Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chuyển nghĩa từ vựng theo phương thức hoán dụ

Chuyển nghĩa từ vựng theo phương thức hoán dụ

Tải bản đầy đủ - 0trang

[11,145] và ―hoán dụ là sự chuyển biến từ ý nghĩa biểu vật này sang ý nghĩa biểu

vật khác‖ và ―là những sự kiện của ngôn ngữ‖ [11,146].



68



Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: ―Hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi từ sự vật

hiện tượng này sang sự vật hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ logic giữa các sự

vật hoặc hiện tượng ấy‖ [20, 84]. Ông cũng nêu lên sự cần thiết phải phân biệt ẩn dụ

và hoán dụ tu từ học với ẩn dụ và hoán dụ từ vựng học: ―ẩn dụ và hốn dụ tu từ

học khơng tạo ra nghĩa mới của các từ mà chỉ là những trường hợp sử dụng có hình

ảnh giúp cho tác giả diễn đạt chính xác các sắc thái khác nhau của tư tưởng và tình

cảm‖, [20,167]

Theo phạm vi rộng, ẩn dụ và hoán dụ được hiểu là các tư duy và sáng

tạo ngôn ngữ và trong phạm vi hẹp chúng được xem như là các phương thức

sáng tạo và sử dụng từ ngữ của ngơn ngữ trong đó có phân biệt ẩn dụ, hoán

dụ trong từ vựng-ngữ nghĩa học và trong tu từ học. Luận án chỉ khai thác ẩn dụ

và hoán dụ với tư cách là các phương thức chuyển nghĩa của các đơn vị từ

vựng, cụ thể là sự chuyển nghĩa từ vựng của các động từ chuyển động đa

hướng, là đối tượng nghiên cứu của luận án. Hay nói một cách cụ thể là luận án

chỉ đi sâu phân tích, xác định ẩn dụ và hốn dụ như là các phương thức tạo nghĩa

phái sinh (nghĩa bóng) trong hệ thống con nghĩa của nhóm động từ chuyển

động đa hướng chỉ động tác chuyển động của người và động vật.

1.2.4. Trường từ vựng - ngữ nghĩa

1.2.4.1. Khái niệm về trường từ vựng - ngữ nghĩa

a, Quan niệm về trường từ vựng - ngữ nghĩa của các tác giả nước ngồi

Khái niệm trường và lí thuyết trường ngữ nghĩa thực sự được nghiên cứu

từ những năm 20 của thế kỉ XX, bắt nguồn từ những lí thuyết ngơn ngữ học của

W. Humboldt và F. de Saussure. J. Trier (1934) là nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra

thuật ngữ“trường” trong ngơn ngữ học. Ơng khơng dùng khái niệm trường ngữ

nghĩa mà chỉ nói tới trường khái niệm và trường từ vựng. Trường khái niệm là

một hệ thống rộng gồm những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại

xung quanh một khái niệm trung tâm. Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên

trên một trường khái niệm. Quan điểm của J. Trier về trường là những gợi ý ban

đầu cho việc nghiên cứu ngơn ngữ nói chung và trường từ vựng nói riêng. Với

những nghiên cứu của mình,

J. Trier đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học. Sau ông, một số

69



nhà nghiên cứu khác như Weisgerber, J. Lyons… cũng đã có những quan niệm bổ

sung cho lí thuyết trường.

b, Quan niệm về trường từ vựng - ngữ nghĩa của các tác giả trong nước



70



Ở Việt Nam, lí thuyết trường nghĩa được tiếp nhận từ những năm 70 của

thế kỉ XX và nhanh chóng nhận được sự quan tâm chú chú của một số nhà nghiên

cứu như: Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Việt Hùng, Bùi

Minh Toán, Lê Quang Thiêm, … . Đỗ Hữu Châu đã tiếp thu các quan điểm của các

nhà ngôn ngữ trên thế giới về trường để hình thành nên quan niệm về lí thuyết

trường từ vựng:“Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là

tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [7, 171]. Các tác giả của cuốn

―Từ điển giải thích thuật ngữ ngơn ngữ học‖ cho rằng trường từ vựng hay

chính xác là xêri từ vựng, dãy từ vựng trong đó các từ có quan hệ với nhau: “một

loạt các từ được liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa còn gọi là xêri

từ vựng, dãy từ vựng” [92, 327]. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nói trên đều

dựa trên cơ sở quan điểm của các nhà ngơn ngữ học nước ngồi đi trước và căn

cứ vào thực tế tiếng Việt để đưa ra cách nhìn của mình về trường nghĩa.

