Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vận động Hướng Đích

Vận động Hướng Đích

Tải bản đầy đủ - 0trang

tồn tại yếu tố hướng. Ví dụ như trong cụm từ "đi lớp‖, người nghe vẫn nhận thức

được nghĩa của nó vẫn giống như ― đi đến lớp‖. Ở đây từ chỉ hướng ―đến‖ đã

được ẩn đi. Nhưng cần phân



98



biệt với các trường hợp đặc ngữ như: đi biển, đi tu, đi rừng, đi khách, thì các

từ đứng sau động từ biểu thị đích của hoạt động hay địa điểm của hoạt động.

Trong hoạt động ngôn ngữ, các ĐTCĐĐH tiếng Việt có thể kết hợp với nhiều

đơn vị từ vựng khác nhau tạo nên nhiều cụm động từ có giá trị định danh khác

nhau. Ví dụ:

Chạy: chạy loạn, chạy bữa, chạy chot, chạy chợ, chạy dai sức, chạy điện,

chạy đôn chạy đáo, chạy hậu, chạy đua, chạy như cờ lông công, chạy vạy, chạy việt

dã, chạy bán sống bán chết, chạy cong đuôi, chạy hộc tốc dốc gan, chạy như vịt,

chạy vắt chân lên cổ, chạy thầy, chạy như ma đuổi v.v.

Đi: đi bách bộ, đi bước nữa, đi cầu, đi đại tiện, đi đem, đi cổng sau, đi đất, đi

đêm lắm có ngày gặp ma, đi đêm về hơm, đi đạo, đi đằng đầu, đi đôi, đi đồng,

đi đời nhà ma, đi đứng, đi đứt, đi đông đi tây, đi rẫy, đi guốc trong bụng, đi hai

lần đò, đi tây, đi tiểu, đi cầu, đi tong, đi tơ, đi tu, đi tua, đi hai hàng, đi hội v.v.

Bò: bò lê bò càng, bò lê bò la, bò lê kéo càng, v.v.

Nhảy: nhảy bổ, nhảy cà tưng, nhảy cao, nhảy xa, nhảy cẫng, nhảy cầu, nhảy

cóc, nhãy cỡn, nhảy dây, nhảy dù, nhảy lò cò, nhảy múa, nhảy đầm, nhảy

nhót, nhảy ổ, nhảy rào, nhảy tót nhảy vọt, nhảy xổ, v.v.

Trong số các ĐTCĐĐH tiếng Việt được chọn khảo sát thì chạy, đi là những

động từ điển hình nhất trong nhóm vì chúng có số lượng nghĩa nhiều nhất (chạy:

12 nghĩa, đi: 18 nghĩa) và chúng có khả năng kết hợp rất đa dạng và phong phú.

Vì vậy, khả năng tạo tổ hợp của 2 động từ này sẽ được miêu tả, phân tích chi tiết

hơn.

 Khả năng kết hợp của động từ “chạy”

Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, ―chạy‖ là một từ đơn thuộc vốn từ cơ

bản. Về ý nghĩa, chạy là một động từ đa nghĩa. Vì vậy, chạy có khả năng kết hợp

rất đa dạng để tạo thành các cụm từ chính phụ: chạy án, chạy ăn, chạy bàn, chạy

chợ, chạy dai sức, chạy điện, chạy đôn chạy đáo, chạy đua, chạy đua vũ trang, chạy

gằn, chạy hậu, chạy hiệu, chạy làng, chạy mánh, chạy sô, chạy tàu, chạy tội, chạy việt

dã.

Theo kết quả khảo sát, có 86 cụm từ có ―chạy‖ đã được thống kê (xem phụ

lục II.1), trong đó, ―chạy‖ đứng trước (chạy + X) chiếm đa số là 80 đơn vị, ―chạy‖

đứng sau (X + chạy) là 6 đơn vị (cưới chạy, bán chạy, trốn chạy, bỏ chạy, thua chạy,

52



tháo chạy). Trong các trường hợp này ―chạy‖ đã chuyển loại thành tính từ khơng

phải là động từ. Còn lại, ―chạy‖ ln là động từ đóng vai trò từ tố chính X. Các kết

hợp tiêu biểu của động từ chạy được thể hiện cụ thể như sau:



53



+ Kết hợp với các từ tình thái biểu thị sự ngăn cấm, khuyên bảo như nên, cần,

bị, được, phải...Ví dụ:

