Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

― động từ là trung tâm của mệnh đề. Một động từ có thể nói đến một hoạt động

và phải có một số người tham gia có vai trò trong hoạt động đó; hoặc một

trạng thái mà người tham gia trải qua [108, 6-7].



10



Ngoài những nghiên cứu về động từ nói chung, một số nghiên cứu đi sâu

vào nhóm động từ chuyển động cũng đã được thực hiện. Động từ chuyển động

được hiểu một cách đơn giản là động từ biểu thị hành động đưa chủ thể hành

động từ một địa điểm này đến địa điểm khác trong không gian, ví dụ như go

(đi), run (chạy), jump (nhảy), swim (bơi), ... . Động từ chuyển động cũng đã được

các nhà ngơn ngữ học nước ngồi, nhất là phương Tây, nghiên cứu từ rất lâu.

Trong các học giả nghiên cứu về động từ chuyển động theo hướng truyền

thống trước hết phải kể đến Ju.X. Xtepanov (1977) trong cơng trình Những cơ sở

của ngơn ngữ học đại cương. Ơng đã phân tích ngữ nghĩa của một số động từ

chuyển động trong tiếng Nga khi bàn về các nhóm từ phản nghĩa - đồng nghĩa;

những khái niệm về thế đối lập, đặc trưng khu biệt, kết cấu và hệ thống [90,92-95]

và về tam giác ngữ nghĩa; khái niệm về cái biểu đạt [90, 97-98]. Ông đã chỉ ra ngữ

nghĩa của các động từ này như sau: идти (idti) [Đi]- di chuyển được (trên mặt đất;

khơng có phương tiện giúp đỡ);

bằng chân.

ехать (ekhat‟)[Đi] - di chuyển được (trên mặt đất; có các phương tiện giúp

đỡ); bằng xe.

лететь (letet') [Bay] - di chuyển được (không phải trên mặt đất; có các

phương tiện giúp đỡ); trên không trung hoặc trong vũ trụ.

плыть (plưt‟) [Bơi]- di chuyển được (khơng phải trên mặt đất; khơng có các

phương tiện giúp đỡ); trên mặt nước hoặc trong nước [90, 97].

Miller & Johnson-Laird (1987) cho rằng động từ chuyển động là ―những

động từ được miêu tả, được học đầu tiên, được sử dụng thường xuyên nhất

và được quan niệm là nổi trội nhất”. Nói chung, các động từ chuyển động cả

nội động từ và ngoại động từ điển hình chỉ diễn tả một trong ba thực thể ngữ

nghĩa, đường đi, phương thức chuyển động, hoặc cách thức chuyển động và

xu hướng phân tích các động từ chuyển động là tách riêng các động từ

chuyển động có hướng với các động từ chuyển động không hướng/ đa hướng

[129,527].

Theo Levin & Rappaport Hovav (1992), các động từ chuyển động có thể được

mơ tả chính xác hơn bằng cách xác định thành tố nghĩa nào được từ vựng hóa

trong bản thân động từ thay vì xác định vai trò đề ngữ (theme) theo giả thuyết Bất

11



đổi cách. Van Valin (1997) cho rằng ―đối với các động từ chuyển động, chúng ta cần

nêu chuyển động và sự thay đổi vị trí theo thời gian‖. Động từ chuyển động tiếng Anh

có xu hướng kết hợp chặt chẽ với một số thành phần hoặc nét đặc trưng ngữ nghĩa

cụ thể nhất



12



định như là phương thức chuyển động trong các động từ như run (chạy), swim (bơi),

fly (bay ), gây khiến chuyển động như blow (thổi), pull (kéo), kick (đá), hay hướng

chuyển động như enter (vào), exit (ra), lên (ascend), descend (xuống) [152, 109].

Beth Levin (1993) có cơng trình nghiên cứu chuyên sâu về động từ chuyển

động trong tiếng Anh là ―Các lớp động từ trong tiếng Anh và sự chuyển đổi:

Nghiên cứu sơ bộ” (English Verb Classes and Alternations: A preliminary

investigation). Sự phân loại động từ chuyển động tiếng Anh của tác giả đã được

nhiều nhà nghiên cứu đi sau tiếp thu. Các nghiên cứu của tác giả về động từ

chuyển động được định hướng bởi lý thuyết nghĩa của động từ chịu sự ảnh hưởng

của hình thái cú pháp.