1.2.4.2. Các loại trường từ vựng - ngữ nghĩa

Dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là của tác giả Đỗ Hữu

Châu - người có cơng đầu trong việc nghiên cứu, giới thiệu lí thuyết về trường nghĩa,

chúng tơi xác định có các loại trường nghĩa sau: trường nghĩa trực tuyến, trường

nghĩa tuyến tính và trường liên tưởng.

-



Trường nghĩa trực tuyến (trường nghĩa dọc, trường đối vị): trường nghĩa

dọc được chia thành trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm

+ Trường nghĩa biểu vật: Theo Đỗ Hữu Châu, ―mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa



được coi là một trường nghĩa. Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về

ngữ nghĩa‖. Theo đó, ―trường biểu vật là những tập hợp từ đồng nghĩa về ý

nghĩa biểu vật. Muốn đưa các nghĩa biểu vật của từ về trường thích hợp chúng

ta phải chọn các danh từ làm gốc. Các danh từ này phải có tính khái qt cao,

gần như tên gọi của các phạm trù biểu vật, như người, động vật, thực vật, vật

thể, chất liệu‖ [7, 172].

+ Trường nghĩa biểu niệm: trường nghĩa biểu niệm chính là tập hợp các từ có

chung một cấu trúc biểu niệm. Từ có nhiều nghĩa biểu niệm. Vì vậy, một từ có thể

đi vào nhiều trường nghĩa biểu niệm khác nhau. Cũng giống như trường nghĩa biểu

71



vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau và cũng có lõi trung tâm với

các từ điển hình và những từ ở lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi.

- Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang, trường kết hợp)

Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp từ có thể kết hợp với một từ gốc để tạo

ra các chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngơn ngữ. Để lập nên

các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ

có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận

được trong ngôn ngữ.

- Trường liên tưởng (trường tổng hợp)

Trường liên tưởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa từ trường tâm

lí được một từ gợi ra. Ch.Bally là người đầu tiên đưa ra khái niệm trường liên

tưởng. Theo ơng mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng. Các từ

trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng từ các ý nghĩa

có thể của từ trung tâm.Trước hết đó phải là các từ cùng nằm trong trường biểu

vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc

đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm.

Nghiên cứu trường nghĩa góp một phần quan trọng vào việc phân chia

các lớp từ vựng cũng như vạch ra mối quan hệ bản chất giữa các nhóm từ trong

một lớp, giữa các từ trong một nhóm. Lí thuyết trường nghĩa còn giúp chúng ta

nhìn nhận một cách hệ thống về q trình phát triển nghĩa của từ vựng của một

ngơn ngữ.

1.2.5. Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ

1.2.5.1. Khái niệm về ngôn ngữ học đối chiếu

Ngôn ngữ học hiện đại bao gồm nhiều phân ngành với nhiều cách phân chia

khác nhau. Bùi Mạnh Hùng (2008) trong Ngôn ngữ học đối chiếu [33, 8-9], cho

rằng một trong những cách phân chia phổ biến nhất là chia ngành khoa học này

thành ba phân ngành lớn: ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học miêu tả và ngôn

ngữ học so sánh.

Căn cứ vào đối tượng, mục đích và cách thức so sánh, ngôn ngữ học so

sánh lại được chia thành ba phân ngành: ngôn ngữ học so sánh lịch sử, ngơn ngữ

học so sánh loại hình hay loại hình học và ngôn ngữ học đối chiếu.

72



Trong ba phân ngành, ngôn ngữ học đối chiếu là phân ngành ngôn ngữ học có

nhiệm vụ nghiên cứu so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ bất kỳ để xác

định những điểm giống nhau và khác nhau giữa các ngơn ngữ đó dựa trên

quan điểm



73



đồng đại, khơng tính đến vấn đề các ngơn ngữ được so sánh liệu có quan hệ

cội nguồn hay thuộc cùng một loại cội nguồn hay không.

Việc so sánh nói chung thường được thực hiện khi các sự vật hay hiện tượng

được lấy làm đối tượng so sánh nằm trong cùng một phạm trù, nghĩa là thuộc cùng

một loại. Chẳng hạn, ta có thể so sánh hai cái ghế với nhau vì chúng thuộc cùng một

loại sự vật. Vì vậy, chúng có những điểm chung để so sánh, ví dụ: kích thước, màu

sắc, chất liệu, hình dáng v.v. Loại so sánh này nhằm mục đích tìm ra những điểm

giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hay hiện tượng. Kiểu so sánh này mang

tính khách quan nên được dùng làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo trong ngơn

ngữ học đối chiếu nói riêng, cũng như trong ngơn ngữ học so sánh nói chung.

