Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỒNG QUAN TÀI LIỆU

TỒNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho cơng ty TNHH

Hồng Bảo Tường



Hình 1. 1 Cách thức tiếp cập sản xuất sạch hơn của UNIDO

1.1.1.2 Mục tiêu

Mục tiêu của sản xuất sạch hơn là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên,

nguyên vật liệu và năng lượng một cách hiệu quả nhất.

1.1.1.3 Ý nghĩa

Theo UNIDO, SXSH là một chiến lược tổng hợp mang tính phòng ngừa áp dụng

cho tồn bộ vòng đời sản xuất nhằm:

- Tăng năng suất thông qua bảo đảm sử dụng hiệu quả hơn nguyên liệu thô, năng

lượng và nước.

- Tăng cường cải thiện tình trạng mơi trường thơng qua giảm chất tải tại nguồn

- Giảm tác động môi trường trong suốt vòng đời sản phẩm thơng qua thiết kế các

sản phẩm thân thiện với môi trường đồng thời mang lại lợi nhuận.

1.1.2 Các khái niệm liên quan đến sản xuất sạch hơn

t số khái niệm tương tự SXSH như: Hiệu suất sinh thái, phòng ngừa ơ nhiễm, giảm

thiểu chất thải, năng suất xanh, sinh thái công nghiệp.

Hiệu suất sinh thái:

Là sự phân phổi sản phẩm và dịch vụ với giá “cạnh tranh” nhất, thõa mãn yêu

cầu người tiêu dùng với chất lượng cao, đồng thời giảm mạnh các tác động sinh thái

GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

20



Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho cơng ty TNHH

Hồng Bảo Tường

và áp lực thiếu hụt nguồn tài nguyên trong suốt vòng đời, tối thiểu đến mức chịu

đựng của trái đất.

Phòng ngừa ơ nhiễm:

Sản xuất sạch hơn và phòng ngừa ơ nhiễm thường được sử dụng để thay thế

nhau. Phòng ngừa ơ nhiễm là khái niệm được sử dụng ở Bắc Mỹ, sản xuất sạch hơn

được sử dụng ở cáckhu vực còn lại trên thế giới.

Phòng ngừa ơ nhiễm là việc áp dụng các q trình, thực tiễn vật liệu và sản phẩm

cũng như năng lượng , sao cho không tạo ra hoặc tạo ra ít chất thải,tiêu hao ít nhiên

liệu nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường.

Giảm thiểu chất thải:

Khái niệm này được đưa ra vào năm 1988 bởi Cục bảo vệ môi trường Hoa Kỳ.

Thuật ngữ giảm thiểu chất thải và phòng ngừa ơ nhiễm được sử dụng thay thế nhau.

Nhưng giảm thiểu chất thải tập trung vào tái chế rác thải và các phương tiện khác để

giảm lượng rác thải.

Năng suất xanh:

Thuật ngữ này được sử dụng vào năm 1994 bởi cơ quan năng suất châu á

(APO) . Cũng như sản xuất sạch hơn, năng suất xanh là chiến lược nhằm nâng cao

năng suất và thực hiện môi trường trong phát triển kinh tế - xã hội.

Sinh thái công nghiệp/ trao đổi công nghiệp:

Sinh thái công nghiệp và trao đổi công nghiệp là các khái niệm khuôn mẫu mới

của sản xuất công nghiệp và liên quan mật thiết với sản xuất sạch hơn.

Sinh thái và trao đổi công nghiệp là các nghiên cứu của hệ thống công nghiệp và

các hoạt động kinh tế, kết nối chặt chẽ với hệ thống tự nhiên cơ bản.

Bản chất chúng là mơ phỏng q trình tái chế ngun nhiên vật liệu của hệ sinh

thái tự nhiên – có nghĩa là việc quản lý dòng ngun liệu là một khía cạnh chủa yếu

của cách tiếp cận này (đầu ra của quá trình sản xuất này trở thành đầu vào của các

quá trình sản xuất khác để giảm thiểu tối đa lượng chất thải.)

