bình đầy sức sống,...”

- Những ý cốt yếu nhất của một dàn bài văn miêu tả cảnh còn là cụ thể những

cảnh nào? ( Nếu là đề tổng hợp thì cảnh sẽ chia thành nhiều cảnh đơn, nếu là

đề tả cảnh đơn thì cảnh đơn sẽ có có những điểm nổi bật gì? Như thế nào?)

Học sinh phần lớn thường sa vào kiểu gặp đâu nói đó và khơng hề xác

định được rằng mình đang tả cảnh có mục đích làm nổi lên diện mạo như thế

nào, có làm bật lên được tư tưởng chủ đề mà mình đã xác định được ở đầu bài

u cầu khơng. Để khắc phục được tình trạng này tôi cho học sinh luyện kỹ

năng xác định, lựa chọn những đặc điểm tiêu biểu của cảnh sẽ tả.

* Ví dụ:

Cảnh khu vườn vào buổi sáng đẹp trời thì có những đặc điểm gì nổi bật?

- Đầu tiên giáo viên cho học sinh xác định chủ đề của cảnh sẽ dựng là một

cảnh khu vườn tươi tốt, đầy hoa thơm trái ngọt, rất thanh bình, dân giã mà

mang được vẻ trù phú của chốn quê hương yêu dấu, đặc biệt cảnh phải mang

được dáng dấp của thời gian, không gian mà đề quy định ( có đặc trưng theo

mùa). Sau đó giáo viên hướng cho học sinh tái hiện từng hình ảnh của khu

vườn theo trí tưởng tượng nhưng phải sát với hiện thực.

“ Cảnh giàn thiên lý trước sân nhà ngào ngạt dậy hương buổi sớm, hình ảnh

cây cau cạnh bể nước với những tàu lá già dang rộng, đọt lá non cao vút; hình

ảnh vườn hoa đua sắc vàng thu cùng ong bướm; hình ảnh vườn rau tươi tốt

cũng rất mang đặc trưng mùa thu: cải sen làm dưa đang lên ngồng đang trổ

7



hoa vàng rực, những ngọn mồng tơi đang quăn mình leo lên bờ dậu để ra quả

vắt mình trong nắng gió; tiếp đó là hình ảnh hàng cây ăn quả với những

hương vị màu sắc riêng.

Ví dụ: thơm lừng những cḥùm ổi, nhãn sau nhà, những trái na mở mắt nhìn

nắng mới, cây hồng trái chín như những chấm son trên nền trời trong veo...

- Với cách làm như trên tôi đã cho học sinh luyện tập tìm đặc điểm cho nhiều

cảnh khác nhau với những thời gian, không gian đa dạng. Các em được luyện

tập dưới hình thức: thi nhau tìm đặc điểm, giáo viên hệ thống và giúp các em

chọn lựa những đặc điểm tiêu biểu nhất trong mỗi cảnh. Như thế sẽ tạo được

hứng thú của học sinh với cảnh sẽ tả.

3. Rèn kỹ năng diễn đạt cho học sinh trong văn miêu tả cảnh.

- Tìm được đặc điểm tiêu biểu của cảnh sẽ tả đã là một bước quan trọng

song chưa phải là đã tả cảnh. Miêu tả cảnh là dựng lại được cảnh một cách

sống động, chân thực, nghệ thuật. Vậy những đặc điểm vừa tìm được ở trên

sẽ diễn đạt như thế nào là một điều giáo viên chúng tôi rất quan tâm.

- Thực tế là qua nhiều năm chấm bài văn miêu tả của học sinh tôi thấy đáng

buồn một điều là vốn ngôn từ của các em rất nghèo nàn, diễn đạt lủng củng,

thường xảy ra hiện tượng bí từ, dùng sai nghĩa từ, lặp từ, lặp ý ... như vậy để

làm bài văn của học sinh diễn đạt trong sáng có sức hấp dẫn chúng tơi nghĩ

rằng khơng có cách nào khác ngoài việc trau dồi ngôn từ nghệ thuật cho mỗi

học sinh. Để học sinh tự giác làm điều này là một việc làm rất khó, mà nên để

học sinh tự làm sau khi giáo viên đã tạo được trong lòng học sinh sự u thích

ngơn từ nghệ thuật. Dựa vào tâm lý lứa tuổi, chúng tơi đã gieo luồng u

thích này qua việc cung cấp và phân tích một số tư liệu được giáo viên chọn

lọc kỹ càng trích trong các tác phẩm của các nhà văn.