Tuy nhiên, người ta cũng có thể so sánh các sự vật hay hiện tượng nhằm mục

đích chứng minh hay làm nổi rõ một đặc điểm nào đó của sự vật hay hiện tượng.

Trong trường hợp này, các sự vật hay hiện tượng được đem ra so sánh có thể thuộc

về những loại, những phạm trù khác nhau. Loại so sánh này chủ yếu chú ý đến điểm

tương đồng giữa các đối tượng so sánh mà ít chú ý đến sự khác biệt giữa chúng. Ví

dụ: F. de Saussure đã so sánh cơ chế ngơn ngữ với bàn cờ.

Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ bắt đầu từ thời kỳ Phục hưng và được tìm

thấy trong các sách ngữ pháp ở Tây Âu. Đến thế kỷ XIX, các nghiên cứu so sánh đối

chiếu đáng chú ý thuộc các nhà nghiên cứu như Ch.H. Grandgen (1892), Wilhelm

(1894).

Có hai kiểu đối chiếu bao gồm đối chiếu định tính và đối chiếu định lượng:

– Đối chiếu định tính: Là kiểu đối chiếu nhằm tìm ra những đặc điểm (những

điểm giống nhau và khác nhau) giữa các yếu tố ngôn ngữ tương đương của hai ngôn

ngữ.

– Đối chiếu định lượng: Là kiểu đối chiếu nhằm xác định những khác biệt về số

lượng các yếu tố ngôn ngữ xét theo một tiêu chí đối chiếu nào đó. Ví dụ: Đối chiếu số

lượng các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh. Kiểu đối chiếu này giúp xác

định

những

―lỗ hổng‖

cấu trúc của ngôn ngữ này so với ngôn ngữ khác.

1.2.5.2.

Nguyên

tắc đốitrong

chiếu



74



– Khi đối chiếu, các yếu tố ngôn ngữ phải được miêu tả đầy đủ, chi tiết và

trên cơ sở các bản miêu tả đó để thực hiện việc đối chiếu.

– Dùng một phương pháp để mô tả các yếu tố của hai ngôn ngữ.

– Trong khi thực hiện đối chiếu phải chú ý đến loại hình của hai ngơn ngữ

được đối chiếu.

– Khi đối chiếu các yếu tố ngôn ngữ, không chỉ chú ý đến bản thân chúng mà

phải đặt chúng trong hệ thống. Không những xem xét các yếu tố ngôn ngữ trong hệ

thống khi đối chiếu mà còn phải xem xét chúng trong các hoạt động giao tiếp.



75



Theo các nguyên tắc đối chiếu trên, việc đối chiếu được thực hiện theo các

bước như sau:

– Bước 1: Miêu tả hoặc tìm bản miêu tả ngơn ngữ thích hợp nhất với mục đích

đối chiếu.

– Bước 2: Xác định các yếu tố tương đương.

– Bước 3: Thực hiện công việc đối chiếu có nghĩa là tìm ra những điểm tương

đồng và khác biệt của những cái tương đương trong hai ngôn ngữ.

1.2.5.3. Các lĩnh vực đối chiếu

Việc nghiên cứu đối chiếu các ngơn ngữ có thể thực hiện ở tất cả các bình

diện: ngữ âm, từ vưng, ngữ pháp (hình thái học và cú pháp); ở tất cả các đơn

vị thuộc các cấp độ khác nhau của cấu trúc ngôn ngữ: âm vị, hình vị, từ và các đơn

vị của lời nói: ngữ đoạn và câu. Bùi Mạnh Hùng (2008) trong ― Ngơn ngữ học

đối chiếu ― cho rằng: bình diện nào, cấp độ nào của hệ thống ngôn ngữ và của lời

nói có thể miêu tả thì cũng có thể nghiên cứu đối chiếu [33, 178].

Với sự xuất hiện của phân ngành ngữ dụng học trong ngôn ngữ học hiện

đại gần đây, Ngôn ngữ học đối chiếu mở ra một hướng nghiên cứu mới, đó là

ngữ dụng học đối chiếu. Sự xuất hiện hướng nghiên cứu mới này đã làm thay đổi

quan niệm phân tích đối chiếu chỉ dựa trên quan điểm tĩnh về ngơn ngữ. Ngồi ra,

một số nhà ngơn ngữ học còn chú ý đến cả phân tích đối chiếu bình diện phong

cách, cấu trúc văn bản, diễn ngơn, văn hóa, ngơn ngữ học xã hội và cả ngơn ngữ

học tâm lí.

1.2.6. Mối quan hệ giữa ngơn ngữ và văn hóa

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

người sáng tạo và tích lũy qua q trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác

giữa con người và mơi trường tự nhiên và xã hội của mình. Mối quan hệ giữa ngơn

ngữ và văn hóa là một vấn đề đã được đề cập khá sớm trong các nghiên cứu ngôn

ngữ học và nhân học/dân tộc học từ thế kỉ XIX.