1.1.3 Những điều kiện và yêu cầu khi áp dụng sản xuất sạch hơn

Các doanh nghiệp khi áp dụng SXSH sẽ đem lại hiệu quả rất lớn về mặt kinh tế và

môi trường. Tuy nhiên để áp dụng SXSH cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Tự nguyện, có sự cam kết của ban lãnh đạo: Một đánh giá SXSH thành cơng

nhất thiết phải có sự tự nguyện và cam kết thực hiện từ phía lãnh đạo, cam kết này

thể hiện qua sự tham gia và giám sát trực tiếp. Sự nghiêm túc được thể hiện qua

hành động.

GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

21



Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho công ty TNHH

Hoàng Bảo Tường

Tất cả mọi người đều tham gia: những người trực tiếp giám sát, vận hành cần

được tham gia tích cực ngay từ khi bắt đầu đánh giá SXSH. Cơng nhân vận hành là

những người đóng góp nhiều vào việc xác định và thực hiện các giải pháp SXSH.

Tiếp cận có tổ chức:để đánh giá SXSH thành cơng, khơng thể tiến hành độc lập,

mà phải có sự đóng góp ý kiến của các thành viên trong nhóm SXSH.

1.1.4 Phương pháp luận đánh giá sản xuất sạch hơn

Đánh giá SXSH là các hoạt động được tiến hành nhằm xác định các khả năng có

thể mang lại hiệu quả cho cơ sở sản xuất, được thực hiện bởi bản thân doanh nghiệp

hoặc do cơ quan tư vấn hỗ trợ. Việc đánh giá SXSH thường tập trung vào trả lời các

câu hỏi:

- Các chất thải và phát thải ở đâu sinh ra?

- Các chất thải và phát thải phát sinh do nguyên nhân nào?

- Giảm thiểu và loại bỏ các chất thải và phát thải trong doanh nghiệp như thế nào?

Đánh giá sản xuất sạch hơn là một tiếp cận có hệ thống để kiểm tra quá trình sản

xuất hiện tại và xác định các cơ hội cải thiện quá trình hoặc sản phẩm.

Đánh giá SXSH được thực hiện theo 6 bước được thể hiện qua hình sau:

Quá trình đánh giá SXSH được chia

thành sáu bước là:

1 Khởi động.

2 Phân tích các công đoạn sản xuất.

3 Phát triển các cơ hội SXSH.

4 Lựa chọn các giải pháp SXSH.

5 Thực hiện các giải pháp SXSH.

6 Duy trì SXSH.

Hình 1. 2: Các bước thực hiện sản xuất sạch hơn

Sáu bước này phân ra thành 18 nhiệm vụ, cụ thể như sau:



GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

22



Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho công ty TNHH

Hồng Bảo Tường



Hình 1. 3: Các nhiệm vụ trong thực hiện sản xuất sạch hơn

1.1.5 Phân loại các giải pháp

Các giải pháp để đạt được SXSH bao gồm 8 nhóm giải pháp sau:

- Thay đổi nguyên vật liệu: Là việc thay thế các nguyên liệu đang sử dụng bằng các

nguyên liệu khác thân thiện với môi trường hơn. Thay đổi ngun liệu còn có thể là

việc mua ngun liệu có chất lượng tốt hơn để đạt được hiệu suất sử dụng cao hơn.

- Quản lý nội vi: là một loại giải pháp đơn giản nhất của sản xuất sạch hơn. Quản lý

nội vi thường khơng đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể được thực hiện ngay sau khi

xác định được cácgiải pháp SXSH. Quản lý nội vi chủ yếu là cải tiến thao tác công

GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

23



Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho cơng ty TNHH

Hồng Bảo Tường

việc, giám sát vận hành, bảo trì thích hợp, cải tiến công tác kiểm kê nguyên vật liệu

và sản phẩm.

Mặc dù quản lý nội vi là đơn giản nhưng vẫn cần có sự quan tâm của ban lãnh đạo

cũng như việc đào tạo nhân viên.

- Kiểm sốt q trình: Để đảm bảo các điều kiện sản xuất được tối ưu hoá về mặt

tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất và phát sinh chất thải, các thơng số của q trình sản

xuất như nhiệt độ, thời gian, áp suất, pH, tốc độ... cần được giám sát, duy trì và hiệu

chỉnh càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt, làm cho q trình sản xuất đạt được

hiệu quả cao nhất, có năng suất tốt nhất.