* Ví dụ: Đoạn trích miêu tả cảnh trong vườn dưới nắng chiều sau đây:

“... Chiều buông, ánh mặt trời trở nên vàng sậm hơn. Ánh chiều vàng trải lên

cành lá, mái nhà một màu vàng ong mon đẹp lạ vườn cây nhà tôi cũng vậy.

Giàn bầu mậm xanh tươi, lá non màu xanh nhạt, lá già thì xanh thẫm. Ánh

8



nắng chiều chiếu xuống giàn bầu, bí, cái cốt lá xanh ngắt lọc qua một lượt hắt

một màu xanh ngọc bích xuống vườn. Nhãn, bưởi, mít và các loại cây khác

nữa tất cả đều xanh um tùm, nom như chiếc ơ khổng lồ. Đó là màu xanh no

nắng, no gió và no thức ni cây. Vườn cây lao xao, gió thoảng đâu đây mùi

hương quả chín , hương hoa ngọt lịm...”

- Sau mỗi một vài đoạn văn như thế giáo viên phân tích những hình ảnh

ngơn từ nghệ thuật sáng giá sao cho tạo được hứng khởi ở học sinh, kích thích

các em thích tìm, viết những lời văn hay. Có lẽ rèn kỹ năng diễn đạt là một

phương pháp đòi hỏi kỳ cơng nhất của người giáo viên, nó cần phải mất một

q trình có nhiều bước.

- Sau khi tạo hướng thú cho học sinh qua cách tiếp xúc với các tư liệu chọn

lọc, chúng tôi mới cho các em luyện tập diễn đạt bằng hình thức giáo viên

đưa ra một loạt hình ảnh, yêu cầu học sinh dùng lời văn kết hợp biện pháp

nghệ thuật so sánh, nhân hoá, sử dụng những từ láy gợi hình gợi âm để tập

diễn đạt.

* Ví dụ :

- Hình ảnh cánh đồng -> Cánh đồng rộng, dài xa tít, mơn mởn dang tay

ơm lấy xóm làng như người mẹ trìu mến ơm con, chắt chiu những khổ cực

của người nơng dân.”

- Hình ảnh khơng gian đồng cỏ -> Dọc theo cánh đồng là đồi cỏ may cứng

nhọn trải bạt ngàn như một tấm thảm bạc phếch nắng mưa. Những bơng cỏ

may rung rinh nhẹ nhàng trong gió chiều thu mát rượi như đang biểu diễn

một điệu múa mềm mại nhịp nhàng. Mấy chú chim sẻ tha thẩn trong vùng cỏ

may rộng tìm kiếm sâu bọ và đâu đây tiếng cuốc vọng vào thưa thớt rồi tắt

hẳn trong không gian đồng quê mùa thu.

- Tiếng chim ngoài bãi -> Ngoài đê, ven ruộng ngô cánh bãi xanh um một

màu lá mướt của ngơ xen đỗ, xen cà. Lại có tiếng chim khác nó bay vút lên

cao thả vào khơng trung nghe mát lành. Nó khoan thai, dìu dặt như ngón tay

thon thả búng vào dây đàn thập lục, nẩy ra tiếng đồng, tiếng thép lúc đầu

9



vang to sau nhỏ dần nhỏ dần rồi tắt lịm.

- Giai đoạn luyện kỹ năng diễn đạt như thế này chúng tôi đặc biệt chú ý

đến phép so sánh trong các câu văn. Có thể coi so sánh hay để tạo những nốt

luyến cho những bản nhạc ngôn từ, những nét đậm của bức tranh ngôn ngữ.

Chúng tôi đã hướng cho học sinh luyện tập cách dùng nhiều từ so sánh khác

nhau sao cho thật đa dạng phong phú gợi cảm, tạo ấn tượng cho người đọc

Ví dụ :

-



Dòng sơng q em dưới đêm trăng mềm mại như một áng tóc trữ tình .

Khơng gian quê hương Y như một chiếc chuông lớn vô cùng treo suốt



mùa thu .

Những lá sen già khum khum chắng khác gì những chiếc thúng con

đựng đầy ắp nắng chiều thu .

Cây cối rì rào, lao xao gió nồm nam, lá cây lay động, lấp lánh tựa ngàn

triệu con mắt lá răm sáng trưng nắng hè.

Trăng về khuya cứ ngỡ là con thùn đang trơi trên dòng sơng Ngân.

Cách này chúng tôi cũng cho học sinh luyện trong nhiều tiết học để trở

thành thao tác thuần thục, nhuần nhuyễn, đồng thời cho học sinh kết hợp về

tìm đọc tư liệu sao cho có những lời văn miêu tả sống động gợi cảm nhất.