Ngôn ngữ xuất hiện cùng với con người và gắn bó mật thiết với các cộng đồng

người trong suốt tiến trình phát triển. Các nhà kinh điển Mac xit đã xem ngôn

ngữ là ―công cụ của tư duy‖, là ―hiện thực trực tiếp của tư tưởng‖, là ―phương

tiện giao tiếp trọng yếu của con người‖. Nói rộng hơn, ngơn ngữ là công cụ, là

phương tiện liên kết con người trong xã hội, trong các lĩnh vực hoạt động của đời

sống xã hội, trong sản xuất, sáng tạo xây dựng cuộc sống ngày một tiến bộ và phát

triển. Nói về mối quan hệ ngơn ngữ, văn hóa và tư duy tộc người trong ngôn ngữ,

76



nhà khoa học người Đức Alexander von Humboldt nhận định: "Ngơn ngữ của một

dân tộc chính là linh hồn của dân tộc đó; linh hồn của một dân tộc chính là ngơn

ngữ của dân tộc



77



đó”. Lời tuyên bố này không chỉ đúng với tiếng Đức mà còn đúng với mọi ngơn

ngữ trên thế giới. Là sản phẩm của xã hội lồi người, sự hình thành và phát triển

của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của xã hội. Như vậy, ngôn ngữ là sự sáng

tạo kì diệu, lớn lao của con người; là tinh thần của dân tộc. Ngơn ngữ và văn hóa

có mối quan hệ mật thiết với nhau. Một số biểu hiện cụ thể:

- Thứ nhất, ngơn ngữ là sản phẩm văn hóa; đồng thời lại là công cụ,

phương tiện để ghi lại, phản ánh văn hóa;

- Thứ hai, ngơn ngữ là một bộ phận của văn hóa nên mọi thuộc tính của

văn hóa đều ẩn chứa trong ngơn ngữ.

Kế thừa quan điểm của các tác giả đi trước, E. Sapir và B. L Whorf (1956) đưa

ra quan điểm về tính tương đối của ngôn ngữ: "Như vậy, chúng ta sẽ được làm

quen với một nguyên lí mới về tính tương đối. Nguyên lí này cho rằng tất cả những

người quan sát khi có cùng một chứng cứ vật lí khơng bị dẫn dắt tới cùng một

bức tranh về thế giới hiện thức khi tri thức của họ về ngôn ngữ là giống nhau"

[137, 56]. Tác giả E. Sapir cho rằng: ngôn ngữ không chỉ đơn giản là một bản liệt kê

các hệ thống các yếu tố của kinh nghiệm thuộc riêng từng cá nhân mà còn là

một hệ thống tín hiệu có khả năng sáng tạo và tự khép kín. Hệ thống này chỉ

tương ứng với các kinh nghiệm nhờ vào kết cấu hình thức của nó và do chỗ chúng

ta chuyển các đặc điểm của nó sang các lĩnh vực kinh nghiệm một cách không tự

giác. Thế giới hiện thực, ở trong những chừng mực nhất định được xây dựng dựa

trên các cơ sở ngơn ngữ của cộng đồng đó một cách không tự giác. Dựa vào các

chuẩn mực ngôn ngữ của dân tộc mình đã được ước định hóa, mỗi cá nhân

nghe, nhìn, thấy, cảm thấy và suy tư hiện tượng này hay hiện tượng khác. Ngôn

ngữ không tồn tại ngồi văn hóa [137].

Nói cách khác, quan điểm của giả thuyết Sapir - Whorf là, hình thức ngơn ngữ

quyết định cái nhìn về vũ trụ của người sử dụng ngơn ngữ đó. Ngơn ngữ miêu tả

thế giới như thế nào thì chúng ta quan sát thế giới như thế ấy. Các ngôn ngữ

trên thế giới khác nhau phản ánh cái nhìn về thế giới của các dân tộc cũng khác

nhau. Cũng theo giả thuyết này, mối quan hệ giữa tư duy, ngơn ngữ và văn hóa

khơng có mối liên hệ tất yếu nào giữa ngôn ngữ và dân tộc. Mối quan hệ giữa

ngơn ngữ và văn hóa là bình đẳng: ngơn ngữ là hình thức; văn hóa là nội dung.

Khơng có trường hợp hai ngơn ngữ hồn tồn giống nhau đại diện cho hai hiện

thực xã hội khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới.

78



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chuyển nghĩa từ vựng theo phương thức hoán dụ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×