Kudrnáčová ( 2005) khi nghiên cứu về động từ chuyển động đã cho rằng đặc

tính ngữ nghĩa của động từ chuyển động tiếng Anh là phức tạp và thể hiện một

số cấp độ cấu tạo khác nhau. Động từ chuyển động cũng đã được mô tả là những

hoạt động tiến triển về không gian và/ hoặc tiến triển về thời gian. Kudrnáčová đã

phân biệt giữa chuyển động thuần túy ―pure motion‖ và chuyển động như một

hoạt động

― motion as an activity‖ [121, 23].

Trong số các nhà nghiên cứu động từ nói chung và động từ chuyển động nói

riêng theo hướng tri nhận phải kể đến Talmy (1985, 1991, 2000) và Slobin (2004).

Talmy đã có những cơng trình nghiên cứu về sự chuyển động dựa vào mối quan hệ

giữa các yếu tố ngữ nghĩa gắn với sự kiện chuyển động như mục đích chuyển động,

thực thể chuyển động, thực thể quy chiếu, hướng hay quỹ đạo chuyển động,

cách thức và/hoặc nguyên nhân chuyển động, v.v. Ông cũng nêu rõ có ba hệ thống

động từ chuyển động có sự hòa nhập. Đó là: động từ hòa nhập có hướng

chuyển động (path-conflating verbs), động từ hòa nhập biểu thị cách thức chuyển

động (manner- conflating verbs) và động từ hòa nhập thực thể chuyển động

(figure-conflating verbs). Đây cũng là ba kiểu hình của động từ chính được tìm

thấy ở nhiều ngơn ngữ. Talmy (2000) đã phân biệt hai loại ngôn ngữ là ngôn ngữ

định khung phụ từ (satellite-framed) và ngôn ngữ định khung động từ (verbframed languages) theo cách mà các yếu tố của ngữ cảnh chuyển động khác

nhau được sắp đặt theo yếu tố ngôn ngữ. Tiếng Anh được coi là loại ngơn ngữ

định khung phụ từ (satellite- framed) vì đa số các động từ chuyển động có

13



thành phần cốt lõi của sự chuyển động nhưng hướng hoặc quỹ đạo chuyển

động lại được thể hiện trong các từ (thường là giới từ) đi kèm như up, down…

hoặc trong các cụm giới từ như into/out of (vào trong, ra ngồi), còn các động từ

thì tự do thể hiện cách thức chuyển động.



14



Slobin (2004) cho rằng cách thức của chuyển động dễ dàng được mã hóa

bao nhiêu thì lượng thơng tin được đưa ra càng phong phú bấy nhiêu. Theo ông,

cách thức của chuyển động dễ dàng được mã hóa hơn khi nó được thể hiện

bằng (1) một động từ xác định thay vì một động từ khơng xác định, (2) một từ

đơn thay vì một cụm từ hoặc một mệnh đề, (3) một đơn vị từ có tần số xuất

hiện cao thay vì một đơn vị từ có tần số xuất hiện thấp [138].

1.1.2. Tình hình nghiên cứu động từ và động từ chuyển động ở Việt Nam

Cũng như các nghiên cứu về động từ nói chung và động từ chuyển động

nói riêng trên thế giới, các cơng trình nghiên cứu từ loại động từ nói chung,

động từ chuyển động ở Việt Nam nói riêng được tiếp cận theo hai hướng: nghiên

cứu theo ngữ pháp truyền thống (cấu trúc) coi động từ là một phạm trù từ loại và

nghiên cứu theo hướng ngơn ngữ học tri nhận. Các cơng trình nghiên cứu về

động từ của Nguyễn Kim Thản (1962, 1977), Nguyễn Tài Cẩn (1975), Đái Xuân

Ninh (1978), các tác giả Ngữ pháp tiếng Việt (Ủy ban Khoa học xã hội, 1983),

Đinh Văn Đức (1986), Lê Biên (1999), Diệp Quang Ban (2003, 2004), v.v. đều

nghiên cứu đặc điểm ngữ pháp của động từ theo hướng cấu trúc luận. Trong

những năm 90 của thế kỷ XX, do ảnh hưởng của ngôn ngữ học tri nhận trên thế

giới, một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam cũng có ảnh hưởng của