4. Rèn luyện kỹ năng dựng đoạn văn miêu tả cảnh.

- Dựng đoạn văn chính là cách sắp xếp các lời văn diễn đạt sao cho hợp lý,

logic, chặt chẽ, mạch lạc. Học sinh thường rất lúng túng khơng biết tả cảnh cụ

thể là tả cảnh gì ? Tả như thế nào ? theo trình tự từ đâu ? ... Chúng thường

làm vào kể lể, liệt kê cảnh một cách tràn lan, không trội lên được những đặc

trưng của cảnh và càng không tạo được ấn tượng cho người đọc về cảnh. Vậy

người giáo viên phải làm như thế nào để khắc phục khó khăn này ? Trước hết

tơi hướng cho học sinh hình dung mỗi một cảnh nhỏ sẽ viết thành một đoạn

văn trọn vẹn. Trong đoạn văn đó sẽ đi từ khái quát đến cụ thể. Bao giờ câu

đầu đoạn cũng là câu miêu tả khái qt cảnh đó.

10



Ví dụ khái qt cảnh dòng sơng: “Dưới chân em là dòng sơng hiền hoà

chảy như một tấm lụa trải dài xa tít.”

- Sau câu tả khái quát là một loạt câu miêu tả cụ thể theo trình tự từ gần

đến xa theo tầm mắt.

Ví dụ: “Mùa này nước sơng lưng chừng nước, nước sơng trong xanh in

bóng mây trời sâu thẳm. Mái chèo khuấy động, lăn rung rinh cả những cây

tóc tiên dưới đáy. Trên mặt sơng điểm xuyến những lá trúc vàng bé tẻo teo

như những chiếc thùn tí hon dập dềnh trên sóng nước bao la. Cá nước bơi

từng đàn đen trũi, nhô lên hụp xuống như những người bơi ếch. Những con

sóng lăn tăn như những con rắn vẩy vàng, vẩy bạc đang nô đùa. Sóng vỗ nhẹ

hai bên bờ lóc bóc nghe thật vui tai. Trời chiều, trên sơng có những con

thùn hối hả cập bến, chất đầy cau tươi xoài thơm từ các miền đất lạ mang

về. Tiếng người lao xao trong tiếng hạ buồm cót két bên bờ sơng q...”

- Trong quá trình miêu tả tả cụ thể, giáo viên lưu ý cho học sinh trình tự miêu

tả cho phù hợp với vị trí quan sát kết hợp lời văn so sánh, lời văn nhận xét,

đánh giá và sự liên tưởng tưởng tượng phong phú, ý câu trước với câu sau

logic với nhau tạo độ kết về mặt nghĩa, những câu đoạn cuối thường là những

câu có ý nghĩa sâu sắc , làm đậm nét cho bức tranh thiên nhiên nên giáo viên

hướng cho học sinh biết dành những lời văn trội hơn vào cuối đoạn.

Cứ theo cách hướng dẫn như trên giáo viên cho học sinh luyện viết thành

nhiều đoạn cho nhiều cảnh .

5. Luyện lời văn chuyển cảnh, liên kết đoạn trong văn tả cảnh:

Lời văn chuyển cảnh không nhiều nhưng có tác dụng rất lớn trong việc

liên kết, liên hoàn mạch văn, nó đánh giá trình độ khéo léo của cây bút miêu

tả cảnh. Giáo viên có thể “mách nhỏ” cho các em học sinh những thủ thuật

chuyển cảnh sau đây:

- Các cảnh nhỏ được nối tiếp nhau một cách tự nhiên theo mơ típ liên

cảnh ( cảnh kề gần nhau theo tầm quan sát )

VD: chỉ một lát con đường đã dẫn ra tới đầu xóm. Xóm nhà... cánh

11



đồng...

- Chuyển cảnh nhờ những hình ảnh trung gian.

VD : “ Bờ đê cao to vạm vỡ. Chân đê cỏ mọc thành thảm xanh tốt. Trâu

bò thung thăng gặm cỏ, vểnh đôi tai nghe tiếng sáo trở về. Âm thanh ấy lúc

trầm lúc bổng, hoà nhịp với tiếng chim hoạ mi lảnh lót rắc đều xuống mặt

sơng. Con sơng quê tôi nằm uốn khúc giữa làng rồi chạy dài bất tận”

- Hướng chuyển cảnh theo gam màu.