Cũng như quản lý nội vi, việc kiểm sốt q trình tốt hơn đòi hỏi các quan tâm của

ban lãnh đạo cũng như việc giám sát ngày một hoàn chỉnh hơn.

- Cải tiến thiết bị:Lắp đặt thêm các thiết bị để đạt được hiệu quả cao hơn về nhiều

mặt.

- Thay đổi công nghệ :Chuyển đổi sang một cơng nghệ mới và hiệu quả hơn có thể

làm giảm tiêu thụ tài nguyên và giảm thiểu lượng chất thải và nước thải. Thiết bị

mới thường đắt tiền, nhưng có thể thu hồi vốn rất nhanh.

Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp sản xuất sạch khác, do

đó cần phải dược nghiên cứu cẩn thận. Mặc dù vậy, tiềm năng tiết kiệm nguyên liệu

và cải thiện chất lượng sản phẩm có thể cao hơn so với các giải pháp khác.

- Tuần hoàn và tái sử dụng ngay tại công ty: Tận dụng chất thải để tiếp tục sử

dụng cho quá trình sản xuất hay sử dụng cho một mục đích khác.

-Sản xuất các sản phẩm phụ hữu ích: Chất thải có chứa vật liệu giá trị có thể

làm ra sản phẩm khác hoặc bán như là nguyên liệu cho quá trình s ản xu ất

khác

- Thay đổi sản phẩm: Thay đổi thiết kế sản phẩm có thể cải thiện q trình sản xuất

và làm giảm nhu cầu sử dụng các nguyên liệu độc hại.

1.1.6 Lợi ích và khó khăn khi áp dụng sản xuất sạch hơn

1.1.6.1 Lợi ích

Nói một cách tổng qt, SXSH vừa là công cụ quản lý, công cụ kinh tế, công cụ bảo

vệ môi trường và là công cụ nâng cao chất lượng sản phẩm. SXSH giúp:

- Tiết kiệm tài chính và cải thiện hiệu quả sản xuất do tiết kiệm chi phí do việc sử

dụng nước, năng lượng, nguyên liệu hiệu quả hơn, chi phí xử lý cuối đường ống, chi

phí loại bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải.

GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

24



Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho cơng ty TNHH

Hồng Bảo Tường

- Nâng cao hiệu suất hoạt động của nhà máy.

- Nâng cao mức ổn định sản xuất và chất lượng sản phẩm.

- Giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các biện pháp thu hồi và tái sử

dụng chất thải.

- Tái sử dụng bán thành phẩm có giá trị.

- Cải thiện mơi trường làm việc có liên quan đến sức khoẻ và an tồn lao động cho

công nhân.

- Giảm ô nhiễm.

- Tạo nên 1 hình ảnh tốt hơn về doanh nghiệp, nâng cao tính linh hoạt và khả năng

cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Chấp hành tốt hơn các qui định về môi trường, giúp các ngành công nghiệp xuất

khẩu đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế về mơi trường.

- Tiếp cận tài chính dễ dàng hơn.

- Nâng cao hiểu biết về quá trình sản xuất, các chi phí, các vấn đề về mơi trường

trong nội bộ doanh nghiệp và nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của công

nhân thông qua sự tham gia trực tiếp của họ vào quá trình thực hiện SXSH.

1.1.6.2 Khó khăn

Mặc dù SXSH có nhiều ưu điểm, song cho đến nay SXSH vẫn chưa được áp

dụng một cách triệt để trong các hoạt động công nhiệp cũng như dịch vụ. Nguyên

do có thể là:

- Thói quen trong cách ứng xử trong giới cơng nghiệp đã được hình thành hàng

trăm năm nay.

- Năng lực để thực hiện SXSH trong các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

- Các rào cản về tài chính.

- Thiếu chính sách và các cam kết, hỗ trợ của chính phủ.

Ở Việt Nam, mặc dù đã xây dựng được một nguồn lực đánh giá và thực hiện

SXSH cho các doanh nghiệp, tuy nhiên do đặc thù của một tiếp cận mang tính chất

tự nguyện, SXSH vẫn chưa phổ biến rộng rãi với các doanh nghiệp. Bài học rút ra

từ các doanh nghiệp đã tham gia thực hiện SXSH trong thời gian vừa qua cho thấy:



GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

25



Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho công ty TNHH

Hồng Bảo Tường

- Chưa có sự quan tâm đúng mức về SXSH trong chiến lược và chính sách phát

triển công nghiệp, thương mại và công nghệ môi trường.