hướng nghiên cứu tri nhận học thể hiện trong một số nghiên cứu của Nguyễn Lai

(1990), Lý Toàn Thắng (2015) và Hoàng Tuyết Minh (2014, 2015).

Mặc dù động từ và động từ chuyển động ít nhiều được các tác giả nêu trên đề

cập đến trong cơng trình nghiên cứu của mình, tuy nhiên từ trước đến nay có rất ít

nghiên cứu chun sâu về động từ và động từ chuyển động. Nguyễn Kim Thản

(1977) với chuyên luận ―Động từ trong tiếng Việt” là người đầu tiên có cơng trình

nghiên cứu chun sâu về động từ trong tiếng Việt. Các tác giả như Đái Xuân Ninh

(1978), Đinh Văn Đức (2010), Diệp Quang Ban (2003, 2004), Nguyễn Tài Cẩn (2004)

có nghiên cứu về động từ, nhưng không phải là chuyên luận về động từ mà động từ

chỉ là một từ loại đặt trong hệ thống từ loại của tiếng Việt. Nguyễn Thị Quy (1995) đã

nghiên cứu vị từ trong đó có động từ chuyển động theo hướng ngữ pháp chức năng

với cơng trình ―Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó‖ đã chia vị từ

hành động thành năm nhóm, trong đó động từ chuyển động bao gồm động từ

chuyển động đa hướng được xếp vào nhóm 1(-Tác động; - Mục tiêu; một diễn tố)

15



[64, 89].



16



Trong bài "Một cách lí giải mối quan hệ ngữ nghĩa giữa động từ chuyển động

có định hướng và từ chỉ hướng trong tiếng Việt" [51, 48 - 52], Hà Quang Năng đã

phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các động từ chuyển động có định hướng trong

tiếng Việt (ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về , lại, đến, tới), chỉ ra bốn nét nghĩa cần

yếu, bắt buộc ln có trong cấu trúc nghĩa khái qt của các động từ này: [(hoạt

động) (vận động di chuyển) (hướng trong không gian) (điểm đến)] [51, 49]. Tác giả

cũng chỉ rõ, các động từ này, trong cấu trúc nghĩa của mình, khơng chứa nét nghĩa

biểu thị cách thức của hoạt động di chuyển mà chỉ có nét nghĩa chỉ hướng hoạt

động. Ngược lại, các động từ chuyển động kiểu: đi, chạy, bò, nhảy, trèo, bước,...thì

nét nghĩa cách thức chuyển động ln ln có mặt trong cấu trúc nghĩa của mình,

nhưng lại hồn tồn khơng hàm chứa nét nghĩa biểu thị hướng chuyển động [51,

51]. Như vậy, sự khác nhau chủ yếu về nghĩa giữa động từ chuyển động có định

hướng với các động từ chuyển động biểu thị những dạng chuyển động cụ thể khác

trong tiếng Việt là do sự có mặt hai nét nghĩa "cách thức chuyển động" và "môi

trường của hoạt động" ở động từ như đi, chạy, bay và hai nét nghĩa "hướng

chuyển động trong không gian" và "đích, điểm đến của hoạt động" ở các động từ

chuyển động có định hướng như ra, vào, về quy định.

Trong cơng trình ―Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt‖ [1990],

Nguyễn Lai đã mơ tả và phân tích chi tiết nhóm từ chỉ hướng chuyển động trong

tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận. Gọi là nhóm động từ từ đa

phương/ đa hướng, ơng đã chia động từ chuyển động thành hai nhóm là động từ vận

động không / đa hướng như chạy, nhảy, bay, bò, leo, v.v. và động từ vận động có

hướng (tự thân mang hướng) như ra, vào, lên, xuống, sang, qua, lại, tới,... Trong đó

ơng đã chú trọng nhiều hơn đến nhóm thứ hai do các đặc trưng ngữ nghĩa và cú

pháp đặc biệt của chúng.