VD : “Sáng nay ra trơng thấy màu trời có vàng hơn thường khi. Màu lúa

chín dưới đồng vàng suộm lại. Nắng nhạt ngả màu vàng hoe. Trong vườn lắc

lư những quả xoan vàng lịm. Từng chiếc lá mít vàng ối. Buồng chuối đốm

quả chín vàng. Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng ...

- Chuyển cảnh bằng cách nối âm thanh với không gian.

VD : Nối âm thanh của sự vật bên bờ sông với không gian vắng của

bến sông ( lấy động làm nổi tĩnh ): “Sóng vỗ nhẹ hai bên bờ lóc bóc nghe thật

vui tai. Trên sơng giờ đây có những con thuyền hối hả cập bến, chất đầy cau

tươi, xoài thơm từ các miền đất lạ mang về. Tiếng người lao xao trong tiếng

hạ buồm cót két bên bờ sông quê. Chiều dần buông, bến sông trở về vắng

lặng. Những con đò nằm im đợi khách qua sơng”

- Chuyển cảnh bằng cách liên tưởng theo sự quan sát qua các giác quan

khác nhau : Thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác và bằng cả cảm giác nữa.

VD: “Vườn cây lao xao, gió thoảng đâu đây mùi hương quả chín,

hương hoa thơm ngọt lịm. Tiếng chim líu lo như đem hương thơm ấy bay cao,

cao mãi. Tu hú kêu trong nắng chiều cho rặng vải ven sơng chín đỏ, cho cái

chua bay đi, miền ngọt còn lạ. Hẹn một bến sông quê từng thuyền trái ngọt ra

vào. Sông quê tôi”

Phương pháp này giáo viên cho học sinh tập viết kết hợp với học tập tư

liệu để có nhiều cách chuyển cuốn hút người đọc .

6. Giáo viên hướng cho học sinh luyện cách mở bài và kết bài miêu tả.

Giáo viên đưa ra một số cách mở để học sinh luyện theo:

12



- Cách mở bài hay thường là gián tiếp: Có thể giới thiệu cảnh bằng lời

mời gọi du khách để giới thiệu cảnh và bộc lộ cảm xúc của người viết một

cách khái quát. Có thể dẫn dắt từ lời thơ, bài hát về cảnh sẽ tả để giới thiệu

cảnh. Hoặc có thể bộc lộ cảm xúc hồi tưởng về cảnh để mà giới thiệu...

- Dù là cách mở bài nào giáo viên cũng lưu ý cho học sinh đủ ý cần

nêu trong mở bài.

- Kết bài không những đủ ý chốt của bài viết mà nên tạo độ lắng cho

nốt trầm xao xuyến vang vọng trong tâm hồn người đọc điều này phụ thuộc

vào trình độ diễn đạt của học sinh , nên giáo viên hướng các em trau dồi tư

liệu văn học.

* Ví dụ : Một kết bài : “Chiều thu- quê hương ơi! Hồn tơi như hố thành

tiếng sáo trúc nâng trên mơi chú bé mục đồng và hình như thu đang dạo lên

khúc nhạc đồng quê; những tiếng lao xao rất nhẹ, rất êm. Chiều nay quả là

một buổi chiều sâu lắng dìu dịu, nó sẽ in đậm mãi trong ký ức tuổi thơ tôi.”

7. Giáo án minh hoạ:

TIẾT 88:



PHƯƠNG PHÁP TẢ CẢNH



I. Mục tiêu.

1. Kiến thức:

- Nắm được cách tả cảnh và bố cục hình thức của một bài văn, đoạn văn tả

cảnh.

- Yêu cầu của bài văn tả cảnh.

2. Kỹ năng:

- Quan sát cảnh vật

- Trình bày những điều đó quan sát về cảnh vật theo một trình tự hợp lí.

3. Thái độ:

- Có ý thức quan sát.

- Biết viết đoạn văn, bài văn tả cảnh.

II. Chuẩn bị.

13



Sgk, sgv , đề bài viết văn về nhà.

III. Hoạt động dạy và học.

1. Tổ chức lớp: Kiểm tra sĩ số

2. Kiểm tra bài cũ: Kết hợp trong bài

3. Bài mới:

Để làm một bài văn miêu tả phong cảnh tốt chúng ta cần có phương

pháp làm bài phù hợp. Bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu

vấn đề này.



Hoạt động của thầy và trò

Nội dung kiến thức

HOẠT ĐỘNG 1: Tìm hiểu kiếnI. Phương pháp viết văn tả cảnh

thức

- Gọi Hs đọc lần lượt 3 văn bản. 1. Ví dụ.