- Các cấp lãnh đạo các nhà máy chưa có nhận thức đầy đủ về SXSH và ngại thay

đổi.

- Thiếu các chuyên gia về SXSH ở các ngành cũng như các thông tin kỹ thuật. Đồng

thời cũng thiếu cả các phương tiện kỹ thuật để đánh giá hiệu quả của SXSH.

- Thiếu các nguồn tài chính và cơ chế tài trợ thích hợp cho đầu tư theo hướng

SXSH.

- Chưa có động lực của thị trường trong nước thúc đẩy các nhà công nghiệp do vậy

đánh giá SXSH chưa thành nhu cầu thực sự.

- Chưa có thể chế và tổ chức thúc đẩy SXSH đi vào thực tiễn hoạt động cơng

nghiệp.

Bên cạnh đó, khảo sát của Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam về thực tế đầu tư

triển khai cho các giải pháp SXSH năm 2003 đã rút ra được một số bài học đối với

việc duy trì SXSH tại các doanh nghiệp đã thực hiện tiếp cận này, đó là:

- Phần lớn các giải pháp SXSH được thực hiện (thường là giải pháp có chi phí thấp)

dùng tiền nội bộ, khơng muốn vay của ngân hàng để đầu tư cho giải pháp có chi phí

lớn vì lải suất cao, thời hạn cho vay ngắn và thủ tục cho vay còn rườm rà, phức tạp.

- Hầu hết các đơn vị trình diễn SXSH trong các dự án khác nhau đều chỉ phân tích

lợi ích kinh tế một lần mà khơng tính tốn liên tục để theo dõi lợi ích của các năm

tiếp theo.

- Phân tích lợi ích ở đây mới chỉ về mặt tài chính thuần túy của cơng ty mà chưa

tính đến lợi ích kinh tế mở rộng thơng qua giảm chi phí xã hội, tăng phúc lợi xã hội

nhờ cải thiện mơi trường làm việc và chất lượng mơi trường nói chung.

- Lợi ích về mặt kinh tế của các giải pháp chưa tính đến lợi ích do giảm chi phí xử

lý chất thải và chi phí xử lý chất thải chưa được tính vào giá thành sản xuất.

- Có rất nhiều giải pháp SXSH làm giảm nước tiêu thụ nhưng lợi ích kinh tế của các

giải pháp này chưa được xác định rõ ràng do hầu hết các doanh nghiệp tự khai thác

nước ngầm và chưa tính đủ giá cho loại nguyên liệu đặc biệt này.



GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

26



Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho cơng ty TNHH

Hồng Bảo Tường

- Các doanh nghiệp ln muốn có sự hỗ trợ tài chính để thực hiện các giải pháp

SXSH,song họ khơng muốn vay tiền của ngân hàng.

- Một số các công ty liên doanh hay các công ty ở qui mô lớn có thể sử dụng vốn tự

có để đầu tư cho các giải pháp SXSH, thậm chí cả các giải pháp có chi phí cao.

- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khơng có khả năng đầu tư cho các giải pháp chi phí

trung bình và cao, phải vay ngân hàng.

- Tiềm năng thực hiện SXSH ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn do hầu hết

các cơ sở này sử dụng thiết bị và công nghệ lạc hậu, mở rộng nhiều lần nên thiết bị

không đồng bộ, chắp vá, bố trí mặt bằng khơng hợp lý và quản lý lỏng lẻo, chồng

chéo.

1.1.7 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.7.1 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn trên thế giới

Từ những năm 1985 – 1990, sản xuất sạch hơn được áp dụng mạnh mẽ ở các

nước phát triển như: Đan Mạch, Mỹ, Canada, Thụy Điển,…

Đến tháng 9/1990, UNEP chính thức phát động chương trình sản xuất sạch hơn

tại hội nghị Canterbury Liên hiệp Anh. Từ năm 1993, sản xuất sạch hơn đã áp dụng

ở các nước Đông Âu như: Ba Lan, Tiệp Khắc cũ, một số quốc gia ở Châu Á như:

Ấn Độ, Trung Quốc đã mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và hiệu quả về mặt môi

trường.