- Sau những phút ghê tởm đáng kinh hoàng ấy, sau khi ma quỷ đã phải

chạy xa, để cho thiên thần đến thắng trận trong người như thế, Mịch không phải là

không hối hận. [Giông tố, 356]

+ Kết hợp với danh từ tạo thành một cụm từ chỉ nghĩa mới như: chạy

tang, chạy mả, chạy làng, chạy chợ, chạy máy, chạy chức , chạy việc, chạy án v.v. Ví

dụ:

- Hay dân chạy chợ?[Phố, 75]

+ Kết hợp với tính từ tạo thành những cụm từ như chạy nhanh, chạy

chậm, chạy nhiều, chạy mãi v.v.Ví dụ:

- Qua tỉnh lỵ, Quảng Yên chừng hai mươi cây số, xe bắt đầu chạy chậm, và cứ

thẳng tiến trên con đường thuộc địa đi Tiên n [Giơng tố, 438]

Sở dĩ chạy có khả năng kết hợp vừa đa dạng lại vừa phong phú về số lượng

các cụm từ có “chạy‖ đứng trước (―chạy‖ + X) nhiều hơn cụm từ có ―chạy‖ đứng

sau (X + ―chạy‖) bởi vì ―chạy” là động từ chỉ hành động chính của con người, tần

số xuất hiện cao, tính độc lập mạnh mẽ (các nội động từ), có nhiều ý nghĩa khác

nhau nên thường phải đứng trước để làm thành tố trung tâm.

 Khả năng kết hợp của động từ “đi”

Là một từ đơn thuộc vốn từ cơ bản của tiếng Việt, đi là động từ có rất nhiều

nghĩa và có khả năng kết hợp rất đa dạng với các đơn vị từ vựng khác. Ngoài khả

năng là một từ đơn độc lập, đi vẫn có thể kết hợp với những từ khác để tạo thành

một cụm từ mà không cần kết hợp với các thành tố phụ trước hay phụ sau. Thông

thường, trong một cụm từ tự do mà đi đóng vai trò thành tố trung tâm, sẽ có thêm

thành tố phụ trước (ví dụ: đã đi, chưa đi,…), thành tố phụ sau (ví dụ: đi rồi, đi liên

tục,…) hoặc cả thành tố phụ trước lẫn thành tố phụ sau (ví dụ: chưa đi học, đã đi

rồi, phải đi giày,…).

Trong số 144 cụm từ có ―đi‖ đã thống kê được (gồm 142 từ ghép chính phụ/

tổ hợp và 2 từ ghép đẳng lập) thì hầu hết đi là thành tố chính trừ 2 trường hợp

là từ ghép đẳng lập là đi đứng, đi lại thì đi khơng phải là thành tố chính (xem

phụ lục II.2.1). Trong các trường hợp đi là thành tố phụ như dọn đi, bỏ đi, giấu đi,

cất đi, ra đi … thì đi khơng phải là động từ chuyển động nên không phải là đối

53



tượng nghiên cứu của luận án.

Từ kết quả thống kê, khảo sát có thể thấy, các cụm từ chính phụ có đi và chạy

đóng vai trò thành tố chính có số lượng lớn, áp đảo so với các cụm từ chính phụ mà

đi



54



và chạy là thành tố phụ. Nguyên nhân của hiện tượng này là do đi và chạy là

những động từ đa nghĩa, có tính độc lập cao, khả năng kết hợp rất đa dạng, nên

thường đóng vai trò là thành tố trung tâm, chi phối các thành tố còn lại trong cụm

từ.

2.2.2.2. Đặc điểm cú pháp của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Việt

Về ý nghĩa khái quát, ĐTCĐĐH mang ý nghĩa hoạt động di chuyển, dời chỗ,

nhưng không chứa nét nghĩa hướng hoạt động, di chuyển. Bản thân ý nghĩa

đặc trưng của động từ chuyển động đa hướng sẽ chi phối những hoạt động cú

pháp.

a. Động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Việt có thể đảm nhiệm chức năng

vị ngữ trong câu. Ví dụ:

- Ơng đồ nhảy trên mặt đất, như giẫm phải đống kiến lửa [Giơng tố, 171]

- Đến giờ phút chót cuối cùng, Loan chạy vào thông báo [Phố, 350]

- Sau cùng Tú Anh bước xuống thang, sau khi bảo con sen cũng xuống theo [Giông

tố, 332]