2. Nhận xét.

- G: Tổ chức học sinh làm 3 a. Đoạn văn 1:Tả người- hình ảnh dượng

nhóm thảo luận mỗi nhóm tìmHương Thư trong một chặng vượt thác làm

hiểu một văn bản: Tìm hiểu, nhậngợi lên hình ảnh thác nước hung dữ đầy

xét các đối tượng, hình ảnh đượchiểm trở.

miêu tả, phương pháp miêu tả, - Phương pháp tả: Gián tiếp- dùng hình

trình tự , bố cục ở mỗi văn bản. ảnh con người để người đọc hình dung ra

- Đại diện các nhóm trình bày .cảnh vật.

Hs nhận xét, bổ sung.



- Bố cục: Một đoạn văn.



- Gv nhận xét, đánh giá và kết b. Đoạn văn 2: Tả cảnh dòng sông và

luận.



rừng đước Năm Căn.

- Phương pháp tả: Từ gần đến xa.



- G: ? Muốn tả cảnh ta cần phải - Bố cục: Một đoạn văn.

làm gì ?



c. Đoạn văn 3: Tả cảnh luỹ làng.

- Phương pháp tả: Từ khái quát đến cụ

thể, từ ngoài vào trong.



14



- Bố cục: 3 phần.

? Bố cục bài tả cảnh gồm mấy+.Mở bài: Giới thiệu khái quát về luỹ tre

phần? Nêu nội dung mỗi phần ? làng.

-H: TL



+.Thân bài:Miêu tả ba vòng tre của làng.

+. Kết bài: Phát biểu cảm nghĩ và nêu nhận

xét về loài tre.

*. Ghi nhớ - sgk.



HOẠT ĐỘNG 2: Thực hành



II. Luyện tập phương pháp viết văn tả

cảnh và bố cục bài tả cảnh.

Bài 1: Nếu phải tả quang cảnh lớp học



-HS: Đọc – xác định yêu cầu



trong giờ viết bài TLV thì em sẽ miêu tả

như thế nào



-HS: Hoat động nhóm nhỏ- trìnha. Từ ngoài vào trong (Trình tự không

bày



gian)

b. Từ lúc trống vào lớp đến khi hết giờ.



- GV: Nhận xét - cho điểm



c. Kết hợp cả hai trình tự trên

- Những hình ảnh cụ thể tiêu biểu.

- Cảnh HS nhận đề, một vài gương mặt

tiêu biểu

- Cảnh HS chăm chú làm bài, GV quan sát

HS làm bài.

- Cảnh bên ngoài lớp học: Sân trường, gió,

cây...



- GV cho HS viết phần mở bài và Bài 2: Tả cảnh sân trường lúc ra chơi:

kết bài



a. Cảnh tả theo trình tự thời gian



- HS viết đoạn



- Trống hết tiết 2, báo giờ ra chơi đã đến



- HS đọc



- HS từ các lớp ùa ra sân trường



- GV: Nhận xét - cho điểm



- Cảnh HS chơi đùa

- Các trò chơi quen thuộc



15



- Trống vào lớp, HS về lớp

- cảm xúc của người viết

b. Cách tả theo trình tự khơng gian:

- Các trò chơi giữa sân trường, các góc sân

- Một trò chơi đặc sắc, mới lạ, sôi động.

- Gọi HS đọc

- Gọi HS đọc đề bài

- HS làm việc theo nhóm trong 3

phút

- 4 nhóm trình bày dàn ý



Bài 3: dàn ý chi tiết bài Biển đẹp

a. Mở bài: Biển thật đẹp

b. Thân bài:

- Cảnh biển đẹp trong mọi thời điểm khác

nhau

- Buổi sớm nắng sáng

- Buổi chiều gió mùa đơng bắc

- Ngày mưa rào

- Buổi sớm nắng mờ



Tóm lại: Người viết khơng tả

theo trình tự thời gian, cũng

khơng tả theo không gian mà

theo mạch cảm xúc và hướng

theo con mắt của mình.



- Buổi chiều lạnh

- Buổi chiều nắng tàn, mát dịu

- Buổi trưa xế

- Biển, trời đổ màu

c. Kết bài: nhận xét vì sao biển đẹp



- GV hướng dẫn HS viết bài TLV

số 5 ở nhà

4. Củng cố.

? Bố cục bài văn tả cảnh?

? Các kĩ năng cần thiết trong văn tả cảnh ?

Gv nhấn mạnh nội dung bài học để hướng dẫn các em làm bài viết tại nhà.

5. Hướng dẫn học bài.

- Nắm được nội dung bài.

- Viết bài số 5- giờ sau nộp.

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Giải pháp thực hiện.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×