Nguyễn Văn Hiệp (2013 ), trong ―Sự phát triển ngữ nghĩa của các từ RA, VÀO

trong tiếng Việt từ góc độ nghiệm thân‖ đã nghiên cứu sự phát triển nghĩa của hai

từ này theo hướng của ngơn ngữ học tri nhận. Theo đó, trên cơ sở phân tích con

đường phát triển nghĩa của các từ này, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự

phát triển nghĩa của chúng. [32]

Gần đây, Hoàng Tuyết Minh (2014; 2015) với hai nghiên cứu về động từ

chuyển động theo hướng tri nhận: ―Nghiên cứu động từ thể hiện sự tình

17



chuyển động tiếng Việt dưới góc nhìn của ngơn ngữ học tri nhận (có đối chiếu

với tiếng Anh), [47] và ―Thành tố nghĩa và phạm trù nghĩa của động từ

chuyển động có hướng trong tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)” [48]. Trong các

nghiên cứu này,



18



động từ chuyển động tiếng Việt nói chung và động từ chuyển động có hướng

nói riêng đã được nghiên cứu dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận và

được đối chiếu với tiếng Anh để tìm ra những tương đồng và khác biệt giữa hai

ngôn ngữ. Đây cũng là những nghiên cứu chuyên sâu về động từ chuyển động

trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngơn ngữ học tri nhận.

Ngồi những cơng trình đã nêu trên, còn có một số bài viết về động từ

chuyển động trong các tạp chí như "Phân tích đối chiếu một số động từ chuyển động

đa nghĩa Pháp - Việt và đánh giá khả năng nhận hiểu từ đa nghĩa của sinh viên" [31,

16 - 23]; ; "Kiểu hình của động từ chuyển động tiếng Việt có sự liên hệ với tiếng Anh"

[82]; "Luận giải sự phát triển nghĩa của động từ “chạy” theo hướng tri nhận" [15, 45 57].

Mặc dù đã có những nghiên cứu về động từ chuyển động tiếng Anh và tiếng

Việt, song cho đến nay vẫn chưa có cơng trình nào nghiên cứu đối chiếu có hệ

thống và chuyên sâu về nhóm động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh

và tiếng Việt. Vì vậy, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi tập trung đối chiếu

nhóm động chuyển động đa hướng chỉ động tác vận động bao gồm 10 động từ

run, go, walk, jump, creep, climp, step, dive, swim, fly trong tiếng Anh và 10 động

từ chạy, đi, nhảy, bò, leo, trèo, bước, lặn, bơi, bay trong tiếng Việt trên phương

diện ngữ pháp và ngữ nghĩa để tìm ra những tương đồng và khác biệt của nhóm

động từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt.

1.2.Cơ sở lí luận

1.2.1. Phạm trù từ loại động từ

1.2.1.1. Động từ tiếng Anh

a. Khái niệm động từ tiếng Anh

Theo từ điển tiếng Anh (Oxford Advanced learner‘s Dictionary): Động từ là

một từ hoặc một nhóm từ diễn tả một hành động (eat), một sự kiện/ sự

việc (happen) hoặc một trạng thái (exist). [131, 1735]. Trong Ngữ pháp tiếng

Anh Longman (Longman English Grammar), động từ cũng được định nghĩa ― là

một từ (run) hoặc một cụm từ (run out of) diễn tả sự tồn tại của một trạng thái

(love, seem) hay việc thực hiện một hành động (take, play)‖[94, 159]. Delahunty

(1994) đã đưa ra định nghĩa chi tiết hơn về động từ ―động từ là những từ chỉ

hành động (kiss, run, walk), sự tiến triển (grow, change), trải nghiệm (know), hay

19



trạng thái. Chức năng ngữ nghĩa của động từ là miêu tả một chuyển động, một

hành động, sự việc hay



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×