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 25 trung tâm sản xuất sạch hơn quốc gia đặt

tại các khu vực trên thế giới như: Châu Á – Thái Bình Dương, Châu Âu, Bắc Mỹ,

Nam Trung Mỹ và Châu Phi. Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có 4 nước có

trung tâm sản xuất sạch hơn là Trung Quốc, Srilanka, Ấn Độ và Việt Nam.

Ngoài việc thành lập các trung tâm sản xuất sạch hơn quốc gia, nhiều tạp chí, báo ra

đời nhằm cung cấp thông tin hỗ trợ sản xuất sạch hơn. Các quốc gia có nhiều

chương trình hỗ trợ sản xuất sạch hơn nhất là: Mỹ, Đức, Na Uy, Thụy Sĩ và Đan

Mạch.

1.7.1.2 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn tại Việt Nam

SXSH được biết đến hơn 10 năm nay( năm 1998), dưới sự hỗ trợ của UNIDO và

UNEF Trung tâm sản xuất sạch quốc gia tại Việt Nam đã được thành lập. Nhận thức

được tầm quan trọng của vấn đề này, ngày 22/9/1999, Bộ trưởng Bộ KHCN & MT



GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

27



Nghiên cứu, đề xuất giải pháp sản xuất sạch hơn áp dụng cho cơng ty TNHH

Hồng Bảo Tường

đã kí vào tuyên ngôn quốc tế về SXSH, thể hiện cam kết của Chính Phủ trong việc

phát triển đất nước theo hướng bền vững.

Để khuyến khích sản xuất sạch hơn, ngày 7/9/2009, Thủ tướng chính phủ đã có

quyết định số 1419/QĐ –TTg phê duyệt “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công

nghiệp đến năm 2020”. Quyết định đã nêu ra chỉ tiêu, lộ trình cụ thể và những dự án

mà các Bộ, ngành địa phương cần làm để thúc đẩy các doanh nghiệp áp dụng sản

xuất sạch hơn. Đến năm 2020, mục tiêu chiến lược là đưa 90 % cơ sở sản xuất cơng

nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụng sản xuất sạch hơn. Đồng thời 50%

cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ áp dụng sản xuất sạch hơn và những cơ sở áp dụng sẽ

tiết kiệm từ 8 đến 13 % năng lượng tiêu thụ, nguyên nhiên vật liệu /đơn vị sản

phẩm. Ngoài ra 90% doanh nghiệp vừa và lớn sẽ có bộ phận chuyên trách sản xuất

sạch hơn.

1.2 Tổng quan về hạt điều và ngành sản xuất hạt điều

Cây điều có nguồn gốc từ vùng Đơng Bắc Brazil. Đến giữa những năm 1500,

được du nhập vào Ấn Độ và Mozambique của châu Phi. Sau đó cây điều đã được

lan truyền dọc theo bờ biển phía Đơng như: Kenya và Tanzania rồi đến các nước

thuộc bờ biển phía Tây của lục địa như: Senegal, Nigeria rồi đến các nước thuộc

khu vực Đông Nam Á.

Cây điều sinh trưởng và phát triển tốt ở những quốc gia thuộc khu vực cận xích

đạo, nơi có nhiệt độ và độ ẩm cao.

1.2.1 Tổng quan về ngành sản xuất hạt điều trên thế giới

- Có khoảng 32 quốc gia trồng điều trên Thế giới, tổng diện tích điều năm

2011/2012 là 3,75 triệu ha đạt sản lượng 2,31 triệu tấn, năng suất trung bình 0,84

tấn/ha .

- Theo dự báo Hiệp hội trái cây khô Quốc tế (INC) tổng sản lượng điều nhân toàn

thế giới năm 2011/12 là 491,4 ngàn tấn.

- Theo dự báo của Liên minh châu Phi (ACA) thì tổng số lượng nhân điều thế giới

khoảng 650 ngàn tấn. (Agroinfor.2012).

GVHD: TS. Nguyễn Vinh Quy



SVTH: Phan Thị Phương Lan

28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỒNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×