- Em đi Sầm Sơn về [Giông tố, 396]

ĐTCĐĐH tiếng Việt có thể là nội động từ hoặc ngoại động từ, nghĩa là chúng

có thể dùng độc lập hoặc kết hợp với các thành phần khác. Theo Nguyễn Lai

(1990), khi đi vào hoạt động, ĐTCĐĐH có thể dùng độc lập như một nội động từ

không nhất thiết phải có các thành phần khác. Ví dụ: Chim bay. Ngựa chạy, em bé

bò. Nhóm động từ này khơng mang hướng, phản ánh hoạt động năng động có

ý thức của con người. Đã là hoạt động di chuyển thì đương nhiên có quan hệ gắn

bó với phạm vi khơng gian và phạm vi thời gian. Trong ý nghĩa không gian, cái

quan trọng nhất là ý nghĩa định vị và ý nghĩa phương hướng. Ý nghĩa của

ĐTCĐĐH không chứa đựng nét nghĩa hướng, nên sau động từ bắt buộc phải có

thành tố phụ chỉ hướng và chỉ nơi chốn (bổ ngữ chỉ địa điểm). Khi cần chỉ đích,

hướng chuyển động, các động từ này phải kết hợp đích khơng gian. Ví dụ: Chim

bay về tổ. Em bé bò vào nhà. Nó chạy ra sân (trong các ví dụ này, các từ chỉ

hướng như về, vào, ra bắt buộc phải có khơng thể bỏ đi). Bổ ngữ chỉ địa điểm,

nơi chốn có quan hệ rất chặt chẽ khi sử dụng các động từ này.

Từ những quan điểm đã trình bày ở trên, có thể nhận thấy rằng, các động

từ chuyển động đa hướng là những động từ biểu thị hoạt động di chuyển

55



khơng có hướng, mà tự thân chỉ hàm nghĩa di chuyển và cách thức di chuyển.

Trong hoạt động ngôn ngữ, chúng thường phải có từ chỉ hướng đi kèm (từ chỉ

hướng kết hợp với từ chỉ nơi chốn thành bổ ngữ chỉ nơi chốn như các ví dụ nêu

trên).



56



b, ĐTCĐĐH trong tiếng Việt có thể kết hợp với các thành phần khác tạo thành cụm

động từ và cụm động từ này đảm nhiệm chức năng làm trạng ngữ trong câu. Ví dụ:

- Đi làm về đến cửa, nghe được câu ấy, chị muốn chui tụt xuống đất, vậy mà ông

chồng còn ngốc miệng ra cười [Phố, 22].

- Đi được nửa đường, trời bỗng đổ mưa to [Phố, 36]

- Khi đi qua điểm đối diện với hàng nước, anh vơ tình nghe được thêm câu nói

của chị hàng [Phố, 53]

Trong các ví dụ nêu trên, các cụm từ có động từ đi làm trung tâm (đi làm về

đến cửa, đi được nửa đường, khi đi qua điểm đối diện với hàng nước) đều làm

chức năng trạng ngữ trong câu.

c, ĐTCĐĐH trong tiếng Việt có thể đảm nhiệm chức năng làm chủ ngữ. Ví dụ:

- Đi là đúng, vì ở lại sẽ hỏng việc.

- Đi bộ cũng là một thứ rèn luyện thể lực [Phố, 16]

2.2.2.3. Ý nghĩa ngữ pháp của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Việt

Khác với tiếng Anh là ngơn ngữ biến hình, tiếng Việt là ngơn ngữ đơn lập.

Các đặc điểm ngữ pháp không được thể hiện bằng các phương tiện hình thái

học như thời, thể, dạng, thức như tiếng Anh mà chúng dược thể hiện qua các

phương tiện từ vựng như hư từ (đã, đang, sẽ, rồi,….) và trật tự từ. Đối với các

động từ tiếng Việt nói chung và động từ chuyển động đa hướng nói riêng, ý

nghĩa về thời, thể dạng, thức, … được thể hiện bằng các phương tiện từ vựng (hư

từ) và trật tự từ.

Ví dụ : Ơng chủ đi đâu rồi? [Giông tố, 265] (rồi : chỉ hành động ở q khứ)

Còn cơ, cơ sẽ đi lấy chồng ngay sau đó và màn cái điều thầm kín kia cùng

với cơ xuống mồ [Phố, 168] ( sẽ: chỉ hành động ở tương lai)

2.2.3 Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp của động từ chuyển động đa hướng

trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.2.3.1. Những điểm giống nhau

+ Trong cả hai ngôn ngữ Anh và Việt, ĐTCĐĐH đều có thể kết hợp với từ chỉ

tình thái ngăn cấm, khun bảo và còn có thể kết hợp với các danh từ. Ngồi ra

chúng còn có thể kết hợp với các từ chỉ hướng để thể hiện rõ hướng và đích

chuyển động chẳng hạn như trong tiếng Anh chúng kết hợp với các giới từ chỉ

hướng như out of/ into/up/down v.v. hay trong tiếng Việt chúng kết hợp với các

57



từ chỉ hướng như ra/vào/lên/xuống v.v



58



+ Thuộc một trong các phạm trù từ loại cơ bản của các ngơn ngữ, ĐTCĐĐH

tiếng Anh và tiếng Việt đều có thể đảm nhiệm nhiều chức năng cú pháp khác

nhau trong câu (làm vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, chủ ngữ,...). Trong các chức năng cú

pháp đó, vị ngữ là chức năng chủ yếu của ĐTCĐĐH ở cả hai ngôn ngữ.

2.2.3.2. Những điểm khác nhau

Do sự khác biệt về loại hình giữa tiếng Anh và tiếng Việt nên về phương diện

hình thái học, từ trong hai ngơn ngữ này có nhiều điểm khác biệt rõ rệt.

+ Tiếng Anh thuộc loại hình ngơn ngữ hòa kết (ngơn ngữ khuất chiết, ngơn ngữ

biến hình, ngơn ngữ chuyển dạng), trong hoạt động ngơn ngữ, từ có biến đổi hình

thái, nên ý nghĩa ngữ pháp của từ, quan hệ ngữ pháp của từ nói chung, của

ĐTCĐĐH nói riêng, được thể hiện ngay trong bản thân từ. Trái lại, tiếng Việt thuộc

loại hình ngơn ngữ đơn lập (ngơn ngữ phi hình thái, ngơn ngữ khơng biến hình,

ngơn ngữ đơn tiết), trong hoạt động ngơn ngữ, từ khơng biến đổi hình thái mà chỉ

có một hình thái duy nhất. Vì vậy, các ý nghĩa ngữ pháp của từ, quan hệ ngữ pháp

của từ nói chung, của các ĐTCĐĐH nói riêng, được biểu thị ở ngồi từ, chủ yếu bằng

các từ công cụ (hư từ) và trật tự từ. Hãy so sánh câu tiếng Anh : He went to school

với câu tiếng Việt: Nó đã đi đến trường học. Để biểu thị thời gian đã xảy ra của hoạt

động di chuyển go trong tiếng Anh, động từ này bắt buộc phải biến đổi hình thái từ

go thành went; trong khi động từ đi tiếng Việt vẫn giữ nguyên hình thái nhưng lại

phải có hư từ đã đi kèm trước động từ để biểu thị thời gian hành động đi đã xảy ra.

+ Là một từ loại thực từ cơ bản, thời, thể, ngôi, dạng, thức là những phạm

trù ngữ pháp của động từ nói chung, ĐTCĐĐH trong tiếng Anh nói riêng. Trái

lại, động từ tiếng Việt - một ngơn ngữ đơn lập, nói chung, ĐTCĐĐH nói riêng,

khơng có các phạm trù về thời, thể, ngôi, dạng, thức như động từ tiếng Anh vì

khơng có các hình thức ngữ pháp tương ứng thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp này.

Các ý nghĩa ngữ pháp của động từ được diễn đạt bằng một danh sách các từ

phụ chia thành nhiều nhóm (như đã miêu tả về khả năng kết hợp của ĐTCĐĐH

tiếng Việt ở mục 2.2.2.1). Ý nghĩa ngữ pháp của ĐTCĐĐH tiếng Việt được thể hiện

rõ qua cách sử dụng của các từ phụ này.

+ Cũng do sự khác biệt về loại hình, trong hoạt động ngơn ngữ, động từ

trong tiếng Anh nói chung, ĐTCĐĐH nói riêng, có khả năng kết hợp với tiểu từ tạo

nên cái gọi là động từ cụm với nghĩa riêng biệt. Đây là một đặc điểm riêng biệt của

59



động từ tiếng Anh, trong đó bao gồm cả nhóm động từ chuyển động đa hướng.

Ví dụ:



60



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vận động Hướng Đích

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×